So sánh kết quả thụ tinh trong ống nghiệm hiến nhận noãn giữa 2 nhóm kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận và phác đồ dài

Mục tiêu: 1) So sánh kết quả kích thích buồng trứng người hiến noãn

giữa hai phác đồ đối vận và phác đồ dài và 2) So sánh kết quả thụ tinh

trong ống nghiệm giữa hai nhóm phác đồ.

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi cứu mô tả 200 trường hợp

hiến nhận noãn gồm 76 trường hợp KTBT bằng phác đồ dài và 124

trường hợp KTBT bằng phác đồ đối vận.

Kết quả và bàn luận: nghiên cứu cho thấy đặc điểm đối tượng nghiên

cứu hai nhóm tương đồng nhau, số noãn trung bình nhóm phác đồ dài là

13,68 ± 6,5 và nhóm phác đồ đối vận là 14,32 ± 7,5, khác biệt không có ý

nghĩa thống kê với p > 0,05. Tỷ lệ thụ tinh nhóm phác đồ dài là 95,11% và

nhóm phác đồ đối vận là 96,50%. Số phôi trung bình nhóm phác đồ dài

là 9,24 ± 4,9 noãn và nhóm phác đồ đối vận là 9,81± 5,6 noãn. Số phôi

chuyển trung bình nhóm phác đồ dài là 3,14± 0,7 và nhóm phác đồ đối

vận là 3,09 ± 0,6. Tỷ lệ có thai nhóm phác đồ dài 63,2% và nhóm phác

đồ đối vận là 50,0%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Kết luận: kết quả kích thích buồng trứng người hiến noãn bằng phác

đồ đối vận và phác đồ dài tương đương nhau. Số phôi trung bình, tỷ lệ

thụ tinh và tỷ lệ có thai nhóm phác đồ đối vận tương đương nhóm phác

đồ dài. Kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận làm giảm gánh

nặng cho người hiến noãn hơn là bằng phác đồ dài

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "So sánh kết quả thụ tinh trong ống nghiệm hiến nhận noãn giữa 2 nhóm kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận và phác đồ dài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh kết quả thụ tinh trong ống nghiệm hiến nhận noãn giữa 2 nhóm kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận và phác đồ dài

So sánh kết quả thụ tinh trong ống nghiệm hiến nhận noãn giữa 2 nhóm kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận và phác đồ dài
HỒ SỸ HÙNG, NGUYỄN VIẾT NAM
166
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Hồ Sỹ Hùng, Nguyễn Viết Nam
Trường Đại học Y Hà Nội
SO SÁNH KẾT QUẢ THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM 
HIẾN NHẬN NOÃN
GIỮA 2 NHÓM KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG
BẰNG PHÁC ĐỒ ĐỐI VẬN VÀ PHÁC ĐỒ DÀI
Tóm tắt
Mục tiêu: 1) So sánh kết quả kích thích buồng trứng người hiến noãn 
giữa hai phác đồ đối vận và phác đồ dài và 2) So sánh kết quả thụ tinh 
trong ống nghiệm giữa hai nhóm phác đồ. 
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi cứu mô tả 200 trường hợp 
hiến nhận noãn gồm 76 trường hợp KTBT bằng phác đồ dài và 124 
trường hợp KTBT bằng phác đồ đối vận. 
Kết quả và bàn luận: nghiên cứu cho thấy đặc điểm đối tượng nghiên 
cứu hai nhóm tương đồng nhau, số noãn trung bình nhóm phác đồ dài là 
13,68 ± 6,5 và nhóm phác đồ đối vận là 14,32 ± 7,5, khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê với p > 0,05. Tỷ lệ thụ tinh nhóm phác đồ dài là 95,11% và 
nhóm phác đồ đối vận là 96,50%. Số phôi trung bình nhóm phác đồ dài 
là 9,24 ± 4,9 noãn và nhóm phác đồ đối vận là 9,81± 5,6 noãn. Số phôi 
chuyển trung bình nhóm phác đồ dài là 3,14± 0,7 và nhóm phác đồ đối 
vận là 3,09 ± 0,6. Tỷ lệ có thai nhóm phác đồ dài 63,2% và nhóm phác 
đồ đối vận là 50,0%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. 
Kết luận: kết quả kích thích buồng trứng người hiến noãn bằng phác 
đồ đối vận và phác đồ dài tương đương nhau. Số phôi trung bình, tỷ lệ 
thụ tinh và tỷ lệ có thai nhóm phác đồ đối vận tương đương nhóm phác 
đồ dài. Kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận làm giảm gánh 
nặng cho người hiến noãn hơn là bằng phác đồ dài.
Từ khóa: ivf, hiến noãn, phác đồ đối vận, phác đồ dài.
Abstract 
COMPARITION RESULTS OF IN VITRO 
FERTILIZATION OF OOCYTE DONATION 
BETWEEN LONG AND ANTAGONIST OVARIAN 
HYPERSTIMULATION GROUPS
Objectives: 1) compare the results of ovarian stimulation of oocyte 
donors between long and antagonist protocol and 2) Compare the 
results of in vitro fertilization between the two groups. 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hồ Sỹ Hùng,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): xx/xx/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
xx/xx/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): xx/xx/2016
Từ khoá: ivf, hiến noãn, phác 
đồ đối vận, phác đồ dài. 
Keywords: invitro fertilization, 
oocyte donner, antagonist 
protocol, long protocol.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
+ Đáp ứng kém với kích thích của buồng trứng.
+ Thất bại > 3 chu kỳ thụ tinh trong ống 
nghiệm (TTTON).
Người hiến noãn: tuổi 18 – 35, có ít nhất 1 con 
khoẻ mạnh, con bé nhất là 12 tháng tuổi và ngoài 
thời kỳ cho con bú, dự trữ buồng trứng bình thường, 
không có khối u buồng trứng.
2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
TTTON nhận noãn và nhận tinh trùng, chu kỳ 
chuyển phôi nhận noãn trữ lạnh, chu kỳ hiến – 
nhận noãn đông phôi toàn bộ.
2.3. Phương pháp nhiên cứu: Nghiên 
cứu so sánh hồi cứu.
Cỡ mẫu
Lựa chọn toàn bộ bệnh nhân IVF hiến - nhận noãn 
trong thời gian từ tháng 9/2012 đến tháng 4/2015 
thu đượng 76 trường hợp KTBT bằng phác đồ dài và 
124 trường hợp KTBT bằng phác đồ đối vận.
Các biến số nghiên cứu
Đặc điểm người hiến noãn: tuổi, nồng độ hormon 
FSH, LH, E2, AMH và số nang thứ cấp (AFC)
Đặc điểm người nhận noãn: tuổi, loại vô sinh, 
nồng độ hormon (FSH, LH, E2, AMH) và số nang 
thứ cấp, niêm mạc tử cung ngày tiêm hCG, tổng 
liều FSH, số ngày sử dụng FSH, số ngày điều trị, 
nồng độ E2 ngày tiêm hCG, số noãn chọc hút được
Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm: tỷ lệ thụ tinh, 
số phôi được trung bình, số phôi chuyển trung bình, 
chất lượng phôi, tỷ lệ thai lâm sàng, số phôi đông 
lạnh trung bình, tỷ lệ chu kỳ có phôi đông lạnh.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 166 - 170, 2016
167
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Hiếm muộn gặp khoảng 15–20% các cặp vợ 
chồng trong độ tuổi sinh sản. Một trong những 
nguyên nhân gây ra hiếm muộn là do suy buồng 
trứng. Điều trị các trường hợp này bằng phương 
pháp thụ tinh trong ống nghiệm hiến - nhận noãn. 
Trường hợp IVF hiến nhận noãn thành công đầu 
tiên trên thế giới vào năm 1983 tại trung tâm IVF 
Monash, Úc [1].
Nhiều phác đồ kích thích buồng trứng áp dụng 
đối người cho noãn trong đó 2 phác đồ sử dụng 
nhiều nhất là phác đồ dài và phác đồ đối vận. Ưu 
điểm của phác đồ dài là các nang noãn phát triển 
đồng đều, chất lượng noãn tốt nhưng thời gian điều 
trị dài, dùng nhiều thuốc nên gây phiền hà đến 
người cho noãn. Phác đồ đối vận với ưu điểm điều 
trị ngắn ngày nên phù hợp hơn đối người cho noãn. 
Tuy nhiên, hiệu quả của phác đồ này chưa được 
kiểm định. Mục tiêu nhằm 1) So sánh kết quả kích 
thích buồng trứng người hiến noãn giữa hai phác 
đồ đối vận và phác đồ dài và 2) So sánh kết quả 
thụ tinh trong ống nghiệm giữa hai nhóm phác đồ.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 
nghiên cứu
Người nhận noãn: tuổi 20 – 50, chỉ định xin 
noãn vì một trong các lý do:
+ Suy, giảm dự trữ buồng trứng.
Subjects and Methods: retrospective study of 200 cases of oocyte donation, which including 76 
cases of long protocol and 124 cases of antagonist protocol. 
Results and discussion: characteristics of subjects were similar betwween 2 groups, the average number 
of oocyte long protocol group was 13.68 ± 6.5 and antagonist group was 14.32 ± 7.5, the difference was 
not statistically significant with p > 0.05. Fertilization rate was 95.11% in long protocol was 96.50% in 
antagonist group. The average number of embryos was 9.24 ± 4.9 in long protocol group and was 9.81 
± 5.6 in antagonists protocol group. The average number of embryos transferred was 3.14 ± 0.7 in long 
protocol group and was 3.09 ± 0.6 in antagonists group. Pregnancy rate was 63.2% in long protocol group 
and was 50.0% in antagonist group. The difference was not statistically significant with p > 0.05. 
Conclusion: The results of ovarian hyperstimulation of donor in long and antagonists protocol groups 
were similar. The average number of embryos, fertilization rates and pregnancy rates were equivalent 
in both groups. Antagonists protocol reduced the burden on oocyte donors rather than long protocol.
Keywords: invitro fertilization, oocyte donner, antagonist protocol, long protocol.
Nhận xét:
Số noãn thụ tinh trung bình, tỷ lệ thụ tinh, số 
phôi trung bình, số phôi chuyển trung bình, số phôi 
chuyển trung bình khác biệt không có ý nghĩa thống 
kê với p>0,05. Số phôi đông lạnh trung bình, số 
phôi rất tốt khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 
Tỷ lệ thai lâm sàng (phác đồ dài là 62,7% phác đồ 
đối vận là 50,4%). Không có sự khác biệt về tỷ lệ có 
thai giữa 2 nhóm phác đồ với p > 0,05.
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm người hiến noãn
Tuổi trung bình người hiến noãn không khác 
nhau giữa hai nhóm. AMH tiên lượng dự trữ buồng 
trứng, ưu điểm của xét nghiệm AMH so với các xét 
nghiệm khác là có thể thực hiện vào bất kỳ thời 
điểm nào của chu kỳ kinh nên bệnh nhân không 
phải chờ đến đầu chu kỳ kinh, hơn nữa AMH có độ 
tin cậy cao hơn. Trong nghiên cứu này giá trị AMH 
nhóm phác đồ dài là 3,95 ± 2,1 ng/ml cao hơn có 
ý nghĩa thống kê nhóm phác đồ đối vận là 4,94 ± 
2,9 ng/ml. Lý do là những người có nguy cơ QKBT 
thường được lựa chọn sử dụng phác đồ đối vận với 
hy vọng giảm nguy cơ QKBT.
Nang thứ cấp là những nang có kích thước từ 
2-9mm vào ngày đầu chu kỳ kinh. Số nang thứ cấp 
là chỉ số phản ánh dự trữ buồng trứng. AFC ≤ 3 
nang dự báo đáp ứng kém, AFC ≥ 15 dự báo nguy 
cơ quá kích với kích thích buồng trứng. Nghiên cứu 
này giá trị AFC ở nhóm phác đồ dài là 10,85 ± 
4,4 nang, ở nhóm phác đồ đối vận là 11,69 ± 4,7 
nang. Kết quả này tương đương với nghiên cứu của 
Hồ Sỹ Hùng (2015) là 11,45 ± 3,8 nang [2]. Sự 
khác biệt về AFC giữa 2 nhóm phác đồ không có ý 
nghĩa thống kê với p > 0,05.
4.2. Đặc điểm người nhận noãn
Tuổi trung bình của người xin noãn trong 
nghiên cứu là 37,13 ± 7,8 năm ở nhóm phác đồ 
dài và 38,81 ± 7,0 năm ở nhóm phác đối vận. 
HỒ SỸ HÙNG, NGUYỄN VIẾT NAM
168
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Xử lý số liệu: số liệu được thu thập và xử lý trên 
chương trình SPSS 16.0 để tính các tỷ lệ, giá trị 
trung bình, so sánh các giá trị trung bình bằng T- 
test, các tỷ lệ bằng Test khi bình phương, P < 0,05 
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm của cặp hiến - nhận noãn
Nhận xét: tuổi trung bình, FSH trung bình, 
nồng độ AMH trung bình, nồng độ AMH, số nang 
thứ cấp trung bình. Không có sự khác biệt về các 
giá trị trung bình giữa 2 nhóm phác đồ nghiên 
cứu với p > 0,05.
Nhận xét: tuổi trung bình, nồng độ FSH trung 
bình, nồng độ AMH trung bình dưới ngưỡng 1,1 
ng/ml, số nang thứ cấp trung bình ở cả 2 nhóm 
phác đồ khác biệt không có ý nghĩa thống kê 
với p > 0,05.
3.2. Kết quả KTBT người hiến noãn
Nhận xét: số ngày điều trung bình phác đồ dài 
nhiều hơn số ngày điều trị nhóm phác đồ đối vận 
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Tổng liều FSH trung bình hai nhóm phác đồ 
không có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê 
với p > 0,05. Số noãn trung bình khác biệt không 
có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
3.3. Kết quả TTON hiến-nhận noãn
Phác đồ dài (n=76) Phác đồ đối vận (n= 124) p
Tuổi trung bình 29,59 ± 3,9 28,55 ± 3,9 0,067
FSH (UI/L) 5,80 ± 1,7 5,94 ± 1,6 0,556
AMH (ng/ml) 3,95 ± 2,1 4,94 ± 2,9 0,03
AFC 10,85 ± 4,4 11,69 ± 4,7 0,218
Bảng 1. Đặc điểm người hiến noãn
Phác đồ dài (n=76) Phác đồ đối vận (n= 124) p
Tuổi trung bình 37,13 ± 7,8 38,81 ± 7,0 0,114
FSH (UI/L) 34,06 ± 31,0 19,04 ± 20,0 0,001
AMH (ng/ml) 0,96 ± 1,0 1,77± 3,6 0,142
AFC 2,76 ± 3,5 3,33 ± 3,2 0,386
Bảng 2. Đặc điểm người nhận noãn
Phác đồ dài (n=76) Phác đồ đối vận (n= 124) p
Số ngày dùng FSH 9,78 ± 0,8 9,49 ± 1,0 0,023
Tổng liều FSH 2091,12 ± 499,1 1950,0 ± 510,1 0,066
Tổng ngày điều trị 24,40 ± 1,8 10,77 ± 0,9 0,00
Nồng độ E2 (pg/ml) 4118,84 ± 2552,9 3498,92 ± 2116,9 0,081
Số noãn TB 13,68 ± 6,5 14,32 ± 7,5 0,539
Số noãn tốt trung bình 5,57 ± 4,2 6,03 ± 4,6 0,472
Bảng 3. Kết quả kích thích buồng trứng
Phác đồ dài (n=76) Phác đồ đối vận (n= 124) p
Số noãn thụ tinh 9,66 ± 4,8 10,14 ± 5,6 0,538
Tỷ lệ thụ tinh(%) 95,11 ± 10,0 96,50 ± 10,2 0,346
Số Phôi TB 9,24 ± 4,9 9,81± 5,6 0,471
Số phôi chuyển TB 3,14± 0,7 3,09 ± 0,6 0,528
Số phôi đông TB 4,71 ± 4,2 5,32 ± 4,7 0,355
Có thai 48 (63,2%) 62 (50,0%) 0,069
Bảng 4. Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 166 - 170, 2016
169
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tương đương với các nghiên cứu của Vũ Minh 
Ngọc (2012) là 39,3 ± 6,71 năm [3], của Hồ Sỹ 
Hùng (2015) là 37,13 ± 7,4 năm [2], của Vương 
Thị Ngọc Lan (2003) là 40,0 ± 5,3 năm [4] và của 
Campos là 38,3 ± 0,17 năm [5]. Sự khác nhau về 
tuổi trung bình người hiến noãn giữa 2 nhóm phác 
đồ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
So sánh giá trị trung bình của FSH giữa 2 nhóm 
phác đồ thì thấy giá trị trung bình FSH nhóm phác 
đồ dài lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm phác 
đồ đối vận với p < 0,05. Giá trị FSH cao trên bệnh 
nhân suy buồng trứng ít ý nghĩa bằng xét nghiệm 
AMH và AFC. Nghiên cứu của chúng tôi tương tự 
nghiên cứu của Vũ Minh Ngọc (2012) nồng độ FSH 
trung bình là 26,5 ± 28,4 UI/l [6], của Hồ Sỹ Hùng 
(2009) là 22,19 ± 24,61 UI/l [7] và của Nguyễn Thị 
Thanh Dung (2011) là 22,7 ± 24,3 UI/l [8]
Nồng độ AMH trung bình ở nhóm phác đồ dài là 
0,96 ± 1,0 ng/ml, ở nhóm phác đồ đối vận là 1,77 
± 3,6 ng/ml. Giá trị nồng độ AMH trung bình ở cả 2 
nhóm phác đồ thấp so với ngưỡng 1,1ng/ml [9] và 
không có sự khác nhau về giá trị trung bình giữa 2 
nhóm phác đồ nghiên cứu với p > 0,05. AFC trung 
bình ở nghiên cứu là 2,76 ± 3,5 nang ở nhóm phác 
đồ dài và 3,33 ± 3,2 nang ở nhóm phác đồ đối vận. 
4.3. Kết quả KTBT người hiến noãn
Phác đồ dài gồm 2 giai đoạn là: giai đoạn ức 
chế tuyến yên bằng chất đồng vận và giai đoạn 
kích thích buồng trứng bằng FSH ngoại sinh. 
Nhược điểm của phác đồ dài là thời gian điều trị 
kéo dài và phải dùng nhiều FSH hơn.
Phác đồ đối vận là phác đồ sử dụng chất đối 
vận ức chế đỉnh LH, tránh hiện tượng hoàng thể 
hóa sớm. Chất đối vận bắt đầu dùng vào thời điểm 
LH nội sinh tăng, tương ứng từ ngày 5 – 6 dùng 
FSH hoặc ít nhất có 1 nang kích thước =14mm. 
Phác đồ đối vận thân thiện với bệnh nhân vì thời 
gian dùng thuốc ngắn nên được dùng khá nhiều 
đặc biệt trong các chu kỳ hiến noãn. Theo bảng 
3, kết quả nghiên cứu của chúng tôi số ngày dùng 
FSH là 9,78 ± 0,8 ngày ở nhóm phác đồ dài và 
9,49 ± 1,0 ngày ở nhóm phác đồ đối vận, tổng 
liều FSH là 2091,12 ± 499,1UI ở nhóm phác đồ 
dài và 1950,0 ± 510,1 UI ở nhóm phác đồ đối 
vận. So với nghiên cứu Hồ Sỹ Hùng (2015) tổng 
liều ở nhóm phác đồ dài là 2044,5 ± 560,2 UI, ở 
nhóm phác đồ đối vận là 1926,4 ± 638,3 UI [2] 
và của Nguyễn Thị Thanh Dung (2012) tổng liều 
FSH là 2322 ± 611,6 UI [8]. Số ngày dùng FSH ở 
nhóm phác đồ dài nhiều hơn so với nhóm phác đồ 
đối vận có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Số ngày điều trị ở nhóm phác đồ dài là 24,40 ± 
1,8 ngày, ở nhóm phác đồ đối vận là 10,77 ± 0,9 
ngày. Sự khác biệt về thời gian điều trị giữa nhóm 
phác đồ dài và nhóm phác đồ đối vận có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,05.
4.4. Đáp ứng buồng trứng 2 nhóm 
phác đồ
Nồng độ E2 ngày tiêm hCG là một yếu tố đánh 
giá đáp ứng buồng trứng và cũng là yếu tố tiên lượng 
độ trưởng thành noãn. Nồng độ E2 trung bình ngày 
tiêm hCG là 4118,84 ± 2552,9 pg/ml ở nhóm phác 
đồ dài và ở nhóm phác đồ đối vận là 3498.92 ± 
2116,9 pg/ml. So sánh giá trị trung bình E2 ngày 
tiêm hCG giữa 2 nhóm phác đồ thì sự khác nhau 
không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Kết quả 
nghiên cứu của Vũ Minh Ngọc (2007) ở nhóm phác 
đồ dài là 2551,1 ± 1464,9 pg/ml [10] và của Bordi 
D (2006) ở nhóm phác đồ đối vận là 2428 ± 1318 
[11]. Kết quả của chúng tôi cao hơn so với kết quả 
của Vũ Minh Ngọc có thể do đối tượng nghiên cứu 
được chọn có dự trữ buồng trứng tốt.
Số noãn trung bình ở nhóm phác đồ dài là 
13,68 ± 6,5 noãn, ở nhóm phác đồ đối vận là 
14,32 ± 7,5 noãn. Sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê với p > 0,05. 
Chất lượng noãn ảnh hưởng đến kết quả thụ 
tinh và tạo phôi từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai 
lâm sàng. Số noãn tốt nhóm phác đồ dài là 5,57 
± 4,2 và nhóm phác đồ đối vận là 6,03 ± 4,6, sự 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
4.5. Kết quả TTTON hiến – nhận noãn
Số noãn thụ tinh trung bình trong nghiên cứu 
chúng tôi là 9,66 ± 4,8 noãn ở nhóm phác đồ dài 
và 10,14 ± 5,6 noãn ở nhóm phác đối vận. Không 
có sự khác biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu với p >0,05.
Tỷ lệ thụ tinh là số phôi tạo thành/số noãn cho 
thụ tinh với tinh trùng. Nghiên cứu này tỷ lệ thụ tinh ở 
cả 2 nhóm phác đồ đều trên 95%: 95,11 ± 10,0% ở 
nhóm phác đồ dài và 96,50 ± 10,2% ở nhóm phác 
đồ đối vận. Sự khác biệt tỷ lệ thụ tinh ở 2 nhóm phác 
đồ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Số phôi trung bình là 9,24 ± 4,9 phôi ở nhóm 
phác đồ dài và 9,81 ± 5,6 phôi ở nhóm phác đồ 
HỒ SỸ HÙNG, NGUYỄN VIẾT NAM
170
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
đối vận. So sánh số phôi thu được trung bình giữa 2 
nhóm phác đồ thì không có sự khác biệt với p > 0,05. 
Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Hồ Sỹ 
Hùng (2015) là 9,1 ± 5,7 phôi ở nhóm phác đồ dài 
và 10,37 ± 5,6 phôi ở nhóm phác đồ đối vận [2].
Số phôi chuyển trung bình nhóm phác đồ dài 
là 3,14 ± 0,7 phôi, nhóm phác đối vận là 3,09 ± 
0,6 phôi. So sánh số phôi chuyển trung bình giữa 
2 nhóm phác đồ khác biệt không có ý nghĩa thống 
kê với p > 0,05.
Trong chu kỳ hiến – nhận noãn có phôi trữ lạnh 
sẽ làm tăng cơ hội có thai cho một lần xin noãn. 
Phôi được chọn để trữ lạnh phải đủ tốt để có thể 
sống và phát triển sau khi rã đông. Số phôi trữ lạnh 
trung bình trong nghiên cứu là 4,71 ± 4,2 phôi 
ở nhóm phác đồ dài và 5,32 ± 4,7 phôi ở nhóm 
phác đồ đối vận. So sánh số phôi trữ lạnh trung 
bình giữa 2 nhóm phác đồ thì sự khác biệt không 
có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
48 trường hợp phác đồ dài chiếm 63,2%, 62 
trường hợp phác đồ đối vận chiếm 50,0% có thai lâm 
sàng. Sự khác biệt về tỷ lệ có thai giữa 2 nhóm phác 
đồ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. So với các 
nghiên cứu của Vũ Minh Ngoc (2012) là 33% [3], của 
Nguyễn Thị Thanh Dung (2012) là 37,4% [8].
5. Kết luận
Kết quả kích thích buồng trứng người hiến noãn 
bằng phác đồ đối vận và phác đồ dài tương đương 
nhau (tổng liều FSH, số noãn trung bình, số noãn 
tốt tương đương nhau).
Số phôi trung bình, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ có 
thai nhóm phác đồ đối vận tương đương nhóm 
phác đồ dài.
Kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận làm 
giảm gánh nặng cho người hiến noãn hơn là bằng 
phác đồ dài (số ngày điều trị, số ngày dùng FSH 
nhóm phác đồ dài nhiều hơn nhóm phác đồ đối vận).
Tài liệu tham khảo
1. Vương Thị Ngọc Lan. Quy trình kỹ thuật, kết quả và ích lợi của thụ 
tinh trong ống nghiệm – cho trứng, Tạp chí Sức Khoẻ và Sinh Sản. 2003; 
số 6, NXB Y học, 6 -7.
2. Hồ Sỹ Hùng. So sánh kết quả thụ tinh trong ống nghiệm hiến - nhận 
noãn giữa hai nhóm kích thích buồng trứng bằng phác đồ đối vận và 
phác đồ dài, Tạp chí Phụ sản. 2015;13(2), 50-52.
3. Vũ Minh Ngọc, Nguyễn Viết Tiến, Phạm Thị Hoa Hồng. Nghiên cứu 
hiệu quả của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cho - nhận noãn 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại Học 
Y Hà Nội. 2012.
4. Vương Thị Ngọc Lan, Hồ Mạnh Tường, Phạm Việt Thanh và cộng 
sự. Đánh giá kết quả chương trình thụ tinh trong ống nghiệm cho trứng 
đầu tiên ở Việt Nam, Vô sinh các vấn đề mới, NXB Y học2003; 87 – 92.
5. Campos I., Gomez E., Fernandez-Valencia A. L. et al. Effects of men 
and recipients’ age on the reproductive outcome of an oocyte donation 
program, J Assist Reprod Genet. 2008; 25(9-10), 445-52.
6. Vũ Minh Ngọc, Nguyễn Viết Tiến, Phạm Thị Hoa Hồng. Nghiên cứu 
hiệu quả của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cho - nhận noãn 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại Học 
Y Hà Nội. 2012.
7. Hồ Sỹ Hùng. Kết quả có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm cho 
noãn tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung ương, 
Tạp chí Thông Tin Y Dược. 2009; 4, 38-40.
8. Nguyễn Thị Thanh Dung, Lê Hoàng. Đánh giá kết quả phương pháp 
thụ tinh trong ống nghiệm cho- nhận noãn tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2011, Luận văn Thạc sỹ y học, 
Đại học Y Hà Nội. 2012.
9. Ferraretti A. P., La Marca A., Fauser B. C. et al. ESHRE consensus 
on the definition of ‘poor response’ to ovarian stimulation for in vitro 
fertilization: the Bologna criteria, Hum Reprod. 2011; 26(7), 1616-24.
10. Vũ Minh Ngọc, Nguyễn Viết Tiến. Hiệu quả của phác đồ dài kích 
thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương, Tạp chí Thông Tin Y Dược. 2007; 3.
11. Bodri D., Vernaeve V., Guillen J. J. et al. Comparison between a 
GnRH antagonist and a GnRH agonist flare-up protocol in oocyte donors: 
a randomized clinical trial, Hum Reprod.2006; 21(9), 2246-51.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_ket_qua_thu_tinh_trong_ong_nghiem_hien_nhan_noan_giu.pdf