So sánh kết quả phôi học của kỹ thuật trưởng thành noãn non CAPA-IVM cho các noãn thu được từ nang <6 mm và ≥6 mm

Đặt vấn đề: Đối với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển, kích thước nang noãn có vai trò quan

trọng trong khả năng trưởng thành của noãn. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát khả năng trưởng

thành và kết quả phôi của noãn non thu nhận từ các kích thước nang khác nhau của trưởng thành noãn trong

ống nghiệm (IVM).

Mục tiêu: So sánh kết quả phôi học của kỹ thuật nuôi cấy IVM hai bước mới (được gọi là CAPA-IVM) cho

các noãn thu đươc từ nang <6 mm="" và="" ≥6="">

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "So sánh kết quả phôi học của kỹ thuật trưởng thành noãn non CAPA-IVM cho các noãn thu được từ nang <6 mm và ≥6 mm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh kết quả phôi học của kỹ thuật trưởng thành noãn non CAPA-IVM cho các noãn thu được từ nang <6 mm và ≥6 mm

So sánh kết quả phôi học của kỹ thuật trưởng thành noãn non CAPA-IVM cho các noãn thu được từ nang <6 mm và ≥6 mm
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 155 
SO SÁNH KẾT QUẢ PHÔI HỌC 
CỦA KỸ THUẬT TRƯỞNG THÀNH NOÃN NON CAPA-IVM 
CHO CÁC NOÃN THU ĐƯỢC TỪ NANG <6 MM VÀ ≥6 MM 
Lê Hoàng Anh1, Phạm Hoàng Huy1, Phan Thị Kim Anh1, Đặng Quang Vinh1, Vương Thị Ngọc Lan2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Đối với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển, kích thước nang noãn có vai trò quan 
trọng trong khả năng trưởng thành của noãn. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát khả năng trưởng 
thành và kết quả phôi của noãn non thu nhận từ các kích thước nang khác nhau của trưởng thành noãn trong 
ống nghiệm (IVM). 
Mục tiêu: So sánh kết quả phôi học của kỹ thuật nuôi cấy IVM hai bước mới (được gọi là CAPA-IVM) cho 
các noãn thu đươc từ nang <6 mm và ≥6 mm. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên bệnh nhân có hội chứng buồng 
trứng đa nang hoặc kiểu hình buồng trứng đa nang, <38 tuổi, có tối thiểu 25 nang (2-9mm) trên siêu âm và được 
thực hiện kỹ thuật CAPA-IVM. Tại thời điểm chọc hút noãn, phức hợp noãn-tế bào hạt (COC) thu nhận được 
được chia vào 2 nhóm phụ thuộc vào kích thước nang (<6 mm và ≥6 mm). 
Kết quả: Có 731 COC được khảo sát, trong đó, 578 COC thu được từ nang có kích thước <6 mm và 153 
COC từ nang ≥6 mm. Tỷ lệ trưởng thành, thụ tinh, tạo phôi và phôi tốt của noãn ở 2 nhóm lần lượt là 61,1% và 
72,5%, p=0,01; 48,8% và 60,8%, p=0,008; 31,7% và 43,1%, p=0,008; 17,6% và 26,8%, p=0,01. 
Kết luận: Các noãn thu được từ nang có kích thước 6mm cho kết quả phôi học tốt hơn những noãn đến từ 
nang có kích thước <6 mm. 
Từ khóa: thụ tinh trong ống nghiệm, trưởng thành noãn non, kích thước nang, kết quả phôi học 
ABSTRACT 
COMPARISON OF THE EMBRYOLOGY OUTCOMES OF CAPA-IVM FOR OOCYTES COLLECTED 
FROM FOLLICLES OF <6 MM and ≥6 MM 
Le Hoang Anh, Pham Hoang Huy, Phan Thi Kim Anh, Dang Quang Vinh, Vuong Thi Ngoc Lan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 155 - 160 
Background: Follicular size has an impact on the capability to mature of the oocytes in the conventional in-
vitro fertilization (IVF). However, there is no study investigating the capability to mature and embryology 
outcomes of the immature oocytes collected from different follicular sizes in the IVM technique. 
Objective: To compare the embryology outcomes of immature oocytes collected from follicles of <6 mm and 
≥6 mm in CAPA-IVM technique. 
Methods: This was a prospective cohort study conducted on patients who were diagnosed with PCOS or 
PCO, aged <38 years, had a minimum of 25 follicles (size from 2 to 9 mm) on ultrasound and treated with 
CAPA-IVM. At oocyte collection, the cumulus-oocyte complexes (COC) were distributed to two groups 
depending on the follicular sizes that they were collected from (<6 mm or ≥6 mm). 
Results: The total number of COC collected were 731, in which, 578 were from follicles of <6 mm and 153 
1Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức TP. Hồ Chí Minh 
2Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Lê Hoàng Anh ĐT: 0989766472 Email: [email protected] 
 Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 156 
were from follicles of ≥6 mm. The maturation rate of group with follicles of < 6mm and group with follicle of ≥6 
mm were 61.1% and 72.5% (p=0.01). Rates of fertilization, embryo and good embryos were significantly lower in 
group with follicles of < 6mm as compared to group with follicle of ≥6 mm (48.8% versus 60.8%, p=0.008; 31.7% 
versus 43.1%, p=0.008; and 17.6% versus 26.8%, p=0.01, respectively). 
Conclusion: Follicular size has an impact on the embryology outcomes of immature oocytes in CAPA-IVM. 
Oocytes collected from follicles of ≥ 6mm result in better embryology outcomes as compared to follicles of <6 mm. 
Key words: in-vitro fertilization, in-vitro maturation, follicular size, embryology outcomes 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Sinh lý sự phát triển của nang noãn được 
bắt đầu từ những nang noãn nguyên thuỷ với 
kích thước 50 µm, phát triển qua các giai đoạn 
khác nhau, thành nang noãn sơ cấp, nang noãn 
thứ cấp, rồi thành nang noãn có hốc với kích 
thước 2-5 mm. Sau đó các nang noãn có hốc 
bước vào giai đoạn chọc lọc và vượt trội, kết 
quả là chỉ có 1 nang noãn phát triển đến giai 
đoạn nang noãn trưởng thành hay còn gọi là 
nang De Graaf với kích thước 20 mm để phóng 
noãn(1). Trong thụ tinh ống nghiệm (TTON) cổ 
điển, khác với sinh lý, bệnh nhân được sử 
dụng nội tiết để kích thích sự phát triển đa 
noãn, tăng số lượng noãn thu được, từ đó, tăng 
số lượng phôi và cơ hội có thai. Mục tiêu của 
TTON là thu nhận noãn trưởng thành ở giai 
đoạn trung kỳ giảm phân II. Khả năng noãn 
trưởng thành có liên quan đến kích thước nang 
noãn chứa nó. Nang noãn có kích thước từ 16-
22 mm thì mới có thụ thể với LH trên tế bào 
hạt và có khả năng đáp ứng với đỉnh LH ngoại 
sinh để khởi động quá trình trưởng thành của 
noãn bên trong nang(2). 
Nuôi trưởng thành noãn non trong ống 
nghiệm là kỹ thuật thu nhận noãn non từ các 
nang nhỏ kích thước 2-10 mm mà không cần 
kích thích buồng trứng. Noãn non sẽ được 
trưởng thành bên ngoài cơ thể. Để tạo điều kiện 
cho quá trình trưởng thành noãn bên ngoài cơ 
thể, bệnh nhân được sử dụng FSH (Follicle 
Stimulating Hormone, còn gọi là Kích noãn bào 
tố) trong thời gian ngắn, từ 2 đến 3 ngày(3). Kỹ 
thuật này có nhiều ưu điểm so với TTON do 
giảm nguy cơ quá kích buồng trứng, giảm chi 
phí do kích thích buồng trứng, thuận tiện cho 
bệnh nhân do không cần phải theo dõi sự phát 
triển nang noãn(4,5,6). 
Trường hợp trưởng thành noãn trong ống 
nghiệm (IVM) thành công đầu tiên trên thế giới 
đã được Cha KY báo cáo vào năm 1991(7), thực 
hiện trưởng thành noãn non được thu nhận qua 
nội soi ở một phụ nữ cho noãn. Tại Việt Nam, 
IVM được bắt đầu thực hiện vào năm 2006(8). 
Hiện nay, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh 
thực hiện nhiều chu kỳ IVM nhất thế giới, vào 
khoảng 300 chu kỳ hàng năm. Từ khi IVM được 
áp dụng thành công đến nay, phác đồ thực hiện 
IVM đã có nhiều cải tiến, tỉ lệ thành công của 
IVM tăng rõ rệt(9). Nghiên cứu thử nghiệm lâm 
sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng đầu tiên trên 
thế giới, so sánh kỹ thuật IVM so với TTON, cho 
thấy tỉ lệ trẻ sinh sống là tương đương sau 
chuyển phôi lần đầu, tuy nhiên, tỉ lệ trẻ sinh 
sống cộng dồn của IVM vẫn thấp hơn TTON(6). 
Nghiên cứu để cải thiện tỉ lệ thành công của IVM 
là vấn đề cốt lõi để IVM được ứng dụng rộng rãi 
hơn trong thực hành lâm sàng. Có nhiều nghiên 
cứu liên quan đến môi trường sử dụng để tăng tỉ 
lệ trưởng thành noãn, từ đó, tăng số phôi và tỉ lệ 
có thai(3,10). Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan 
tâm liệu rằng kích thước của nang chứa noãn có 
liên quan đến khả năng trưởng thành của noãn 
bên ngoài cơ thể và tiềm năng phát triển phôi 
như đối với TTON hay không? Không có nhiều 
nghiên cứu thực hiện về vấn đề này. Chúng tôi 
thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu so sánh 
kết quả phôi học của noãn được thu nhận từ 
nang <6 mm và ≥6 mm khi thực hiện kỹ thuật 
CAPA-IVM. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho 
chúng tôi cải thiện phác đồ thực hiện IVM, giúp 
tăng hiệu quả của IVM. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 157 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các bệnh nhân được điều trị bằng kỹ thuật 
CAPA-IVM tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, 
Bệnh viện Mỹ Đức,TP. Hồ Chí Minh từ tháng 
05/2017 đến tháng 12/2017. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa 
nang PCOS hoặc kiểu hình buồng trứng đa 
nang, <38 tuổi, có tối thiểu 25 nang (2-9 mm) trên 
siêu âm và được thực hiện kỹ thuật trưởng 
thành noãn non CAPA-IVM để điều trị hiếm 
muộn. 
Tiêu chuẩn loại 
Xin trứng, có chẩn đoán di truyền phôi. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. 
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 
Chọn mẫu toàn bộ trong thời gian nghiên 
cứu. 
Phương pháp tiến hành 
Bệnh nhân được giải thích và ký đồng thuận 
tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân sẽ tiêm HP-
hMG với liều là 150 IU/ngày bắt đầu từ ngày 2 
của chu kỳ kinh trong 2-3 ngày. Chọc hút noãn 
sẽ được tiến hành 42-46 giờ sau khi tiêm mũi 
HP-hMG cuối cùng. 
Tại thời điểm chọc hút noãn, noãn thu nhận 
được của bệnh nhân được chia vào 2 nhóm phụ 
thuộc vào kích thước nang tại thời điểm chọc hút 
(<6 mm và ≥6 mm). 
Kỹ thuật trưởng thành noãn được thực hiện 
theo phương pháp CAPA-IVM. Dịch nang chứa 
noãn chưa trưởng thành được hòa với môi 
trường Collect (LifeGlobal, Canada) có bổ sung 
10 mg/ml HSA, 50 nM CNP và 20 nM Estradiol. 
Noãn thu nhận sau chọc hút sau đó sẽ được nuôi 
cấy tiền trưởng thành trong dĩa 4 giếng có chứa 
môi trường CAPA (môi trường Medicult IVM; 
Origio, Denmark có bổ sung 1 mIU/mL rFSH, 5 
ng/mL insulin, 10 nM estradiol, 10 mg/mL 
human serum albumin [SAGE, Đan Mạch] và 25 
nM CNP [Tocris Bioscience; Abingdon, Anh]) có 
phủ dầu ở điều kiện 37°C, 6% CO2, 20% O2 trong 
24 giờ. Sau đó, các noãn này sau đó được chuyển 
qua nuôi cấy tiếp trong môi trường nuôi trưởng 
thành Medicult IVM có chứa 5 ng/ml Insulin, 10 
nM E2, 100 ng/ml human recombinant 
Amphiregulin (rhAREG; Tocris Bioscience) và 
100 mIU/ml recombinant FSH trong 30 giờ ở 
cùng điều kiện như nuôi cấy tiền trưởng 
thành(3,6,10,11). 
Đánh giá trưởng thành noãn và tách noãn 
được tiến hành sau 30 giờ. Noãn trưởng thành 
được thụ tinh bằng kỹ thuật tiêm tinh trùng vào 
bào tương noãn (ICSI). Noãn sau đó sẽ được 
nuôi trong tủ cấy ở điều kiện 37oC, 5% CO2, 
5%O2. Kiểm tra thụ tinh được tiến hành 16-18 
giờ sau ICSI. Phôi được nuôi cấy đến ngày 3 
trong môi trường (Life Global, Canada). Mỗi giọt 
môi trường nuôi cấy phôi có thể tích 30µL, chứa 
từ 2-3 phôi. Vào ngày 3, phôi được đánh giá hình 
thái và phân loại theo tiêu chuẩn của đồng thuận 
Istanbul của Hiệp hội các nhà phôi học Alpha(12). 
Các phôi đủ tiêu chuẩn sẽ được trữ lạnh lại theo 
phương pháp thủy tinh hoá sử dụng môi trường 
của Cryotec (Nhật Bản). 
Phân tích và xử lý số liệu 
Số liệu được xử lý bằng phần mềm R, p <0,05 
được xem là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh 
viện Mỹ Đức, số 27/MĐ-HĐĐĐ, ngày 10/8/2017. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm của bệnh nhân được trình bày 
trong Bảng 1. 
Bảng 1: Đặc điểm nền và đặc điểm lâm sàng của 
bệnh nhân 
Đặc điểm Tần suất (n=40) 
Tuổi, năm 28,5 3,4 
Chỉ số khối cơ thể, kg/m
2
 21,8 2,5 
Thời gian vô sinh, năm 2,9 1,5 
Nguyên nhân vô sinh, n (%) 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 158 
Đặc điểm Tần suất (n=40) 
Nguyên phát 24 (60,0) 
Thứ phát 16 (40,0) 
Số chu kỳ TTON trước đó - n, (%) 
1 38 (95,0) 
2 2 (5,0) 
Chẩn đoán - n, (%) 
Hình ảnh BTĐN 4 (10,0) 
Hội chứng BTĐN 36 (90,0) 
Số ngày KTBT, ngày 2,5 0,6 
Tổng liều FSH sử dụng, IU 378,8 83,1 
Tổng số nang ở lần siêu âm cuối 35,3 15,4 
Độ dày NMTC ngày chọc hút (mm) 6,1 2,1 
Có tổng cộng 40 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn 
nghiên cứu. Tổng số COC thu nhận được từ 40 
bệnh nhân này là 731, trong đó, có 578 COC thu 
được từ nang có kích thước <6 mm (79,1% tổng 
số COC) và và 153 COC từ nang ≥6 mm (20,9% 
tổng số COC). Kết quả phôi học của noãn thu 
được từ 2 nhóm được trình bày trong Bảng 2. 
Hình thái noãn tại thời điểm chọc hút, sau 
khi nuôi cấy CAPA và sau khi nuôi trưởng 
thành được thể hiện ở Hình 1. Tại thời điểm chọc 
hút, noãn thu nhận được ở trạng thái GV, bao 
xung quanh là các lớp tế bào cumulus ở trạng 
thái nén chặt (A). Sau quá trình nuôi cấy tiền 
trưởng thành, có sự tăng sinh về số lượng lớp tế 
bào cumulus bao xung quanh noãn, lớp cumulus 
vẫn ở trạng thái nén chặt (B). Lớp tế bào 
cumulus chuyển sang trạng thái nở rộng sau quá 
trình nuôi cấy trưởng thành noãn (c). 
Bảng 2: Kết quả phôi học giữa hai nhóm COC có kích thước nang <6 mm và 6 mm 
COCs <6 mm 
(N=578) 
COCs ≥6 mm 
(N=153) 
RR (KTC 95%) Giá trị P 
Tỷ lệ trưởng thành noãn (MII), % 353 (61,1) 111 (72,5) 1,18 (1,06 - 1,34) 0,01 
Tỷ lệ 2PN, % 282 (48,8) 93 (60,8) 1,25 (1,07 - 1,45) 0,008 
Tỷ lệ tạo phôi, % 183 (31,7) 66 (43,1) 1,36 (1,10 - 1,69) 0,008 
Tỷ lệ phôi tốt, % 102 (17,6) 41 (26,8) 1,52 (1,11 - 2,08) 0,01 
A 
B 
C 
Hình 1. Hình ảnh noãn được thực hiện trưởng thành bằng kỹ thuật CAPA-IVM. A: Noãn thu nhận tại thời 
điểm chọc hút; B: Noãn sau khi nuôi cấy tiền trưởng thành trong 24 giờ; C: Noãn sau khi nuôi cấy IVM trong 
30-32 giờ (Nguồn: Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức) 
BÀN LUẬN 
Có nhiều nghiên cứu đã khẳng định mối 
tương quan giữa kích thước nang noãn và kết 
quả phôi học trong TTON. Từ đó, tiêu chuẩn về 
kích thước nang để thực hiện khởi động trưởng 
thành noãn trong kỹ thuật TTON là tối thiểu 17-
18 mm. Nghiên cứu của Abbara A (2018) chỉ ra 
rằng tỷ lệ nang noãn có kích thước 12-19 mm 
vào ngày khởi phát trưởng thành noãn càng cao 
thì số lượng noãn trưởng thành thu nhận càng 
nhiều(13). Tuy nhiên đối với IVM, vẫn chưa có 
nhiều nghiên cứu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng 
đến khả năng trưởng thành noãn, đặc biệt là yếu 
tố về kích thước nang noãn vào ngày chọc hút. 
Sự trưởng thành noãn bao gồm sự trưởng 
thành nhân và sự trưởng thành tế bào chất, 
trong đó sự trưởng thành về tế bào chất đóng vai 
trò quan trọng trong sự phát triển của phôi sau 
này(10,11). Trong phác đồ IVM chỉ sử dụng mồi 
FSH, người ta thấy rằng việc chỉ sử dụng mồi 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 159 
FSH trong một thời gian ngắn giúp thu nhận 
được các noãn đồng nhất hơn về chất lượng và 
thời điểm trưởng thành(4,10). Các khối phức hợp 
noãn-tế bào hạt (COC) thu nhận được hầu hết 
đến từ các nang có kích thước 2-10 mm. Ở các 
bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang 
(PCOS), phần lớn các nang thu nhận được có 
kích thước <6 mm (chiếm từ 70-80% tổng số 
nang) và hầu hết các noãn đến từ các nang này 
được cho là có tiềm năng trưởng thành kém 
(<50%)(10,14). Các nghiên cứu trước đó trên động 
vật có vú đều cho thấy kích thước của nang tại 
thời điểm chọc hút quyết định đến tiềm năng 
phát triển tiếp của phôi sau này. Việc thiết kế 
được môi trường nuôi cấy giúp cải thiện được tỷ 
lệ trưởng thành cũng như chất lượng phôi của 
các noãn đến từ nang có kích thước nhỏ sẽ giúp 
cải thiện được hiệu quả điều trị của IVM vì các 
nang có kích thước nhỏ chiếm phần lớn các nang 
noãn trong buồng trứng của bệnh nhân 
PCOS(10,11). 
Có nhiều nghiên cứu trên động vật để đánh 
giá về mối tương quan của kích thước nang và 
tiềm năng phát triển của phôi. Những lý do cho 
khả năng phát triển kém của những noãn có 
nguồn gốc từ nang <6 mm bao gồm sự trưởng 
thành tế bào chất và nhân không hoàn chỉnh, có 
sự tổng hợp không đầy đủ mRNA của mẹ cần 
cho quá trình nén và biệt hóa phôi ở các giai 
đoạn tiếp theo, không sản xuất các protein cần 
thiết cho khả năng trưởng thành trong ống 
nghiệm cũng như tỷ lệ noãn đi vào con đường 
thoái hoá cao hơn và tỷ lệ bất thường trong thụ 
tinh cao hơn so với noãn có nguồn gốc từ nang 
≥6 mm. Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây đã 
báo cáo rằng noãn từ các nang nhỏ có sự phân 
bố hạt vỏ không đều, hệ thống xuất bào bị lỗi và 
do đó, không có khả năng hỗ trợ sự phát triển 
của phôi. Một số nghiên cứu về biểu hiện gen 
của các noãn đến từ nang có kích thước <6 mm 
và các nang lớn hơn cho thấy có một số gen như 
H2A, FSHR, GHR, v.v. có liên quan đến tiềm 
năng phát triển của noãn. Gen H2A của noãn có 
liên quan đến kích thước của các nang noãn. 
Noãn được thu nhận từ các nang có kích thước 
<6 mm có mức độ phiên mã H2A thấp. Do đó, 
khả năng phát triển của noãn đã bị ảnh hưởng 
và cũng như các giai đoạn phát triển của phôi bị 
ảnh hưởng(15). 
Trên đối tượng người, có rất ít y văn khảo sát 
về kích thước nang và mối tương quan đến hiệu 
quả điều trị của IVM. Nghiên cứu của Guzman 
L (2012) ghi nhận tỷ lệ trưởng thành của noãn 
sau IVM là 50,8% sau 40 giờ nuôi cấy trưởng 
thành. Mặc dù nang <6 mm được cho là có tiềm 
năng phát triển kém, nhưng theo Guzman L, các 
phôi đến từ các noãn trên vẫn có tỷ lệ thai diễn 
tiến là 34,6% trong các chu kỳ chuyển phôi trữ 
lạnh chứng tỏ những noãn này vẫn có tiềm năng 
phát triển và làm tổ(14). 
Trong nghiên cứu này, noãn thu nhận tại 
thời điểm chọc hút cũng phần lớn đến từ các 
nang có kích thước <6 mm, giống với các báo cáo 
khác. Điều này cho thấy nhóm nang noãn <6 
mm là đối tượng chính trong các chu kỳ IVM. 
Kết quả trưởng thành noãn và tạo phôi của noãn 
thu được từ nang <6 mm thấp hơn có ý nghĩa 
thống kê so với noãn thu từ nang ≥6 mm. Kết 
quả nghiên cứu này cũng tương tự với nghiên 
cứu trước đây chúng tôi thực hiện so sánh 2 kỹ 
thuật trưởng thành noãn non khác nhau (CAPA-
IVM) và IVM tiêu chuẩn(3). 
Từ kết quả của nghiên cứu này, chúng tôi 
nhận thấy kích thước nang có liên quan với khả 
năng trưởng thành của noãn và tiềm năng phát 
triển của noãn. Về phía lâm sàng, chúng tôi đề 
xuất nên xem xét thay đổi phác đồ sử dụng mồi 
FSH để có nang kích thước lớn hơn 6 mm và nên 
lấy kích thước nang là tiêu chuẩn xác định thời 
điểm chọc hút noãn non nhằm thu được những 
noãn có khả năng hơn. Về phía labo, trong tình 
huống có noãn thu được từ nang <6 mm, nên 
xem xét thay đổi phác đồ nuôi cấy noãn non như 
cân nhắc kéo dài thời gian nuôi cấy trưởng thành 
và nuôi cấy tiền trưởng thành trong CAPA-IVM 
nhằm "khả năng hoá" các noãn này. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 160 
Hạn chế của nghiên cứu 
Thiết kế quan sát và kết cục chỉ đánh giá đến 
kết quả phôi học mà chưa đánh giá kết quả 
chuyển các phôi phát triển từ các noãn thu từ các 
nang có kích thước khác nhau này vào buồng tử 
cung, bởi vì, suy cho cùng, kết quả thai kỳ mới là 
kết cục mong đợi của bệnh nhân khi điều trị 
IVM. Ngoài ra, nghiên cứu chưa đủ năng lực 
mẫu để có kết luận chắc chắn về kết quả phôi 
học vượt trội của nhóm noãn thu được từ nang 
>6 mm so với ≤6 mm. 
KẾT LUẬN 
Kích thước nang có liên quan đến kết quả 
phôi học trong kỹ thuật trưởng thành noãn non 
CAPA-IVM. Các noãn thu được từ nang có kích 
thước 6 mm cho kết quả phôi học tốt hơn 
những noãn đến từ nang có kích thước <6 mm. 
Cần thêm nghiên cứu với thiết kế ngẫu nhiên có 
nhóm chứng với kết cục là tỉ lệ thai sau chuyển 
phôi nhằm có kết luận chắc chắn hơn về tác 
động này. 
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi 
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia 
(NAFOSTED) trong đề tài mã số FWO.106-
YS.2017.02 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Giang Huỳnh Như (2019). Sự sinh noãn. Hồ Mạnh Tường, Đặng 
Quang Vinh, Vương Thị Ngọc Lan. Trong Thụ tinh trong ống 
nghiệm, ấn bản lần thứ 1, pp.27-39. Nhà xuất bản Tổng hợp, 
Thành phố Hồ Chí Minh. 
2. Vương Thị Ngọc Lan (2019). Kích thích buồng trứng và các tác 
động trên kết quả kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hồ Mạnh Tường, 
Đặng Quang Vinh, Vương Thị Ngọc Lan. Trong Thụ tinh trong 
ống nghiệm, ấn bản lần thứ 1, pp.343-372. Nhà xuất bản Tổng hợp, 
Thành phố Hồ Chí Minh. 
3. Vuong Thi Ngoc Lan, Le Hoang Anh, Ho Ngoc Anh Vu, et al 
(2020). Live births after oocyte in vitro maturation with a 
prematuration step in women with polycystic ovary syndrome. 
Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 37:347–357. 
4. Fadini R, Dal Canto MB, Mignini Renzini M, Brambillasca F, 
Comi R, Fumagalli D, Lain M, Merola M, Milani R, De Ponti E 
(2009). Effect of different gonadotrophin priming on IVM of 
oocytes from women with normal ovaries: a prospective 
randomized study. Reproductive BioMedicine Online, 19:343–35. 
5. Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Manh Tuong, Gilchrist RB, Smitz J 
(2019). The Place of In Vitro Maturation in Assisted 
Reproductive Technology. Fertility and Reproduction, 1(1):11-15. 
6. Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Ngoc Anh Vu, Ho Manh Tuong, Dang 
Quang Vinh, Phung Huy Tuan, Giang Huynh Nhu, Le Hoang 
Anh, Pham Duong Toan, Wang R, Smitz J, Gilchrist RB, 
Norman RJ, Mol BW (2020). In-vitro maturation of oocytes 
versus conventional IVF in women with infertility and a high 
antral follicle count: a randomized non-inferiority controlled 
trial. Human Reproduction, 35(11):2537–2547. 
7. Cha KY, Koo JJ, Ko JJ, Choi DH, Han SY, Yoon TK (1991). 
Pregnancy after in vitro fertilization of human follicular oocytes 
collected from nonstimulated cycles, their culture in vitro and 
their transfer in a donor oocyte program. Fertility and Sterility, 
55:109–113. 
8. Đặng Quang Vinh, Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan, 
Phùng Huy Tuân, Nguyễn Thị Thu Lan, Lê Thuỵ Hồng Khả 
(2009). Hiệu quả của kỹ thuật trưởng thành trứng non trong ống 
nghiệm. Thời sự Y học, 35:2-6. 
9. Ho Ngoc Anh Vu, Braam SC, Pham Duong Toan, Mol BW, 
Vuong Thi Ngoc Lan (2019). The effectiveness and safety of in 
vitro maturation of oocytes versus in vitro fertilization in women 
with a high antral follicle count. Human Reproduction, 34(6):1055-
1064. 
10. Sanchez F, Lolicato F, Romero S, De Vos M, Van Ranst D, 
Verheyen G, Anckaert E, Smitz JE (2017). An improved IVM 
method for cumulus-oocyte complexes from small follicles in 
polycystic ovary syndrome patients enhances oocyte 
competence and embryo yield. Human Reproduction, 32(10):2056-
2068. 
11. Sanchez F, Romero S, De Vos M, Verheyen G, Smitz J (2015). 
Human cumulus-enclosed germinal vesicle oocytes from early 
antral follicles reveal heterogeneous cellular and molecular 
features associated with in vitro maturation capacity. Human 
Reproduction, 30(6):1396-409. 
12. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group of Embryology (2011). The Istanbul consensus 
workshop on embryo assessment: proceedings of an expert 
meeting. Human Reproduction, 26(6):1270-1283. 
13. Abbara A, Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Ngoc Anh Vu, Clarke SA, 
Jeffers L, Comninos AN, Salim R, Ho TM, Kelsey TW, Trew GH, 
Humaidan P and Dhillo WS (2018). Follicle Size on Day of 
Trigger Most Likely to Yield a Mature Oocyte. Frontiers in 
Endocrinology, 9:193. 
14. Guzman L,
Ortega-Hrepich C,
Albuz FK,
Verheyen G, Devroey 
P, Smitz J,
Devos M (2012). Developmental capacity of in vitro–
matured human oocytes retrieved from polycystic ovary 
syndrome ovaries containing no follicles larger than 6 mm. 
Fertility and Sterility, 98(2):503-507. 
15. Zaeem S, Muhammad S, Muhammad S, Ali H, Amjad R, Nasim 
A (2020). Effect of follicle size on oocytes recovery rate, quality, 
and in-vitro developmental competence in Bos indicus cows. 
Animal Reproduction, 17(3):e20200011. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_ket_qua_phoi_hoc_cua_ky_thuat_truong_thanh_noan_non.pdf