So sánh kết quả điều trị tụt huyết áp sau gây tê tủy sống giữa phenylephrine và ephedrine trên sản phụ mổ lấy thai

Mục tiêu: Tụt huyết áp sau tê tủy sống có thể gặp ở 80% các ca mổ lấy thai, gây ra nhiều hậu quả nghiêm

trọng cho mẹ và thai nhi. Điều trị đầu tay là thuốc co mạch trong đó phenylephrine và ephedrine được dùng

nhiều nhất. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới còn nhiều điểm chưa thống nhất về thuốc nào ưu

thế hơn.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên,

không mù trên 62 sản phụ khỏe mạnh, được tê tủy sống để mổ lấy thai chương trình, dùng phenylephrine hay

ephedrine tiêm mạch chậm điều trị tụt huyết áp. Kết cục chính là hiệu quả điều trị tụt huyết áp và kết cục phụ là

chỉ số về cung lượng tim ước đoán liên tục và tác dụng phụ của từng thuốc.

Kết quả: Không có sự khác biệt về đặc điểm chung, huyết áp trung bình và thời gian ổn định huyết áp giữa

hai nhóm. Tổng liều phenylephrine thấp hơn so với ephedrine khi quy đổi tương đương tiềm lực (139,1 ± 56,3 µg

với 15 ± 6,7 mg; p=0,01). Nhóm phenylephrine có cung lượng tim thấp hơn ephedrine (6,4 ± 1,5 với 7 ± 1,8

L.phút–1; p=0,02) và có xu hướng thay đổi tương tự với khuynh hướng tần số tim ở mỗi nhóm. Về tác dụng phụ,

phenylephrine có khuynh hướng gây tần số tim chậm nhưng chưa có ý nghĩa (12,5% với 0%, p=0,05) còn

ephedrine gây tần số tim nhanh (33,3% với 6,3%, p=0,007), trong đó không khác biệt về tỷ lệ tăng huyết áp phản

ứng và buồn nôn/nôn.

Kết luận: Phenylephrine có hiệu quả điều trị tụt huyết áp sau tê tủy sống tương đương ephedrine trên sản

phụ không tiền căn bệnh lý tim mạch hay tiền sản giật với liều sử dụng thấp hơn và ít gây tần số tim nhanh hơn.

pdf 8 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "So sánh kết quả điều trị tụt huyết áp sau gây tê tủy sống giữa phenylephrine và ephedrine trên sản phụ mổ lấy thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh kết quả điều trị tụt huyết áp sau gây tê tủy sống giữa phenylephrine và ephedrine trên sản phụ mổ lấy thai

So sánh kết quả điều trị tụt huyết áp sau gây tê tủy sống giữa phenylephrine và ephedrine trên sản phụ mổ lấy thai
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 275 
SO SÁNH KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TỤT HUYẾT ÁP 
SAU GÂY TÊ TỦY SỐNG GIỮA PHENYLEPHRINE VÀ EPHEDRINE 
TRÊN SẢN PHỤ MỔ LẤY THAI 
Nguyễn Vũ An1, Võ Minh Thành1, Huỳnh Vĩnh Phúc1, Nguyễn Trung Cường1, Nguyễn Thị Thanh2 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Tụt huyết áp sau tê tủy sống có thể gặp ở 80% các ca mổ lấy thai, gây ra nhiều hậu quả nghiêm 
trọng cho mẹ và thai nhi. Điều trị đầu tay là thuốc co mạch trong đó phenylephrine và ephedrine được dùng 
nhiều nhất. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới còn nhiều điểm chưa thống nhất về thuốc nào ưu 
thế hơn. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên, 
không mù trên 62 sản phụ khỏe mạnh, được tê tủy sống để mổ lấy thai chương trình, dùng phenylephrine hay 
ephedrine tiêm mạch chậm điều trị tụt huyết áp. Kết cục chính là hiệu quả điều trị tụt huyết áp và kết cục phụ là 
chỉ số về cung lượng tim ước đoán liên tục và tác dụng phụ của từng thuốc. 
Kết quả: Không có sự khác biệt về đặc điểm chung, huyết áp trung bình và thời gian ổn định huyết áp giữa 
hai nhóm. Tổng liều phenylephrine thấp hơn so với ephedrine khi quy đổi tương đương tiềm lực (139,1 ± 56,3 µg 
với 15 ± 6,7 mg; p=0,01). Nhóm phenylephrine có cung lượng tim thấp hơn ephedrine (6,4 ± 1,5 với 7 ± 1,8 
L.phút–1; p=0,02) và có xu hướng thay đổi tương tự với khuynh hướng tần số tim ở mỗi nhóm. Về tác dụng phụ, 
phenylephrine có khuynh hướng gây tần số tim chậm nhưng chưa có ý nghĩa (12,5% với 0%, p=0,05) còn 
ephedrine gây tần số tim nhanh (33,3% với 6,3%, p=0,007), trong đó không khác biệt về tỷ lệ tăng huyết áp phản 
ứng và buồn nôn/nôn. 
Kết luận: Phenylephrine có hiệu quả điều trị tụt huyết áp sau tê tủy sống tương đương ephedrine trên sản 
phụ không tiền căn bệnh lý tim mạch hay tiền sản giật với liều sử dụng thấp hơn và ít gây tần số tim nhanh hơn. 
Từ khoá: tụt huyết áp, tê tủy sống, mổ lấy thai 
ABSTRACT 
COMPARISON OF PHENYLEPHRINE VERSUS EPHEDRINE TO TREAT HYPOTENSION IN 
PARTURIENTS DURING SPINAL ANESTHESIA FOR CESAREAN SECTION 
Nguyen Vu An, Vo Minh Thanh, Huynh Vinh Phuc, Nguyen Trung Cuong, Nguyen Thi Thanh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 275 - 282 
Objectives: Spinal hypotension may occur up to 80% of cases presenting for cesarean section, which could 
have several serious implications for both the mother and her fetus. Current first line therapy is utilizing 
vasopressor which consists of two of the-most-commonly-used phenylephrine and ephedrine. However, there are 
still many disagreements in data from Vietnam and international trials regarding which is more superior. 
Methods: We performed a non-randomized, unblinded clinical trial of 62 healthy pregnant women 
presenting for cesarean section under spinal anesthesia, using either phenylephrine or ephedrine to treat spinal 
hypotension. Primary outcome includes efficacy in treating spinal hypotension and secondary outcomes include 
parameters of estimated continuous cardiac output and side effects for each drug. 
Results: There is no difference in general characteristics, mean arterial pressure and time to normalize blood 
1Khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Nhân dân Gia Định 
2Bộ môn Gây mê Hồi sức, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Vũ An ĐT: 0826027842 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 276 
pressure between two groups. Total equipotent dose of phenylephrine is less than ephedrine (139.1 ± 56.25 µg vs 
15 ± 6.7 mg; p=0.01). Phenylephrine has lower cardiac output than ephedrine (6.4 ± 1.5 vs 7 ± 1.8 L.min–1; 
p=0.02), whose trend is similar to heart rate in each group. On side effects, there are more cases of bradycardia in 
phenylephrine group although without statistical significance (12.5% vs 0%, p=0.05) as there are more 
tachycardia in ephedrine group (33.3% vs 6.3%, p=0.007). Both have the same rate of reactive hypertension and 
nausea/vomiting. 
Conclusion: Phenylephrine is as effective as ephedrine in treating spinal hypotension in healthy pregnant 
women without previous cardiovascular disease or pre-eclampsia with lower equipotent dose and less tachycardia. 
Keywords: spinal hypotension, spinal anesthesia, cesarean section 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tụt huyết áp sau gây tê tủy sống (GTTS) xảy 
ra đến 80% các ca mổ lấy thai nếu không được 
điều trị dự phòng thích hợp(1). Tụt huyết áp mức 
độ nặng làm giảm tưới máu mô cả cơ thể dẫn 
đến hậu quả nặng nề cho cả mẹ và thai nhi. Hiện 
nay, nhiều phương pháp được khuyến cáo 
nhằm cải thiện tụt huyết áp sau GTTS bao gồm 
bù dịch, nghiêng bàn hay đẩy tử cung sang bên, 
và quan trọng nhất là dùng thuốc co mạch. 
Ephedrine và phenylephrine là thuốc co mạch 
thường sử dụng nhất. 
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm 
so sánh hiệu quả huyết động giữa ephedrine và 
phenylephrine trong điều trị tụt huyết áp. Các 
tác giả Thomas DG(2), Ngan KWD(3) và Prakash 
S(4) cho thấy không có sự khác biệt giữa hai thuốc 
về khả năng duy trì huyết áp ổn định, với pH 
máu cuống rốn ở nhóm phenylephrine ít toan 
hơn ephedrine dù Apgar của trẻ là như nhau(3,4). 
Dyer sử dụng LiDCO theo dõi liên tục huyết 
động ghi nhận phenylephrine ưu thế hơn hẳn 
ephedrine trong việc đảo ngược nhanh chóng 
các thay đổi bởi GTTS với mức huyết áp cao 
hơn(5). Tại Việt Nam, Phạm Lê Hoàn cho kết quả 
phenylephrine tốt hơn ephedrine với liều dùng 
thấp hơn, huyết động ổn định nhanh chóng hơn 
và không có tác dụng phụ(6). Và ngược lại, Trần 
Minh Long nhận thấy phenylephrine và 
ephedrine không khác nhau trong điều trị tụt 
huyết áp sau GTTS, khác biệt nằm ở máu cuống 
rốn trẻ sơ sinh nhóm phenylephrine ít toan hơn 
nhóm ephedrine(7). Với những kết quả chưa 
thống nhất trong y văn, chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu để trả lời câu hỏi phenylephrine có 
hiệu quả điều trị tụt huyết áp hơn ephedrine 
trên sản phụ được GTTS để mổ lấy thai hay 
không. 
Mục tiêu 
So sánh hiệu quả điều trị tụt huyết áp sau 
GTTS giữa hai thuốc trên sản phụ mổ lấy thai. 
So sánh các thông số về cung lượng tim ước 
đoán liên tục khi điều trị tụt huyết áp sau GTTS 
hai thuốc trên sản phụ mổ lấy thai. 
So sánh tỷ lệ các tác dụng phụ giữa hai thuốc 
khi điều trị tụt huyết áp sau GTTS trên sản phụ 
mổ lấy thai. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chương trình 
dưới GTTS tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ 
tháng 12/2019 đến tháng 04/2020. 
Tiêu chuẩn nhận vào 
Sản phụ trên 18 đến 35 tuổi có chỉ định mổ 
lấy thai chương trình dưới GTTS, phân nhóm 
ASA II, tuổi thai từ đủ 37 đến 40 tuần, đơn thai, 
biểu đồ tim thai–cơn gò nhóm I, huyết áp trung 
bình giảm từ 80–50% mức nền sau GTTS. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Sản phụ có tiền căn bệnh tim mạch, bệnh lý 
gây tăng tần số tim (như cường giáp) hay mạch 
máu não, dị ứng hay chống chỉ định với thuốc 
tê, thuốc mê, phenylephrine và ephedrine, thai 
kỳ nguy cơ cao, chống chỉ định GTTS hay phải 
chuyển mê toàn diện đặt nội khí quản, có các 
biến cố bất thường do GTTS hay phẫu thuật, 
dùng nhiều hơn một loại thuốc co mạch để điều 
trị tụt huyết áp hay thuốc ngoài ephedrine và 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 277 
phenylephrine. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu đoàn hệ có nhóm chứng, không 
mù với chọn mẫu thuận tiện. 
Cỡ mẫu 
Cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi 
được tính toán dựa trên công thức: 
Theo Dyer RA(5), nhóm ephedrine có kết quả 
là 78,2 ± 8,6 mmHg và nhóm phenylephrine 86,3 
± 9,1 mmHg. Dựa vào công thức trên, chúng tôi 
tính toán cần ít nhất 20 sản phụ mỗi nhóm và để 
tránh mất mẫu, chúng tôi chọn 30 sản phụ mỗi 
nhóm (tổng cộng 60 sản phụ). 
Tiến hành nghiên cứu 
Sản phụ thỏa tiêu chí chọn vào được khám 
tiền mê, tư vấn tham gia nghiên cứu và lấy đồng 
thuận. Sản phụ được gắn kiểm báo theo dõi tiêu 
chuẩn và truyền 500–1000 mL dịch tinh thể trước 
GTTS kèm thở oxy 3 L.phút–1 qua cannula mũi. 
Định chuẩn máy monitor Life Scope BSM–3562 
(Nihon Kohden, Tokyo, Nhật Bản) với tuổi, 
chiều cao, cân nặng, giới tính, thời gian lan 
truyền sóng mạch, huyết áp không xâm lấn và 
điện tim của sản phụ để có các thông số về cung 
lượng tim ước đoán liên tục. Dữ liệu được ghi 
nhận liên tục mỗi phút sau GTTS thành công 
đến khi bắt được trẻ sơ sinh và sau đó mỗi 2,5 
phút. Thuốc tê sử dụng là 1,8 mL bupivacaine 
0,5% ưu trọng (Aguettant, Lyon, Pháp) và 20 μg 
fentanyl (Hameln Pharma GmbH, Hameln, Đức) 
tiêm vào khoang dưới nhện thật chậm. Sau 
GTTS, sản phụ được nằm ngửa nghiêng trái 150 
kèm đẩy tử cung sang trái đến khi sát khuẩn da 
phẫu thuật. Khi tụt huyết áp xảy ra, sản phụ 
được điều trị với ephedrine 3–6 mg hay 
phenylephrine 50–100 μg tiêm tĩnh mạch 
(Aguettant, Lyon, Pháp) tùy theo tần số tim của 
sản phụ (<60 lần.phút–1 dùng ephedrine; ≥60 
lần.phút–1 dùng phenylephrine) và lặp liều đến 
khi huyết áp ổn định, kèm truyền nhanh dịch 
tinh thể. Sau bắt bé, tất cả các sản phụ sẽ được 
dùng oxytocin (Vinphaco, Vĩnh Phúc, Việt Nam) 
truyền tĩnh mạch 0,3 đến 0,6 đơn vị.phút–1, 
và/hay methylergonovine (Vinphaco, Vĩnh Phúc, 
Việt Nam) với carbetocin (Ferring 
Pharmaceuticals, Saint–Prex, Thụy Sĩ) tùy lâm 
sàng. 
Biến số nghiên cứu 
Biến số chính 
Huyết áp trung bình (mmHg), tần số tim 
(lần.phút–1) ghi nhận ở bốn thời điểm: lúc chưa 
GTTS (lấy trung bình 3 lần đo làm mức nền), 
trước dùng thuốc co mạch (ngay trước khi dùng 
thuốc co mạch), sau dùng thuốc co mạch (khi 
huyết áp trung bình ổn định từ 80–120% mức 
nền sau 3 lần đo liên tiếp cách nhau 1 phút), sau 
bắt bé 5 phút. 
Thời gian ổn định huyết áp (phút): thời gian 
từ lúc dùng thuốc co mạch cho đến khi huyết áp 
ổn định từ 80–120% mức nền sau 3 lần đo liên 
tiếp cách nhau 1 phút. Chọn thời điểm của lần 
đo đầu tiên trong 3 lần đo để tính thời gian. 
Tổng liều ephedrine (mg) và tổng liều 
phenylephrine (μg). 
Biến số phụ 
Cung lượng tim ước đoán liên tục–estimated 
continuous cardiac output [esCCO (L.phút–1)]; 
chỉ số tim ước đoán liên tục–estimated 
continuous cardiac index [esCCI (L.phút–1.m–2)]; 
thể tích nhát bóp ước đoán liên tục–estimated 
continuous stroke volume [esSV (mL)]; chỉ số thể 
tích nhát bóp ước đoán liên tục–estimated 
continuous stroke volume index [esSVI (mL.m–
2)] cách ghi nhận giống như huyết áp trung bình. 
Tác dụng phụ: nôn/buồn nôn; tần số tim 
chậm (100 
lần.phút–1); tăng huyết áp phản ứng (huyết áp 
trung bình >120% giá trị nền). 
Thu thập và xử lý số liệu 
Tất cả các số liệu sẽ được ghi nhận vào một 
bảng thu thập số liệu soạn sẵn. Nhập liệu bằng 
Epidata 3.1 và phân tích bằng Stata 13.0. Kiểm 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 278 
tra tính phân phối chuẩn bằng phép kiểm 
Kolmogorov–Smirnov. Biến số định lượng 
được biểu diễn bằng trung bình ± độ lệch 
chuẩn nếu tuân theo phân phối chuẩn, ngược 
lại bằng trung vị [khoảng tứ vị]. Biến số định 
tính được biểu diễn bằng tần số (tỷ lệ %). So 
sánh sự khác biệt giữa hai nhóm bằng phép 
kiểm Student hoặc phép kiểm Mann–Whitney 
tùy theo phân phối ở các biến số định lượng. 
Liều của ephedrine và phenylephrine sẽ được 
quy đổi sang liều tương đương tiềm lực dựa 
theo nghiên cứu của Saravanan S(1), là 8 mg 
ephedrine tương đương với 100 μg 
phenylephrine trước khi so sánh. Các biến số 
định tính sẽ được so sánh bằng phép kiểm Chi 
bình phương hay phép kiểm chính xác Fisher. 
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu đã được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
(chứng nhận số 530/ĐHYD–HĐĐĐ ngày 
22/10/2019) và bệnh viện Nhân dân Gia Định 
(chứng nhận số 82/CN–HĐĐĐ ngày 19/12/2019). 
KẾT QUẢ 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 62 sản 
phụ được GTTS để mổ lấy thai chương trình tại 
khoa Gây mê Hồi sức, bệnh viện Nhân Dân Gia 
Định từ tháng 12/2019–04/2020 (Hình 1). 
Hình 1. Lưu đồ nghiên cứu 
Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 
Biến số Ephedrine (n = 30) Phenylephrine(n = 32) P 
Tuổi mẹ (năm) 29,7 ± 0,9 30,8 ± 0,9 0,4 
Tuổi thai (tuần) 39 ± 0,1 38,8 ± 0,2 0,3 
Chiều cao (cm) 152,9 ± 0,8 154,1 ± 0,8 0,3 
Cân nặng (kg) 67,5 ± 1,7 64,7 ± 1,7 0,2 
Tổng lượng dịch truyền (mL) 833,3 ± 36,9 809,4 ± 33,6 0,6 
Tổng lượng máu mất (mL) 316,7 ± 17,2 304,7 ± 15 0,6 
Mức phong bế 
T4 14 17 
0,9 T5 9 8 
T6 7 7 
Sản phụ thỏa tiêu chí nhận vào và 
được gây tê tủy sống (n = 75) 
Loại khỏi nghiên 
cứu (n = 13) do: 
Thỏa các tiêu chí 
loại trừ (n=3) 
Không đồng ý 
tham gia nghiên 
cứu (n = 10) 
Nhóm ephedrine 
(n = 30) 
Nhóm phenylephrine 
(n = 32) 
Đưa vào phân 
tích (n = 30) 
Đưa vào phân 
tích (n = 32) 
Chọn mẫu 
Phân nhóm không 
ngẫu nhiên 
Theo dõi 
Phân tích 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 279 
Biến số Ephedrine (n = 30) Phenylephrine(n = 32) P 
Thuốc co hồi tử 
cung khác 
Không 3 2 
>0,05 Carbetocin 9 15 
Methylergonovine 26 26 
Biến số chính 
Tổng liều thuốc sử dụng ở nhóm 
phenylephrine là 139,1 ± 56,3 μg so với nhóm 
ephedrine là 15 ± 6,7 mg (p=0,01 khi quy đổi 
tương đương tiềm lực 100 μg phenylephrine=8 
mg ephedrine(1)). Thời gian ổn định huyết áp 
không khác biệt giữa phenylephrine và 
ephedrine (2,5 ± 1,2 phút với 2,4 ± 1,4, p=0,9). 
Huyết áp trung bình và tần số tim mỗi nhóm 
được thể hiện ở Hình 2. 
Biến số phụ 
Kết quả về esCCO và esCCI được trình bày ở 
Hình 3. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê giữa hai nhóm qua các thời điểm nghiên cứu 
ngoại trừ esCCO sau dùng thuốc co mạch 
(p=0,02); và esCCI sau dùng thuốc co mạch 
(p=0,04), esCCO lẫn esCCI sau bắt bé 5 phút (lần 
lượt p=0,01 và p=0,02). esSV và esSVI được thể 
hiện qua Bảng 2. Phenylephrine có khuynh 
hướng gây ra tần số tim chậm nhiều hơn (12,5% 
với 0%, p=0,05) và ngược lại ephedrine gây ra 
tần số tim nhanh nhiều hơn (33,3% với 6,3%, 
p=0,007). Không có sự khác biệt về buồn 
nôn/nôn (23,3% với 12,2%, p=0,3) và tăng huyết 
áp phản ứng giữa hai nhóm (12,3% với 9,4%, 
p=0,6). 
kết quả được trình bày dưới dạng trung bình (độ lệch chuẩn) và khoảng tin cậy 95% 
(*) Phép kiểm Mann–Whitney (p=0,003) 
Hình 2: Tần số tim (A) và huyết áp trung bình (B) qua các thời điểm nghiên cứu giữa phenylephrine và 
ephedrine 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 280 
Kết quả được trình bày dưới dạng trung bình (độ lệch chuẩn) và khoảng tin cậy 95% (*) Phép kiểm Student 
(†) Phép kiểm Mann–Whitney 
Hình 3: Các thông số esCCO và esCCI giữa phenylephrine và ephedrine 
Bảng 2: Các thông số về esSV và esSVI giữa phenylephrine và ephedrine 
Biến số Thời điểm nghiên cứu Ephedrine (n = 30) Phenylephrine (n = 32) P 
EsSV (mL) 
Mức nền 76,6 ± 9,5 72,7 ± 10,5 0,1 
Trước dùng thuốc co mạch 74,3 ± 10,3 72,4 ± 11,3 0,5 
Sau dùng thuốc co mạch 75,8 ± 11,2 71,3 ± 10,4 0,1 
Sau bắt bé 5 phút 78,6 ± 9,2 70 ± 10,8 0,001 
EsSVI (mL.m
–2
) 
Mức nền 46,4 ± 5,3 44,8 ± 6,1 0,3 
Trước dùng thuốc co mạch 44,8 ± 5,9 44,5 ± 6,4 0,8 
Sau dùng thuốc co mạch 45,5 [36 – 52] 43,5 [36 – 50] 0,1 
Sau bắt bé 5 phút 47,5 [40 – 55] 44 [34 – 49] 0,003 
BÀN LUẬN 
Ở cả hai nhóm, sau dùng thuốc co mạch, 
huyết áp trung bình không khác biệt và đều 
trong 20% mức nền, không trường hợp nào tụt 
huyết áp trên 50%. So sánh với Dyer RA(5), Ngan 
KND(8), Prakash S(4), Trần Minh Long(7), Phạm Lê 
Hoàn(6), huyết áp đều đạt mục tiêu điều trị là 
trong 20% mức nền. Chúng tôi ghi nhận xu 
hướng huyết áp giống nhau ở hai nhóm là giảm 
sau GTTS và trở lại ổn định cho đến sau bắt bé. 
Khuynh hướng này tương tự với các nghiên cứu 
khác; và các tác giả đều kết luận rằng hiệu quả 
điều trị tụt huyết áp giữa phenylephrine và 
ephedrine là như nhau(4,5,6,7,8). 
Sau khi dùng thuốc co mạch, phenylephrine 
khiến tần số tim giảm về dưới mức nền trong khi 
ephedrine không thay đổi tần số tim đáng kể và 
ổn định hơn. Tuy nhiên, sau bắt bé 5 phút, tần số 
tim của nhóm phenylephrine tăng trở lại và 
không có sự khác biệt so với ephedrine. So với 
Dyer RA(5), Prakash S(4), Phạm Lê Hoàn(6), Trần 
Minh Long(7), xu hướng thay đổi tần số tim này 
tương tự, với phenylephrine luôn thấp hơn 
ephedrine sau dùng thuốc co mạch và tăng trở 
về mức nền bằng với ephedrine lúc sau bắt bé. 
Nhìn chung, ephedrine luôn có khuynh hướng 
gây tăng tần số tim và duy trì ổn định tần số tim 
ở mức này trong khi phenylephrine làm giảm 
tần số tim và duy trì ổn định quanh mức này. 
Thời gian ổn định huyết áp ở cả hai nhóm 
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Trong 
các nghiên cứu sử dụng huyết áp không xâm 
lấn, ngoại trừ Trần Minh Long truyền liên tục 
thuốc co mạch(7), các tác giả khác(4,6) và chúng tôi 
dùng từng liều tiêm mạch chậm sau mỗi lần đo 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 281 
huyết áp với hàm lượng thuốc dao động tùy 
theo đáp ứng của sản phụ. Do đó khó có thể so 
sánh chính xác thời gian ổn định huyết áp giữa 
các nghiên cứu với nhau. Dyer RA sử dụng 
huyết áp động mạch xâm lấn ghi nhận thời gian 
ổn định huyết áp của ephedrine là 81,8 giây còn 
phenylephrine là 61,8 giây(5). Kết quả này phù 
hợp với thời gian đạt đỉnh tác dụng của thuốc co 
mạch (phenylephrine là 1 phút, còn ephedrine là 
1,5 phút). Với thời gian đạt đỉnh tác dụng của 
ephedrine như vậy, việc sử dụng thời gian đo 
huyết áp mỗi phút trên lâm sàng có thể không 
cho thấy được tác dụng co mạch đầy đủ của 
ephedrine, trong khi phenylephrine thì dễ dàng 
nhận biết. Do đó đưa đến điều trị tụt huyết áp 
với ephedrine diễn ra quá mức dẫn đến các tác 
dụng phụ không mong muốn như tăng huyết áp 
phản ứng và tần số tim nhanh. 
Với cùng một mức huyết áp ổn định sau 
dùng thuốc co mạch, nhóm phenylephrine cần 
một lượng thuốc ít hơn so với ephedrine. Khi 
quy đổi về tương đương tiềm lực, Phạm Lê 
Hoàn cho thấy tổng liều phenylephrine và số lần 
tiêm thuốc thấp hơn so với ephedrine(6). Mặt 
khác, Prakash S không ghi nhận sự khác biệt 
giữa tổng liều dùng hay số lần tiêm thuốc(4). Về 
kết cục chính, cả hai nghiên cứu trên và chúng 
tôi đều ghi nhận mức huyết áp ổn định quanh 
20% mức nền. Tương tự, Ngan KND báo cáo 
không có sự khác biệt số liều tiêm tĩnh mạch 
giữa hai nhóm ephedrine và phenylephrine(8). 
Cung lượng tim giảm đáng kể ở nhóm 
phenylephrine và tăng ở nhóm ephedrine khi so 
sánh với mức nền. Các nghiên cứu khác và 
chúng tôi đều cho thấy liều phenylephrine đủ 
cao để gây tăng huyết áp phản ứng và nhịp 
chậm xoang sẽ gây giảm cung lượng tim đáng 
kể so với mức nền và cần phải tránh trên thực 
hành lâm sàng(5,9). Đối với nhóm ephedrine, đặc 
điểm chung của các nghiên cứu cho thấy hiệu 
quả ổn định cung lượng tim, dù tăng cao hơn 
mức nền nhưng không đáng kể(2,5,7). 
Thể tích nhát bóp có giá trị ổn định qua các 
thời điểm trong nghiên cứu của chúng tôi. Với 
cung lượng tim là tích số giữa tần số tim và thể 
tích nhát bóp, sự thay đổi cung lượng tim trong 
nghiên cứu của chúng tôi có khuynh hướng 
giống với sự thay đổi của tần số tim. Kết quả này 
cho thấy cung lượng tim được quyết định chủ 
yếu bởi tần số tim hơn là thể tích nhát bóp khi 
điều trị tụt huyết áp sau GTTS. Các nghiên cứu 
khác cũng báo cáo kết quả tương tự(5,9). Điều này 
gợi ý sự thay đổi tần số tim có thể sử dụng như 
một tham số thay thế khi không thực hiện đo 
cung lượng tim(5). Cung lượng tim ở mẹ được 
chứng minh có liên quan chặt chẽ đến lưu lượng 
máu tử cung nhau hơn huyết áp không xâm lấn 
đo ở cánh tay(10). Do đó nắm bắt trực tiếp thông 
số về thay đổi cung lượng tim (hay gián tiếp qua 
sự thay đổi tần số tim) có thể giúp ích trong chọn 
lựa và sử dụng thuốc co mạch hợp lý nhằm duy 
trì tối ưu huyết áp sau GTTS cũng như đảm bảo 
lưu lượng máu tử cung nhau hằng định (dựa 
trên việc ổn định cung lượng tim). 
Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ sản phụ có tần số 
tim nhanh sau dùng ephedrine cao hơn so với 
phenylephrine. Ngược lại, phenylephrine có 
khuynh hướng gây tần số tim chậm nhiều hơn 
so với ephedrine nhưng chưa cho thấy ý nghĩa 
thống kê (p=0,05). Tuy nhiên, chúng tôi không 
điều trị gì cho hai tình trạng này. Ephedrine có 
tác động trên thụ thể α và β làm tăng tần số tim 
và sức co bóp cơ tim với thời gian đạt tác dụng 
đỉnh có thể đến 90 giây(5) khiến cho việc đánh giá 
hiệu quả co mạch và nâng huyết áp bị chậm trễ 
khi dùng huyết áp không xâm lấn. Điều này đưa 
đến xử trí không chính xác, đặc biệt khi dò liều 
tối ưu và dễ quá liều thuốc, với hậu quả sau 
cùng là tần số tim nhanh và tăng huyết áp phản 
ứng nhiều hơn. Cả hai thuốc đều không khác 
biệt về tỷ lệ tác dụng phụ là buồn nôn/nôn cũng 
như tăng huyết áp phản ứng. 
KẾT LUẬN 
Phenylephrine có hiệu quả điều trị tụt huyết 
áp sau tê tủy sống tương đương ephedrine trên 
sản phụ không tiền căn bệnh lý tim mạch hay 
tiền sản giật với liều sử dụng thấp hơn và ít gây 
tần số tim nhanh hơn. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 282 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Saravanan S, Kocarev M, Wilson RC, et al (2006). "Equivalent 
dose of ephedrine and phenylephrine in the prevention of post-
spinal hypotension in Caesarean section". Br J Anaesth, 96(1):95-
9. 
2. Thomas DG, Robson SC, Redfern N, et al (1996). "Randomized 
trial of bolus phenylephrine or ephedrine for maintenance of 
arterial pressure during spinal anaesthesia for Caesarean 
section". Br J Anaesth, 76(1):61-5. 
3. Ngan KWD, Khaw KS, Lau TK., et al (2008). "Randomised 
double-blinded comparison of phenylephrine vs ephedrine for 
maintaining blood pressure during spinal anaesthesia for non-
elective Caesarean section". Anaesthesia, 63(12):1319-26. 
4. Prakash S, Pramanik V, Chellani H, et al (2010). "Maternal and 
neonatal effects of bolus administration of ephedrine and 
phenylephrine during spinal anaesthesia for caesarean delivery: 
a randomised study". Int J Obstet Anesth, 19(1):24-30. 
5. Dyer RA, Reed AR, van Dyk D, et al (2009). "Hemodynamic 
effects of ephedrine, phenylephrine, and the coadministration of 
phenylephrine with oxytocin during spinal anesthesia for 
elective cesarean delivery". Anesthesiology, 111(4):753-65. 
6. Phạm Lê Hoàn, Nguyễn Đức Lam (2017). "Đánh giá hiệu quả 
của phenylephrin điều trị tụt huyết áp trong gây tê tuỷ sống để 
mổ lấy thai". Y học Việt Nam, 8(2):20-24. 
7. Trần Minh Long, Nguyễn Quốc Kính (2018). "So sánh hiệu quả 
xử trí tụt huyết áp của phenylephrine và ephedrine ở sản phụ 
được gây tê tủy sống để mổ lấy thai". Nghiên cứu Y học, 
117(1):127-136. 
8. Ngan KWD, Lee A, Khaw KS, et al (2008). "A randomized 
double-blinded comparison of phenylephrine and ephedrine 
infusion combinations to maintain blood pressure during spinal 
anesthesia for cesarean delivery: the effects on fetal acid-base 
status and hemodynamic control". Anesth Analg, 107(4):1295-
302. 
9. Langesaeter E, Rosseland LA, Stubhaug A (2008). "Continuous 
invasive blood pressure and cardiac output monitoring during 
cesarean delivery: a randomized, double-blind comparison of 
low-dose versus high-dose spinal anesthesia with intravenous 
phenylephrine or placebo infusion". Anesthesiology, 109(5):856-
63. 
10. Robson SC, Boys RJ, Rodeck C, et al (1992). "Maternal and fetal 
haemodynamic effects of spinal and extradural anaesthesia for 
elective caesarean section". Br J Anaesth, 68(1):54-9. 
Ngày nhận bài báo: 10/8/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_ket_qua_dieu_tri_tut_huyet_ap_sau_gay_te_tuy_song_gi.pdf