So sánh hiệu quả tạo phôi nang giữa hai loại môi trường nuôi cấy đơn bước và nuôi cấy chuyển tiếp

Mục tiêu: So sánh hiệu quả tạo phôi nang giữa hai loại môi trường

nuôi cấy đơn bước và chuyển tiếp.

Thiết kế nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu. Số liệu được

thu thập trong thời gian từ tháng 7/2015 đến tháng 4/2016 tại IVFMD,

trong đó 92 bệnh nhân có phôi được nuôi cấy trong môi trường đơn

bước và 108 bệnh nhân có phôi được nuôi cấy trong môi trường chuyển

tiếp. Yếu tố đánh giá kết quả bao gồm tỷ lệ tạo phôi nang, tỷ lệ phôi

nang hữu dụng, tỷ lệ thai diễn tiến, tỷ lệ làm tổ.

Kết quả: Không có sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh nhân về độ tuổi,

chỉ số khối cơ thể (BMI), số lần điều trị, thời gian vô sinh, nguyên nhân

vô sinh. Tỷ lệ tạo phôi nang giữa hai môi trường đơn bước và chuyển

tiếp là tương đương (57% và 60%, P>0,05). Không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa tỷ lệ phôi nang hữu dụng, tỷ lệ thai diễn tiến, tỷ lệ

làm tổ giữa hai môi trường đơn bước và chuyển tiếp (lần lượt là 49% và

50%; 57% và 62%; 45,8% và 50,7%; P>0,05).

Kết luận: Môi trường đơn bước có hiệu quả tương đương với môi

trường chuyển tiếp trong việc tạo phôi và nuôi cấy phôi trong thụ tinh

trong ống nghiệm.

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hiệu quả tạo phôi nang giữa hai loại môi trường nuôi cấy đơn bước và nuôi cấy chuyển tiếp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh hiệu quả tạo phôi nang giữa hai loại môi trường nuôi cấy đơn bước và nuôi cấy chuyển tiếp

So sánh hiệu quả tạo phôi nang giữa hai loại môi trường nuôi cấy đơn bước và nuôi cấy chuyển tiếp
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 81 - 86, 2017
81
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Võ Nguyên Thức(1), Nguyễn Ngọc Quỳnh(1), Phạm Dương Toàn(1), Huỳnh Gia Bảo(1), Đặng Quang Vinh(1,2)
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM
SO SÁNH HIỆU QUẢ TẠO PHÔI NANG
GIỮA HAI LOẠI MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY ĐƠN BƯỚC 
VÀ NUÔI CẤY CHUYỂN TIẾP
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Võ Nguyên Thức, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 19/9/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/12/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Môi trường đơn bước, 
môi trường chuyển tiếp, tỷ lệ 
tạo phôi nang. 
Tóm tắt
Mục tiêu: So sánh hiệu quả tạo phôi nang giữa hai loại môi trường 
nuôi cấy đơn bước và chuyển tiếp.
Thiết kế nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu. Số liệu được 
thu thập trong thời gian từ tháng 7/2015 đến tháng 4/2016 tại IVFMD, 
trong đó 92 bệnh nhân có phôi được nuôi cấy trong môi trường đơn 
bước và 108 bệnh nhân có phôi được nuôi cấy trong môi trường chuyển 
tiếp. Yếu tố đánh giá kết quả bao gồm tỷ lệ tạo phôi nang, tỷ lệ phôi 
nang hữu dụng, tỷ lệ thai diễn tiến, tỷ lệ làm tổ. 
Kết quả: Không có sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh nhân về độ tuổi, 
chỉ số khối cơ thể (BMI), số lần điều trị, thời gian vô sinh, nguyên nhân 
vô sinh. Tỷ lệ tạo phôi nang giữa hai môi trường đơn bước và chuyển 
tiếp là tương đương (57% và 60%, P>0,05). Không có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê giữa tỷ lệ phôi nang hữu dụng, tỷ lệ thai diễn tiến, tỷ lệ 
làm tổ giữa hai môi trường đơn bước và chuyển tiếp (lần lượt là 49% và 
50%; 57% và 62%; 45,8% và 50,7%; P>0,05).
Kết luận: Môi trường đơn bước có hiệu quả tương đương với môi 
trường chuyển tiếp trong việc tạo phôi và nuôi cấy phôi trong thụ tinh 
trong ống nghiệm. 
Abstract 
THE EFFECTIVENESS OF SINGLE STEP CULTURE 
MEDIA AND SEQUENTIAL CULTURE MEDIA ON THE 
BLASTULATION RATE 
Objective: To compare the effectiveness of the blastulation rate 
between the two types of culture media: the single-step media and the 
sequential media. 
Patients and Methods: This was a retrospective cohort study. The 
data was collected from July-2015 to April-2016 in IVFMD. There were 
92 patients with embryos were cultured in the single step media and 
108 patients with embryos were cultured in the sequential media. The 
VÕ NGUYÊN THỨC, NGUYỄN NGỌC QUỲNH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, ĐẶNG QUANG VINH
82
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
primary outcome was the blastulation rate and the secondary outcomes were the utilization rate, the 
on-going pregnancy rate and the implantation rate. 
Results: There were no differences in patient characteristics between two groups (age, BMI, number 
of treatment cycles, infertility duration, type of infertility). There was no difference in the blastulation 
rate between the sequential media and the single-step media (57% vs 60%, P>0.05). There were no 
differences in the utilization rate, the pregnancy rate, and the implantation rate between two groups 
respectively (49% vs 50%; 57% vs 62%; 45,8% vs 50,7%; P>0.05). 
Conclusion: The two media were equivalent in relation to the blastocyst rate.
1. Đặt vấn đề 
Trong 10-15 năm qua đã có những tiến bộ lớn 
trong lĩnh vực thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) 
để cải thiện các dịch vụ cũng như tỷ lệ thành công. 
Trước đây, bệnh nhân thường được chuyển phôi 
sau 2-3 ngày nuôi cấy trong môi trường in-vitro 
tức là lúc phôi ở giai đoạn 4-8 tế bào. Tuy nhiên, 
kể từ năm 1997, việc nuôi phôi dài ngày bắt đầu 
được chú ý do nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang 
có thể cung cấp để chọn phôi tiềm năng hơn để 
chuyển cho bệnh nhân. Điều này cho phép chuyển 
ít phôi với khả năng làm tổ cao hơn, không ảnh 
hưởng đến tỷ lệ thai, và làm giảm được tỉ lệ đa 
thai. Một lý do thứ hai giúp ích cho việc sử dụng 
các phương pháp chẩn đoán di truyền tiền làm tổ, 
thông thường, sinh thiết phôi được thực hiện vào 
ngày 3 và tiếp tục nuôi cấy đến ngày 5 để chờ 
kết quả của sinh thiết trước khi chuyển phôi hoặc 
sinh thiết vào ngày 5 và trữ phôi cho chu kì chuyển 
phôi trữ kế tiếp. Để đáp ứng cho việc nuôi phôi 
dài ngày, hệ môi trường nuôi cấy phôi cần đáp 
ứng được nhu cầu dinh dưỡng của phôi ở từng giai 
đoạn phát triển.
Hầu hết các trung tâm TTTON thường sử dụng 
các sản phẩm môi trường nuôi cấy thương mại, 
trong đó các sản phẩm thương mại được sản xuất 
dựa theo hai xu hướng: “trở về tự nhiên” hay “để 
cho phôi chọn” (1).
“Trở về tự nhiên” là quan điểm dựa trên việc 
thiết lập môi trường có thành phần gần giống 
với sinh lý tự nhiên, phôi được tiếp xúc với các 
chất dinh dưỡng khác nhau từ ống dẫn trứng 
và từ tử cung, và do đó trong hệ môi trường 
nuôi cấy chuyển tiếp sẽ có hai loại môi trường 
chứa các thành phần khác nhau ứng với hai giai 
đoạn phát triển trước khi nén và sau khi nén 
của phôi (môi trường chuyển tiếp). Khi nuôi cấy 
với hệ môi trường chuyển tiếp, phôi phải được 
chuyển sang một môi trường nuôi cấy khác vào 
ngày ba. 
“Để cho phôi chọn” là quan điểm có liên quan 
đến việc sử dụng đồng thời các thành phần có 
trong môi trường nuôi cấy, ảnh hưởng của mỗi 
thành phần trong môi trường có thể phụ thuộc 
vào nồng độ của các thành phần khác. Miễn là 
nồng độ của các thành phần nằm trong “phạm 
vi chấp nhận được”, phôi sẽ tự thích nghi và sử 
dụng bất cứ thành phần chất nào mà phôi muốn 
(môi trường đơn bước). Do đó, hệ môi trường 
đơn bước chỉ có một loại môi trường nuôi cấy 
cho phôi phát triển cho hai giai đoạn phát triển 
trước khi nén và sau khi nén của phôi. Khi nuôi 
cấy với hệ môi trường đơn bước sẽ có hai cách 
nuôi cấy: thứ nhất là nuôi cấy liên tục không đổi 
môi trường vào ngày ba, thứ hai là nuôi cấy có 
chuyển môi trường vào ngày ba. Việc nuôi cấy 
có chuyển môi trường hay không chuyển môi 
trường phụ thuộc vào quy trình của labo, cũng 
như độ sạch và độ ổn định của hệ thống nuôi cấy 
phôi. Tuy nhiên không có sự khác biệt về kết quả 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 81 - 86, 2017
83
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
nuôi cấy giữa việc thay môi trường hay không 
thay môi trường vào ngày ba. 
Hiện nay, các nghiên cứu trên thế giới vẫn 
chưa xác định được môi trường chuyển tiếp hay 
môi trường đơn bước có tính ưu việt hơn trong 
việc nuôi cấy phôi. Tuy nhiên, môi trường đơn 
bước được nhiều quan tâm hơn do sử dụng thuận 
tiện và ít tốn kém. Hơn nữa, khi nuôi cấy với môi 
trường đơn bước, sẽ có ít thao tác lên trứng và 
phôi (2). Sau một thời gian xây dựng quy trình 
và thử nghiệm, chúng tôi đã đưa vào sử dụng hệ 
môi trường nuôi cấy đơn bước vào tháng 07 năm 
2016. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm so 
sánh hiệu quả nuôi cấy phôi giữa hai nhóm môi 
trường đơn bước và chuyển tiếp.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kết nghiên cứu:
Đây là nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực 
hiện tại IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức. Bệnh nhân thực 
hiện TTTON trong thời gian tháng 07/2015 đến 
tháng 4/2016.
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
• Số chu kỳ điều trị TTTON ≤ 2 chu kỳ.
• Kích thích buồng trứng bằng phác đồ 
antagonist.
• Sử dụng GnRH agonist để gây trưởng 
thành noãn.
• Nuôi cấy phôi đến ngày 5. 
Tiêu chuẩn loại trừ:
• Các chu kỳ xin-cho trứng.
• Các chu kỳ nuôi trưởng thành trứng non.
• Hồ sơ không đầy đủ dữ liệu cần thiết.
Yếu tố đánh giá kết quả:
Yếu tố chính:
• Tỷ lệ tạo phôi nang. 
Yếu tố phụ:
• Tỷ lệ phôi nang hữu dụng. 
• Tỷ lệ thai diễn tiến.
• Tỷ lệ làm tổ.
Phương pháp tiến hành:
Kích thích buồng trứng bằng phác đồ 
antagonist được áp dụng cho bệnh nhân có chỉ 
định TTTON. Vào ngày thứ 2-3 vòng kinh, liều 
FSH đầu tiên được xác định dựa trên số nang 
noãn thứ cấp AFC và nồng độ AMH. Vào ngày 
5, mũi antagonist được tiêm và kéo dài đến 
ngày tiêm mũi gây trưởng thành noãn. Đồng 
thời, qua siêu âm nang noãn và xét nghiệm nội 
tiết để đánh giá đáp ứng buồng trứng, và sau 
2-3 ngày việc đánh giá được thực hiện lại. Kích 
thích trưởng thành noãn khi có ít nhất 3 nang 
có kích thước trên 17mm khi siêu âm. Chọc hút 
noãn được tiến hành qua ngả âm đạo dưới gây 
mê và tê tại chỗ.
Chuẩn bị cho môi trường đơn bước LifeGlobal 
(LG) và môi trường chuyển tiếp Origio Sequential 
(OS) được thực hiện cho một ca vào buổi chiều 
ngày trước chọc hút trứng (ngày -1), buổi sáng 
trước chọc hút (ngày 0), buổi sáng ngày 3 (ngày 
3), và buổi chiều ngày trước chuyển phôi (ngày 
4). Tất cả các quy trình tìm rửa trứng, lọc rửa 
tinh trùng, tách trứng, tiêm tinh trùng vào bào 
tương noãn (ICSI), kiểm tra thụ tinh, đọc phôi, 
lựa phôi, chuyển phôi đều được thực hiện theo 
quy trình labo thường quy.
Noãn sau khi chọc hút sẽ được nuôi cấy 
khoảng 2 giờ ở 37oC, 6%CO2 và 5%O2. Trong 
khi đó, tinh trùng của người chồng sẽ được lọc 
rửa theo phương pháp thang nồng độ. Sau đó 
noãn được tách tế bào quanh noãn và được thực 
hiện phương pháp ICSI. Noãn sau ICSI của hai 
nhóm sẽ được nuôi cấy theo nhóm (tối đa 3 
trứng một giọt môi trường) trong cùng điều kiện 
37oC, 6%CO2 và 5%O2. Tủ cấy được sử dụng 
để nuôi cấy là tủ K-system G185. Thụ tinh được 
kiểm tra vào khoảng 16-18 tiếng sau ICSI dưới 
kính hiển vi đảo ngược. Các ca tiếp tục nuôi cấy 
ngày 5 sẽ được chuyển môi trường nuôi cấy ở 
ngày 3.
Vào ngày 5, các phôi được đánh giá vào thời 
điểm 116-118 giờ sau ICSI. Phôi ngày 5 được 
xác định khi có 3 tiêu chí đánh giá: độ nở rộng 
của khoang, khối ICM, TE. Phôi hữu dụng ngày 
5 bao gồm phôi loại I và II. Kết quả phôi được 
thông báo cho bệnh nhân. Số phôi nang chuyển 
cho bệnh nhân là 1-2 phôi. Bệnh nhân được hẹn 
thử thai beta-hCG 11 ngày sau chuyển phôi. Hỗ 
trợ hoàng thể đến khi thai ít nhất 07 tuần bằng 
estradiol và progesterone ngoại sinh.
Các số liệu được phân tích giữa hai nhóm 
như tuổi người vợ, chỉ số khối cơ thể (BMI), thời 
gian vô sinh, số chu kỳ TTTON, chỉ định TTTON, 
VÕ NGUYÊN THỨC, NGUYỄN NGỌC QUỲNH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, ĐẶNG QUANG VINH
84
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
số noãn chọc hút, số noãn trưởng thành, tỷ lệ 
thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi nang, số phôi hữu dụng 
ngày 5.
Các số liệu sẽ được trình bày dưới dạng giá 
trị trung bình ± độ lệch chuẩn hay dưới dạng 
phần trăm. Sự khác biệt giữa các giá trị trung 
bình được kiểm định bằng Student’s t-test cho 
dữ liệu theo luật phân phối chuẩn, kiểm định 
wilcoxon test cho dữ liệu không theo luật phân 
phối chuẩn, luật phân phối của các biến được 
kiểm tra bằng phương pháp shapiro test và giá 
trị phần trăm được kiểm định sự khác biệt bằng 
Chi-square test, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
được xác định khi P<0,05.
3. Kết quả
Trong thời gian từ tháng 7/2015 đến tháng 
4/2016, có 200 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nhận 
loại, trong đó có 92 bệnh nhân sử dụng môi 
trường đơn bước và 108 bệnh nhân sử môi trường 
chuyển tiếp. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong 
hai nhóm được trình bày ở Bảng 1. 
Đặc điểm Môi trường đơn bước (n=92)
Môi trường chuyển 
tiếp (n=108) P
Tuổi (năm) 31,32 (4,83) 31,03 (4,19) 0,652
BMI (kg/m2) 21,12 (2,64) 20,97 (2,14) 0,661
Số chu kì điều 
trị (%)
1 72 (78,3) 75 (69,4)
0,217
2 20 (21,7) 33 (30,1)
Loại vô sinh 
(%)
Nguyên phát 49 (53,3) 66 (61,1)
0,329
Thứ phát 43 (46,7) 42 (38,9)
Nguyên nhân 
vô sinh (%)
Chưa rõ nguyên nhân 7 (7,6) 9 (8,3)
0,838
Lạc nội mạc tử cung 3 (3,3) 2 (1,9)
Vô sinh nam 30 (32,6) 31 (28,7)
Khác 8 (8,7) 12 (11,1)
Rối loạn phóng noãn 25 (27,2) 25 (23,1)
Tai vòi 19 (20,7) 29 (26,9)
Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân giữa 2 nhóm
Đặc điểm Môi trường đơn bước Môi trường chuyển tiếp P
Số trứng chọc hút 22,43 (7,86) 22,90 (8,89) 0,699
Số trứng trưởng thành 18,70 (6,35) 19,24 (6,86) 0,563
Tỷ lệ thụ tinh 88% (0,1) 85% (0,11) 0,074
Tỷ lệ phôi nang hữu dụng 49% (0,23) 50% (0,21) 0,717
Tỷ lệ tạo phôi nang/thụ tinh 57% (0,2) 60% (0,16) 0,237
Bảng 2: Kết quả phôi học
Đặc điểm Môi trường đơn bước Môi trường chuyển tiếp P
Tỷ lệ thai diễn tiến 57% 62% 0,623
Tỷ lệ làm tổ 45,8% 50,7% 0,387
Bảng 3: Kết quả thai
4. Bàn luận 
Đây là một nghiên cứu được thực hiện nhằm 
so sánh hiệu quả của nuôi cấy phôi trong môi 
trường đơn bước và môi trường chuyển tiếp. Kết 
quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt 
về tỷ lệ tạo phôi nang, tỷ lệ tạo phôi hữu dụng, 
tỷ lệ thai diễn tiến, tỷ lệ làm tổ giữa hai nhóm. 
Sự phát triển của môi trường chuyến tiếp dựa 
trên nồng độ đo được của các thành phần ở ống 
dẫn trứng và lòng tử cung. Phôi có khả năng 
chủ động kiểm soát sự trao đổi chất, và do đó 
có thể điều chỉnh môi trường nội bào của mình. 
Vì vậy, thành phần môi trường đã được thay đổi 
trong từng giai đoạn và thời điểm phát triển để 
đáp ứng các nhu cầu của phôi (3). Do đó việc 
thay đổi môi trường ở ngày ba thường được thực 
hiện. Với môi trường nuôi cấy đơn bước, phôi 
được nuôi cấy liên tục trong một môi trường từ 
giai đoạn hợp tử đến giai đoạn phôi nang, có 
thể nuôi cấy không bị gián đoạn hoặc gián đoạn 
để thay đổi môi trường mới vào ngày ba (4). Tuy 
nhiên, cho dù sử dụng hệ môi trường nào, việc 
đánh giá sự phát triển của phôi đa phần được 
thực hiện ở môi trường bên ngoài tủ cấy. Điều 
này gây một phần ảnh hưởng lên phôi do sự 
thay đổi đột ngột về pH, nhiệt độ, ánh sáng từ 
kính hiển vi sôi nổi. Điểm quan trọng chính đó 
là các phôi khác nhau sẽ phát triển khác nhau 
(5). Do đó nhu cầu dinh dưỡng cung cấp cho 
phôi tại một thời điểm sẽ khác nhau. Đối với môi 
trường chuyển tiếp, ở ngày ba, việc cung cấp 
nguồn dinh dưỡng mới cho phôi bị chậm trễ do 
việc thay môi trường vào buổi chiều theo quy 
trình labo. Đối với môi trường đơn bước, thành 
phần dinh dưỡng cho phôi đã có đủ và cung cấp 
ngay khi phôi cần bất cứ lúc nào.
Ngày nay, với việc nuôi cấy bằng tủ time-
lapse cho phép đánh giá phôi liên tục mà không 
cần phải đưa phôi ra khỏi tủ cấy. Điều này có 
giảm thiểu stress do việc di chuyển phôi ra khỏi 
tủ cấy. Trong thực tế, việc giảm số lần mở cửa 
tủ cấy làm tăng sự ổn định của môi trường nuôi 
cấy và một phần cải thiện sự phát triển của phôi 
(6). Hơn nữa, đối với môi trường chuyển tiếp 
đòi hỏi cần phải thay đổi môi trường nuôi cấy ở 
ngày ba, việc di chuyển phôi giữa các giọt môi 
trường nuôi cấy bằng pipet có thể gây ra sự gia 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 81 - 86, 2017
85
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
tăng stress cho phôi. Đồng thời, mỗi thao tác 
với phôi cũng làm tăng nguy cơ mất phôi. Tuy 
nhiên, nuôi cấy bằng tủ time-lapse và hệ môi 
trường đơn bước, không cần thiết phải đổi môi 
trường vào ngày ba (7). Do đó, việc không thay 
đổi môi trường đồng với việc giảm thao tác và 
giảm stress cho phôi. 
Các nghiên cứu về môi trường nuôi cấy phôi 
hiện nay đang tập trung vào việc tránh tác động 
của di truyền ngoài nhân lên phôi (8,9). Những 
tiến bộ trong khoa học này sẽ dần thay thế cách 
đánh giá về hình thái và sinh tổng hợp của phôi 
bằng việc tập trung nhiều vào những tác động 
của môi trường nuôi cấy trên biểu hiện gen trong 
quá trình phát triển và các phản ứng chuyển hóa 
của phôi (10). Môi trường nuôi cấy phôi không 
những có vai trò quan trọng đến sự phát triển 
phôi về mặt hình thái mà còn ảnh hưởng đến di 
truyền ngoài nhân (11).
Hiện nay có nhiều nghiên cứu so sánh 
hai hệ môi trường đơn bước và chuyển tiếp. 
Nghiên cứu chia trứng nuôi cấy đến ngày 5 so 
sánh môi trường đơn bước (KSOMAA) và môi 
trường chuyển tiếp P-1 và CCM cho thấy không 
có sự khác biệt trong sự phát triển phôi nang 
giữa hai môi trường (12). Tương tự, nghiên cứu 
ngẫu nhiên so sánh sự phát triển của phôi trong 
môi trường đơn bước Rotterdam và môi trường 
chuyển tiếp G1 / G2 không tìm thấy bất kỳ sự 
khác biệt trong tỷ lệ tạo phôi nang, tỷ lệ làm tổ 
và tỷ lệ thai (2). Kết quả tương tự cũng được tìm 
thấy ở nghiên cứu khác khi sử dụng môi trường 
đơn bước (Global) cho kết tương đương với môi 
trường chuyển tiếp (13). Một nghiên cứu khác 
gần đây của Hardarson và công sự, nghiên cứu 
ngẫu nhiên mù đôi cho kết quả tỷ lệ tạo phôi 
nang tương tự ở nhóm môi trường đơn bước 
là 54,7% và nhóm môi trường chuyển tiếp là 
56,4% (7). 
Ngoài ra, một kết quả khác cho thấy phôi 
nang phát triển tốt hơn và tỷ lệ làm tổ cao hơn 
khi nuôi ở môi trường đơn bước (14,15). Một lý 
do giải thích vì sao môi trường đơn bước giúp 
phôi phát triển tốt hơn là do thành phần amino 
acid. Ngược lại với môi trường chuyển tiếp, môi 
trường đơn bước cung cấp số lượng và hàm 
lượng lớn các amino acid cho phôi ở giai đoạn 
trước khi nén. Amino acid đã được chứng minh 
có liên quan đến phát triển phôi và tỷ lệ thai 
(16,17). Một lý do khác khi sử dụng môi trường 
chuyển tiếp là cần phải đổi môi trường nuôi cấy 
ở ngày ba. Phôi có thể bị ảnh hưởng do việc 
phải thích nghi với môi trường có thành phần và 
nồng độ khác (18,19). Hầu hết các nghiên cứu 
trên có thiết kế nghiên cứu giống với nghiên cứu 
của chúng tôi là đều có đổi môi trường vào ngày 
ba đối với hệ môi trường đơn bước. Kết quả của 
các nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt 
giữa hai môi trường và cũng tương tự với kết quả 
của chúng tôi.
Hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi là 
việc kiểm tra thụ tinh và kiểm tra phôi đều thực 
hiện ở môi trường ngoài tủ cấy do đó không 
tránh được các yếu tố stress cho phôi. Đây chỉ 
là nghiên cứu hồi cứu, cần có nghiên cứu lâm 
sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng để cho kết 
quả thuyết phục hơn. Tuy nhiên, khi sử dụng 
môi trường đơn bước, hiệu quả của việc quản 
lý chất lượng, kinh tế và thời gian sẽ được tối 
ưu, khối lượng công việc ít hơn, chuẩn bị đĩa 
nuôi cấy thuận tiện hơn. Với những lợi thế khi 
sử dụng môi trường đơn bước cùng với các bằng 
chứng ngày càng nhiều về kết quả của nuôi cấy 
phôi tương đương và thậm chí tốt hơn so với 
môi trường chuyển tiếp. Do đó, cần cân nhắc 
sử dụng môi trường nào phù hợp với điều kiện 
và quy trình của labo để mang lại hiệu quả cao 
cho bệnh nhân.
5. Kết luận 
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường nuôi 
cấy đơn bước có thể được sử dụng thường quy 
trong labo TTTON với tỷ lệ tạo phôi nang và tỷ lệ 
thai tương đương môi trường chuyển tiếp . 
Tài liệu tham khảo
1. Summers MC, Biggers JD. Chemically defined media and the culture 
of mammalian preimplantation embryos: historical perspective and current 
issues. Hum Reprod Update. 2003; 9:557-82.
2. Macklon, N.S., Pieters, M.H., Hassan, M.A., et al., A prospective 
randomized comparison of sequential versus mono- culture systems 
for in-vitro human blastocyst development. Hum. Reprod. 2002; 
17:2700-2705. 
3. Lane, M., Gardner, D.K. Embryo culture medium: which is the best? 
Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol. 2007; 21:83-100.
4. Biggers JD and Summers MC. Choosing a culture medium: making 
informed choices. Fertil Steril. 2008; 90:473-83. 
5. Y.S.L. Lee, G.A. Thouas, and D.K. Gardner ., Developmental kinetics 
of cleavage stage mouse embryos are related to their subsequent 
carbohydrate and amino acid utilization at the blastocyst stage. Hum 
Reprod, 2015 Vol.30, No.3 pp. 543 – 552, 
6. Sepulveda, S., Garcia, J., Arriaga, E., et al. In vitro development 
and pregnancy outcomes for human embryos cultured in either a single 
medium or in a sequential media system. Fertil Steril. 2009; 91:1765-1770.
7. Hardarson T, Bungum M, Conaghan J, Meintjes M, Chantilis SJ, Molnar 
L, Gunnarsson K, Wikland M. No inferiority, randomized, controlled trial 
comparing embryo development using media developed for sequential or 
undisturbed culture in a time-lapse setup. Fertil Steril. 2015; 104:1452-9.
8. Niemitz E, Feinberg AP. Epigenetics and assisted reproductive 
technology: a call for investigation. Am J Hum Genet. 2004; 74:599-609. 
9. Johnson M. The problematic in vitro embryo in the age of epigenetics. 
Reprod BioMed Online. 2005; 10(Suppl 1):88-96. 
10. Young L. Human embryonic stem cell methyl cycle enzyme 
expression: modeling programming in assisted reproduction. Reprod 
BioMed Online. 2005; 10:755-66. 
11. Market-Velker BA, Fernandes AD, Mann MR. Side-by-side 
comparison of five commercial media systems in a mouse model: 
suboptimal in vitro culture interferes with imprint maintenance. Biol 
Reprod. 2010; 83(6):938-50.
12. Biggers, J.D., Racowsky, C., The development of fertilized human 
ova to the blastocyst stage in KSOM(AA) medium: is a two-step protocol 
necessary? Reprod. Biol Med Online. 2002; 5:133-140. 
13. Angus, S., Grunert, G.M., Dunn, R.C., et al., No advantage of using 
the sequential GIII media versus the single media global. Fertil Steril. 
2006; 86:229. 
14. Zech, N., Stecher, A., Zech, H., et al., Prospective analysis of 
embryo development to day 5 and transfer outcomes in sequential 
medium (G1.3–G2.3) versus a one step protocol (Global medium). Hum 
Reprod. 2006; 21:i162. 
15. Sepulveda, S., Garcia, J., Arriaga, E., et al., In vitro development 
and pregnancy outcomes for human embryos cultured in either a single 
medium or in a sequential media system. Fertil Steril. 2009; 91:1765-1770. 
16. Brison, D.R., Houghton, F.D., Falconer, D., et al., Identification of 
viable embryos in IVF by non-invasive measurement of amino acid 
turnover. Hum Reprod. 2004; 19:2319-2324. 
17. Houghton, F.D., Hawkhead, J.A., Humpherson, P.G., et al., Non-
invasive amino acid turnover predicts human embryo development 
capacity. Hum. Reprod. 2002; 17:999-1005. 
18. Biggers, J.D., McGinnis, L.K., Raffin, M., Amino acids and 
preimplantation development of the mouse in protein-free potassium 
simplex optimized medium. Biol Reprod. 2000; 63:281-293. 
19. Ho, Y., Wigglesworth, K., Eppig, J.J., et al., Preimplantation 
development of mouse embryos in KSOM: augmentation by amino acids 
and analysis of gene expression. Mol Reprod Dev. 1995; 41:232-238. 
VÕ NGUYÊN THỨC, NGUYỄN NGỌC QUỲNH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, ĐẶNG QUANG VINH
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
86
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_hieu_qua_tao_phoi_nang_giua_hai_loai_moi_truong_nuoi.pdf