So sánh hiệu quả của pergoveris với follitropin alfa trong kích thích buồng trứng ở bệnh nhân ≥ 35 tuổi

Đặt vấn đề: Cải thiện kết quả thụ tinh

trong ống nghiệm ở bệnh nhân lớn tuổi ≥ 35

là một thách thức cho các bác sĩ lâm sàng.

Bổ sung LH trong KTBT có thể là một trong

những chiến lược, tuy nhiên, vấn đề này vẫn

còn tranh cãi.

phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm

lâm sàng có nhóm chứng trên 240 bệnh nhân

≥ 35 tuổi nhằm so sánh tỉ lệ thai lâm sàng và

làm tổ của phôi giữa 2 nhóm bệnh nhân có

bổ sung LH (Pergoveris) và không bổ sung

LH (Follitropin alfa, Gonal-F) trong kích thích

buồng trứng. Kích thích buồng trứng được

tiến hành sử dụng phác đồ GnRH antagonist.

Bổ sung LH bằng cách thay thế follitropin

alfa bằng pergoveris từ ngày 6 của kích thích

buồng trứng

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hiệu quả của pergoveris với follitropin alfa trong kích thích buồng trứng ở bệnh nhân ≥ 35 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh hiệu quả của pergoveris với follitropin alfa trong kích thích buồng trứng ở bệnh nhân ≥ 35 tuổi

So sánh hiệu quả của pergoveris với follitropin alfa trong kích thích buồng trứng ở bệnh nhân ≥ 35 tuổi
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
80
SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA PERGOVERIS 
VỚI FOLLITROPIN ALFA TRONG KíCH THíCH BUồNG 
TRỨNG Ở BỆNH NHÂN ≥ 35 TUỔI 
Vương Thị Ngọc Lan(1), phùng huy Tuân(2), Nguyễn Thị Ngọc Nhân(2), Nguyễn Việt Quốc(3), Nguyễn Thị Ngọc anh(3), hồ Mạnh Tường(3)
(1) Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TPHCM
(2) IVFAS, Bệnh viện An Sinh
(3) Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe sinh sản, Khoa Y, Đại học Quốc gia, TPHCM
tóm tắt
Đặt vấn đề: Cải thiện kết quả thụ tinh 
trong ống nghiệm ở bệnh nhân lớn tuổi ≥ 35 
là một thách thức cho các bác sĩ lâm sàng. 
Bổ sung LH trong KTBT có thể là một trong 
những chiến lược, tuy nhiên, vấn đề này vẫn 
còn tranh cãi.
phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm 
lâm sàng có nhóm chứng trên 240 bệnh nhân 
≥ 35 tuổi nhằm so sánh tỉ lệ thai lâm sàng và 
làm tổ của phôi giữa 2 nhóm bệnh nhân có 
bổ sung LH (Pergoveris) và không bổ sung 
LH (Follitropin alfa, Gonal-F) trong kích thích 
buồng trứng. Kích thích buồng trứng được 
tiến hành sử dụng phác đồ GnRH antagonist. 
Bổ sung LH bằng cách thay thế follitropin 
alfa bằng pergoveris từ ngày 6 của kích thích 
buồng trứng.
Kết quả: Không có sự khác biệt về số 
noãn chọc hút, số phôi, tỉ lệ làm tổ của phôi 
và tỉ lệ thai lâm sàng giữa nhóm Pergoveris 
và nhóm Gonal-F. Tuy nhiên, tỉ lệ thai lâm 
sàng của nhóm Pergoveris ngày càng cao 
hơn nhóm Gonal-F khi đối tượng bệnh nhân 
là những người có tiên lượng điều trị khó 
khăn (25,4% so với 19,2% khi bệnh nhân ≥ 
38 tuổi, 25% so với 18,4% khi bệnh nhân có 
giảm dự trữ buồng trứng, 28,6% so với 8,3% 
khi bệnh nhân ≥ 38 tuổi và có giảm dự trữ 
buồng trứng).
Kết luận: Không có sự khác biệt về kết quả 
KTBT và tỉ lệ thai lâm sàng giữa 2 nhóm có và 
không bổ sung LH. Tỉ lệ thai lâm sàng ở nhóm 
Pergoveris cao hơn nhóm Gonal-F ngày càng rõ 
rệt khi bệnh nhân là nhóm tiên lượng điều trị 
khó khăn.
từ khóa: Bổ sung LH, Pergoveris, follitropin 
alfa, kích thích buồng trứng, thụ tinh trong 
ống nghiệm
Summary
compaRing tHE EFFicacy oF pERgoVERis WitH 
FoLLitRopin aLFa FoR oVaRian stimuLation in 
patiEnts ≥ 35 yEaRs oLd
introduction: Improving IVF outcomes in 
patients who are ≥ 35 years old is a challenge for 
clinicians. LH supplementation in the ovarian 
stimulation regime could be one strategy; 
however, it is still very controversial.
methods: A randomized controlled trial 
was conducted on 240 patients ≥ 35 years 
old to compare the clinical pregnancy rate 
and implantation rate between two groups 
of patients who had LH supplementation 
(Pergoveris) and had not LH supplementation 
(Follitropin alfa, Gonal-F) in the ovarian 
stimulation regime. Ovarian stimulation 
was performed by using GnRH antagonist 
protocol. LH supplementation was done by 
replacing follitropin alfa by pergoveris from 
day 6 of stimulation.
results: There were no significant 
differences in the number of oocytes retrieved, 
number of embryos, clinical pregnancy rate 
and implantation rate between Pergoveris 
group and Gonal-F group. However, the 
clinical pregnancy rate in the Pergoveris 
group tended to be higher when patients 
VươNg Thị NgọC LaN, phùNg huy TuâN, NguyễN Thị NgọC NhâN, NguyễN ViệT QuốC, NguyễN Thị NgọC aNh, hồ MạNh TườNg
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
81
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 80-86, 2013
were of the poor prognostic groups (25.4% vs. 
19.2% in patients of ≥ 38 years, 25% vs. 18.4% 
in patients with reduced ovarian reserve, 
28.6% vs. 8.3% in patients of ≥ 38 years and 
had reduced ovarian reserve).
conclusion: No significant differences were 
found with regard to the ovarian stimulation 
outcomes and the clinical pregnancy rate 
between two groups of patients who had 
and had not LH supplementation. The clinical 
pregnancy rate tended to be higher in patients 
with difficult prognosis.
từ khóa: LH supplementation, Pergoveris, 
follitropin alfa, ovarian stimulation, in-vitro 
fertilization
ĐẶt vấn Đề
Sự phát triển nang noãn ở buồng trứng cần 
thiết cả 2 loại gonadotrophin FSH và LH. FSH 
là nội tiết chính của quá trình chiêu mộ, phát 
triển nang noãn và tổng hợp estrogen trong tế 
bào hạt. LH cũng có vai trò quan trọng trong 
sinh lý phát triển nang noãn [3], gồm: (i) kích 
thích sự tổng hợp androgen ở tế bào vỏ, được 
vận chuyển qua tế bào hạt, là tiền chất tổng 
hợp estrogen ở tế bào hạt, (ii) làm cho buồng 
trứng tăng nhạy cảm với FSH, (iii) gây trưởng 
thành noãn và phóng noãn, (iv) tăng khả năng 
hoàng thể hóa của nang noãn khi tiếp xúc với 
hCG và (v) ngoài ra, thụ thể LH còn được tìm 
thấy trên nội mạc tử cung (NMTC), do đó, có 
khả năng LH còn có vai trò trong quá trình làm 
tổ của phôi [6]. 
Dựa trên các nghiên cứu cơ bản về vai trò 
của LH trong phát triển nang noãn, khái niệm 
về cửa sổ LH được thiết lập. Khi LH quá thấp 
<1,2 mIU/ml, sự phát triển nang noãn bị giảm, 
giảm tổng hợp hormone steroid, không có sự 
trưởng thành noãn hoàn toàn và tỉ lệ có thai 
thấp [4,5]. LH quá cao >5 mIU/ml sẽ làm cho 
thụ thể LH bị mất đi do quá trình điều hòa 
giảm thụ thể, ức chế sự tăng trưởng của tế bào 
hạt. Kết quả TTTON đưa đến tỉ lệ thụ tinh kém, 
làm tổ kém và tỉ lệ có thai kém [7,9,8]. Khi LH 
trong khoảng 1,2 mIU/ml - 5 mIU/ml, sự phát 
triển nang noãn tối ưu và trưởng thành noãn 
hoàn toàn. 
Kích thích buồng trứng là một khâu quan 
trọng nhằm đạt được sự phát triển nang noãn 
và nội mạc tử cung tối ưu, cải thiện kết quả 
cho một chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống 
nghiệm. Các phác đồ kích thích buồng trứng 
(KTBT) trong thụ tinh trong ống nghiệm 
(TTTON) đều ức chế LH nội sinh, do đó, về 
mặt lý thuyết, một số trường hợp cần bổ 
sung LH. Thực tế, có khoảng 10-12% người 
bệnh đáp ứng không phù hợp với các phác 
đồ KTBT hiện sử dụng, được cho là do thiếu 
LH [2]. Vì vậy, bổ sung LH trong KTBT TTTON 
là cần thiết và được áp dụng ở rất nhiều 
trung tâm TTTON. Tuy nhiên, trong thực tế, 
đối tượng người bệnh nào có ích lợi từ bổ 
sung LH và cách bổ sung LH như thế nào là 
các vấn đề còn được tranh luận rất nhiều. 
Theo đồng thuận về bổ sung LH trong KTBT 
TTTON của các chuyên gia Châu Á – Thái Bình 
Dương [11], các bệnh nhân được ghi nhận 
chắc chắn có ích lợi từ bổ sung LH gồm: suy 
buồng trứng trung tâm (nhóm 1 theo phân 
loại Không phóng noãn của Tổ chức Y tế Thế 
giới), tiền sử đáp ứng kém với KTBT (<4 noãn 
với KTBT tiêu chuẩn, liều FSH tối thiểu 300 IU/
ngày), và đáp ứng buồng trứng không tối ưu 
trong chu kỳ đang điều trị (vào ngày 6 của 
KTBT, không có nang noãn >10 mm, E2 <200 
pg/ml, NMTC <6mm).
Ngoài ra, nhóm bệnh nhân ≥ 35 tuổi được 
ghi nhận là có thể có ích lợi từ bổ sung LH. 
Đây là nhóm có nguy cơ đáp ứng buồng 
trứng kém hay không tối ưu do dự trữ buồng 
trứng đã bị giảm. Hơn nữa, hoạt tính sinh học 
của LH đựơc ghi nhận có khuynh hướng giảm 
dưới ngưỡng ở các bệnh nhân trên 35 tuổi 
[11]. Bosch và cs (2011) [1] đã báo cáo tỉ lệ 
làm tổ của phôi và tỉ lệ thai diễn tiến tăng rõ 
rệt ở nhóm bệnh nhân > 35 tuổi có bổ sung 
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
82
LH so với không bổ sung LH tái tổ hợp vào 
phác đồ KTBT (26,7% so với 18,6% và 33,5% 
so với 25,3%, p < 0,05). Tuy nhiên, số nghiên 
cứu thử nghiệm lâm sàng bổ sung LH ở nhóm 
bệnh nhân > 35 tuổi chưa nhiều nên chưa đủ 
bằng chứng để ủng hộ cho việc bổ sung LH 
thường qui ở các bệnh nhân này. 
Tại Việt Nam, bổ sung LH trong KTBT đã 
được thực hiện từ 2004, chủ yếu cho bệnh 
nhân đáp ứng kém và đáp ứng buồng trứng 
không tối ưu trong chu kỳ điều trị. Một 
nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm 
chứng thực hiện bổ sung LH tái tổ hợp vào 
phác đồ KTBT ở bệnh nhân đáp ứng buồng 
trứng không tối ưu đã ghi nhận tỉ lệ có thai 
lâm sàng cải thiện rõ rệt ở nhóm có bổ sung 
so với không bổ sung LH tái tổ hợp [10]. Theo 
thống kê của chúng tôi trong năm 2011, tỉ lệ 
bệnh nhân ≥ 35 tuổi điều trị thụ tinh trong 
ống nghiệm là khá nhiều, chiếm 23,7% và 
tỉ lệ thai lâm sàng ở nhóm này thấp hơn 
đáng kể so với nhóm < 35 tuổi (29,9% so với 
40,5%). Cải thiện tỉ lệ thành công của TTTON 
ở nhóm bệnh nhân này là cần thiết. Bổ sung 
LH vào phác đồ KTBT ở bệnh nhân ≥ 35 tuổi 
có thể là một giải pháp, mặc dù hiện tại, chưa 
đủ nghiên cứu để chứng minh có hiệu quả 
chắc chắn. 
Loại LH được bổ sung thường ở 2 dạng, 
LH tái tổ hợp và LH trong hMG. hMG được ghi 
nhận có thể gây nội hóa thụ thể của LH, làm 
giảm tác dụng của LH bổ sung. LH tái tổ hợp 
tinh khiết, hoạt tính sinh học ổn định và định 
liều chính xác hơn. Tuy nhiên, LH tái tổ hợp ở 
dạng trình bày riêng lẻ, khi bổ sung vào phác 
đồ KTBT thường làm cho bệnh nhân phải thực 
hiện thêm một mũi thuốc tiêm. Gần đây, LH tái 
tổ hợp được pha vào FSH tái tổ hợp trong cùng 
một ống thuốc (Pergoveris, Merck-Serono, 
Germany) để giảm số mũi tiêm, tạo thuận tiện 
hơn cho bệnh nhân. 
Với mong muốn cải thiện tỉ lệ thành công ở 
nhóm bệnh nhân ≥ 35 tuổi, chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu này nhằm so sánh hiệu quả của 
Pergoveris (FSH + LH tái tổ hợp) với Follitropin 
alpha (FSH tái tổ hợp) trong kích thích buồng 
trứng làm thụ tinh trong ống nghiệm.
mỤc tiÊu nghiÊn cứu
So sánh hiệu quả của bổ sung LH (dưới dạng 
Pergoveris) và không bổ sung LH (chỉ sử dụng 
Follitropin alpha) trong KTBT ở bệnh nhân ≥ 35 
tuổi làm TTTON.
phƯơng phÁp nghiÊn cứu
tHiết kế ngHiên cứu: 
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có 
nhóm chứng
Đối tượng ngHiên cứu: 
Bệnh nhân ≥ 35 tuổi thực hiện thụ tinh trong 
ống nghiệm thỏa các tiêu chuẩn sau:
• Tiêu chuẩn nhân
 o Số chu kỳ điều trị ≤ 3
 o Không có các bệnh lý rối loạn nội 
tiết: u tuyến yên, tăng PRL, rối loạn nội tiết 
tuyến giáp
 o Không có tiền căn phẫu thuật trên 
buồng trứng
 o Không có bất thường tử cung: TC 2 
sừng, dính buồng TC,
• Tiêu chuẩn loại
 o PCOS
 o Suy buồng trứng trung tâm
 o Thực hiện kỹ thuật IVM 
cỡ mẫu: 
Cỡ mẫu được tính theo công thức kiểm định 
2 tỉ lệ trong 2 quần thể với
α = 0,05
Lực của test 1-β = 90%
P1 (tỉ lệ thai lâm sàng của nhóm có bổ sung 
LH): 28,4% (Vuong và cs., 2004)
P2 (tỉ lệ thai lâm sàng của nhóm không bổ 
sung LH): 9,8% (Vuong và cs., 2004)
VươNg Thị NgọC LaN, phùNg huy TuâN, NguyễN Thị NgọC NhâN, NguyễN ViệT QuốC, NguyễN Thị NgọC aNh, hồ MạNh TườNg
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
83
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 80-86, 2013
Cỡ mẫu tối thiểu được tính là 109 bệnh 
nhân cho mỗi nhóm. Ước tính tỉ lệ bỏ dỡ điều 
trị do đáp ứng rất kém với KTBT khoảng 10%. 
Do đó, cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi nhóm được 
tính là 120.
Địa Điểm Và tHời gian tiến HànH ngHiên cứu: 
Nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Di 
truyền và Sức khỏe sinh sản, Khoa Y, Đại học 
Quốc gia quản lý, lấy mẫu tại IVFAS, bệnh 
viện An Sinh từ tháng 7/2012 đến tháng 
3/2013. 
cácH tiến HànH
- Bệnh nhân được thực hiện các khảo sát cần 
thiết trước khi KTBT để được chọn vào nghiên 
cứu, gồm hỏi bệnh sử, định lượng AMH, đếm 
AFC, siêu âm phụ khoa.
- Bệnh nhân được giải thích và ký cam kết 
tham gia vào nghiên cứu 
- Thực hiện phân nhóm ngẫu nhiên: theo 
kiểu khối (block randomization). Bệnh nhân 
thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được ngẫu nhiên 
chia nhóm trước khi bắt đầu KTBT từ ngày thứ 
2 của chu kỳ kinh.
- Kích thích buồng trứng: sử dụng phác đồ 
GnRH antagonist
 o FSH tái tổ hợp (Follitropin alfa, Gonal 
F, Merck-Serono) được bắt đầu vào ngày 2 hay 
ngày 3 của chu kỳ kinh. Liều đầu FSH được xác 
định tùy theo từng bệnh nhân, theo qui trình 
đang thực hiện như sau:
 + AFC ≤ 6: 300 IU/ngày
 + AFC 7-15: 225 IU/ngày
 + AFC ≥ 16: 150 IU/ngày
 o GnRH antagonist (Cetrotide, Merck-
Serono) được bắt đầu vào ngày 5 của tiêm FSH
 o Bổ sung LH tái tổ hợp được thực hiện 
từ ngày thứ 6 của tiêm FSH. Bệnh nhân thuộc 
nhóm Pergoveris sẽ được giảm liều Gonal F đi 
150 IU/ngày và thay thế bằng Pergoveris (150IU 
FSH + 75IU LH)/ngày. Nhóm Gonal F vẫn giữ 
loại thuốc cũ. Ở cả 2 nhóm bệnh nhân, nếu thấy 
số nang phát triển không phù hợp, có thể điều 
chỉnh tăng hay giảm liều tùy theo nhận định 
của bác sĩ.
 o Theo dõi sự phát triển nang noãn 
được thực hiện bằng siêu âm đầu dò âm đạo, 
định lượng LH, estradiol và progesterone, bắt 
đầu từ ngày thứ 5 của FSH, theo qui trình hiện 
tại của bệnh viện.
- Chọc hút trứng và chuyển phôi: chọc hút 
trứng tiến hành 36 giờ sau tiêm hCG. Chuyển 
phôi ngày 2.
- Hỗ trợ hoàng thể: phối hợp progesterone 
bơm âm đạo 2 ống/ngày (Crinone 8% gel, 
Merck-Serono) và hCG 1000 IU, được tiêm vào 
ngày 4 sau chuyển phôi nếu bệnh nhân không 
có nguy cơ quá kích buồng trứng. Nếu bệnh 
nhân có nguy cơ quá kích buồng trứng, phối 
hợp progesterone và estradiol (4mg/ngày, 
uống, chia làm 2 lần)
- Thử thai và siêu âm thai: thử thai thực hiện 
vào 14 ngày sau chuyển phôi. Beta hCG > 5mIU/
ml được xem là dương tính. Siêu âm thai thực 
hiện 3 tuần sau thử thai dương tính.
yếu tố ĐánH giá kết quả
• Kết cục chính
 o Tỉ lệ thai lâm sàng
 o Tỉ lệ làm tổ của phôi
• Kết cục phụ
 o Tỉ lệ sẩy thai
 o Số ngày tiêm thuốc
 o Tổng số đơn vị FSH sử dụng
 o Nồng độ estradiol ở ngày tiêm hCG
 o Độ dày NMTC ngày tiêm hCG
 o Tỉ lệ đỉnh LH sớm (> 10IU/L), tăng 
progesterone sớm (> 1,5 ng/ml) ở ngày tiêm hCG
 o Tỉ lệ quá kích buồng trứng
 o Tỉ lệ hủy chu kỳ do đáp ứng kém 
(< 3 nang phát triển sau ít nhất 8 ngày tiêm 
thuốc KTBT)
 o Số trứng chọc hút
 o Số phôi
 o Số phôi tốt
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
84
thu thập và Xử lý SỐ liệu
Thu thập số liệu được thực hiện bằng 
bảng câu hỏi. Xử lý số liệu sử dụng phần 
mềm SPSS 13.0.
Kết QuẢ
Từ tháng 9/2012 đến 1/2013, có 240 bệnh 
nhân được thu nhận vào nghiên cứu, trong đó, 
nhóm Pergoveris có 120 bệnh nhân và nhóm 
Gonal-F có 120 bệnh nhân. Số bệnh nhân hoàn 
tất các công đoạn của qui trình nghiên cứu 
được mô tả trong bảng 1.
pergoveris
(n = 120)
gonal-F
(n = 120) p
số chu kỳ chọc hút noãn 109 102 0,2
số chu kỳ chuyển phôi 100 93 0,3
số chu kỳ bị ngưng điều trị
 - Do đáp ứng kém
 - Do nguyên nhân khác
5
6
13
5
0,09
-
pergoveris
(n = 120)
gonal-F 
(n = 120) p
Tuổi 38,8 ± 2,7 38,3 ± 2,4 0,3
số chu kỳ điều trị 1,7 ± 0,8 1,5 ± 0,7 0,2
BMi (kg/m2) 19,5 ± 2,1 19,1 ± 2,2 0,2
aMh (ng/ml) 2,3 ± 1,8 2,3 ± 1,9 0,9
aFC 7,9 ± 4,4 7,8 ± 4,7 0,8
số chu kỳ có giảm dự trữ buồng trứng
(aMh ≤ 1,1 ng/ml hay aFC < 6)
49 (45,4%) 59 (54,6%) 0,06
pergoveris 
(n=109)
gonal-F 
(n=102) p
số ngày KTBT 10,1 ± 1,4 10,0 ± 1,3 0,4
Tổng liều Fsh sử dụng (iu) 2763 ± 707 2616 ± 569 0,09
Nồng độ estradiol ở ngày tiêm 
hCg (pg/ml) 3196 ± 3438 3161 ± 3602 0,9
Độ dày NMTC ở ngày tiêm hCg (mm) 11,2 ± 2,4 11,2 ± 2,1 0,9
Tỉ lệ chu kỳ có tăng 
progesterone sớm 7 (6,4%) 9 (8,8 %) 0,7
Tỉ lệ chu kỳ có tăng Lh sớm 1 (0,9%) 2 (2,0%) 0,6
Bảng 1: số bệnh nhân hoàn tất các công đoạn của qui trình nghiên cứu.
Bảng 2: Đặc điểm bệnh nhân (n=240)
Bảng 3: Đặc điểm kích thích buồng trứng (n=211)
pergoveris (n=109) gonal-F (n=102) p
số trứng 8,3 ± 5,1 8,6 ± 4,9 0,6
số phôi 4,6 ± 3,2 4,9 ± 3,3 0,5
số phôi tốt 1,7 ± 1,8 1,9 ± 2,0 0,5
số phôi trữ 1 ± 1,8 0,9 ± 1,6 0,8
pergoveris (n=100) gonal-F (n=93) p
số phôi chuyển 3,2 ± 1,1 3,4 ± 1,3 0,3
Tỉ lệ thai lâm sàng 27 (27%) 27 (29%) 0,8
Tỉ lệ làm tổ 12,4 ± 3,4% 10,5 ± 1,9% 0,6
Tỉ lệ sẩy thai 2 (2%) 2 (2,2%) 0,8
Tỉ lệ QKBT 0 0
Bảng 4: Kết quả kích thích buồng trứng (n=211)
Bảng 5: Kết quả chuyển phôi (n=193)
VươNg Thị NgọC LaN, phùNg huy TuâN, NguyễN Thị NgọC NhâN, NguyễN ViệT QuốC, NguyễN Thị NgọC aNh, hồ MạNh TườNg
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
85
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 80-86, 2013
pergoveris gonal-F p
Bệnh nhân ≥ 38 tuổi 
(n=111) 25,4% (15/59) 19,2% (10/52) 0,5
Bệnh nhân có giảm dự trữ 
buồng trứng (n=78) 25% (10/40) 18,4% (7/38) 0,5
Bệnh nhân ≥ 38 tuổi và 
giảm DTBT (n=52) 28,6% (8/28) 8,3% (2/24) 0,08
Tỉ lệ khác biệt về thai lâm sàng 
giữa pergoveris so với gonal-F p
Bệnh nhân ≥ 35 tuổi (n=193) -2% 0,8
Bệnh nhân ≥ 38 tuổi (n=111) + 6,2% 0,5
Bệnh nhân giảm dự trữ buồng 
trứng (n=78) + 6,6% 0,5
Bệnh nhân ≥ 38 tuổi và giảm 
dự trữ buồng trứng (n=52) + 20,3% 0,08
Bảng 6: Tỉ lệ thai lâm sàng / chuyển phôi khi phân tích nhóm nhỏ
Bảng 7: sự khác biệt về tỉ lệ thai lâm sàng giữa nhóm pergoveris và gonal-F theo 
các nhóm bệnh nhân
bàn luận
Bổ sung LH trong kích thích buồng trứng 
là một vấn đề còn tranh luận rất nhiều trong 
thời gian qua. Thực tế, hầu hết các trung tâm 
thụ tinh trong ống nghiệm đều thực hiện bổ 
sung LH cho một số đối tượng bệnh nhân 
dưới nhiều dạng khác nhau như LH tái tổ 
hợp, hMG hay hCG. Tuy nhiên, việc bổ sung 
LH thường dựa trên kinh nghiệm của bác sĩ 
mà chưa có nhiều bằng chứng y học với mức 
độ chứng cứ cao ủng hộ cho thực hành này. 
Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu thử 
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng 
để so sánh hiệu quả của bổ sung LH ở dạng 
Pergoveris (FSH + LH tái tổ hợp) với không bổ 
sung LH ở bệnh nhân ≥ 35 tuổi làm thụ tinh 
trong ống nghiệm. 
Bệnh nhân ≥ 35 tuổi là nhóm bệnh nhân 
có khả năng thành công của điều trị giảm 
nhiều so với nhóm < 35 tuổi. Các nghiên cứu 
trên thế giới thường dùng giá trị tuổi 38 để 
phân loại bệnh nhân thuộc nhóm lớn tuổi. 
Số liệu bước đầu cho thấy bệnh nhân trong 
nghiên cứu của chúng tôi là nhóm có tiên 
lượng khá kém. Tỉ lệ bệnh nhân ≥ 38 tuổi 
chiếm tỉ lệ 46,3%. Tỉ lệ bệnh nhân có giảm dự 
trữ buồng trứng được chẩn đoán bằng AMH 
hay AFC là 32,5%. Tỉ lệ bệnh nhân có cả 2 đặc 
điểm ≥ 38 tuổi và giảm dự trữ buồng trứng 
là 21,7%. Tuy nhiên kết quả thai lâm sàng 
đạt được trong nghiên cứu của chúng tôi ở 
nhóm bổ sung và không bổ sung LH cũng 
tương đương với nghiên cứu của Bosch và 
cs. (27% và 29% so với 33,5% và 25,3%, theo 
thứ tự)
Số liệu phân tích bước đầu cho thấy không 
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm 
có hay không có bổ sung LH về các kết cục 
chính và phụ. Tuy nhiên, khi phân tích các 
nhóm nhỏ hơn, so sánh tỉ lệ thai lâm sàng giữa 
bổ sung và không bổ sung LH ở các đối tượng 
bệnh nhân lớn tuổi hơn như ≥ 38 tuổi, giảm 
dự trữ buồng trứng, hay bệnh nhân có cả 2 
đặc điểm trên, chúng tôi ghi nhận sự khác biệt 
về thai lâm sàng ngày càng lớn dần (bảng 6) 
giữa nhóm Pergoveris so với Gonal-F, tuy là sự 
khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê. Điều 
này có thể do số liệu chưa đủ lớn để phát hiện 
sự khác biệt.
Số liệu từ nghiên cứu cho thấy bổ sung 
LH dường như có ích lợi hơn cho các bệnh 
nhân có tiên lượng điều trị khó khăn như lớn 
tuổi nhiều ≥ 38 tuổi và giảm dự trữ buồng 
trứng. Xu hướng hiện nay trên thế giới cho 
thấy bệnh nhân điều trị thụ tinh trong ống 
nghiệm ngày càng lớn tuổi hơn và hậu quả 
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
86
là dự trữ buồng trứng cũng kém hơn. Điều 
trị nhóm bệnh nhân này là một thử thách 
cho các bác sĩ lâm sàng. Bổ sung LH có thể là 
một giải pháp giúp tăng cơ hội có thai. Cần 
có một nghiên cứu khác được thiết kế với cỡ 
mẫu lớn hơn để chứng minh hiệu quả của bổ 
sung LH trên những bệnh nhân tiên lượng 
khó này.
Từ số liệu bước đầu của nghiên cứu, một 
số đề xuất được đưa ra như (i) nghiên cứu bổ 
sung LH dưới dạng Pergoveris tập trung ở 
nhóm bệnh nhân lớn tuổi hơn như ≥ 38 tuổi, 
(ii) nghiên cứu bổ sung LH ở nhóm bệnh nhân 
giảm dự trữ buồng trứng hay (iii) thay đổi phác 
đồ bổ sung LH bằng cách bắt đầu Pergoveris 
từ ngày 1 của kích thích buồng trứng thay vì 
từ ngày 6 như trong nghiên cứu này. Như vậy, 
các đối tượng có ích lợi từ bổ sung LH và cách 
thực hiện bổ sung LH cũng sẽ được nghiên 
cứu chứng minh rõ ràng hơn. 
Kết luận
Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt về 
kết quả kích thích buồng trứng và tỉ lệ thai lâm 
sàng giữa nhóm có bổ sung LH so với không bổ 
sung LH ở các bệnh nhân ≥ 35 tuổi. Tuy nhiên, 
bổ sung LH dường như có ích lợi hơn cho các 
nhóm bệnh nhân có tiên lượng rất kém như ≥ 
38 tuổi và/hay kết hợp với giảm dự trữ buồng 
trứng. Cần thêm nghiên cứu với đối tượng là 
các bệnh nhân có tiên lượng điều trị khó để 
chứng minh rõ ràng hơn hiệu quả của bổ sung 
LH trong kích thích buồng trứng.
Tài liệu Tham khảo
1. Bosch, E., Labarta, E., Crespo, J., Simo´n, 
C., Remohı´, J., Pellicer, A., 2011. Impact 
of luteinizing hormone administration on 
gonadotropin-releasing hormone antagonist 
cycles: an age-adjusted analysis. Fertil. Steril. 
95, 1031–1036.
2. Hill, M.J., Levy, G., Levens, E.D., 2012. Does 
exogenous LH in ovarian stimulation improve 
assisted reproduction success? An appraisal 
of the literature. RBM Online, article in press.
3. Hillier, S.G., 2001. Gonadotropic control 
of ovarian follicular growth and development. 
Mol. Cell. Endocrinol. 179, 39–46.
4. Lahoud, R., Al-Jefout, M., Tyler, J., Ryan, 
J., Driscoll, G., 2006. A relative reduction in 
mid-follicular LH concentrations during GnRH 
agonist IVF/ICSI cycles leads to lower live birth 
rates. Hum. Reprod. 21, 2645–2649.
5. O’dea, L., O’brien, F., Currie, K., Hemsey, 
G., 2008. Follicular development induced 
by recombinant luteinizing hormone (LH) 
and follicle-stimulating hormone (FSH) 
in anovulatory women with LH and FSH 
deficiency: evidence of a threshold effect. Curr.
Med. Res. Opin. 24, 2785–2793.
6. Shemesh, M., 2001. Actions of 
gonadotrophins on the uterus. Reproduction 
121, 835–842.
7. Shoham, Z., 2002. The clinical therapeutic 
window for luteinizing hormone in controlled 
ovarian stimulation. Fertil. Steril. 77, 1170–1177.
8. Stanger, J.D., Yovich, J.L., 1985. Reduced 
in-vitro fertilization of human oocytes from 
patients with raised basal luteinizing-hormone 
levels during the follicular phase. Br. J. Obstet. 
Gynaecol. 92, 385–393.
9. Tesarik, J., Mendoza, C., 2002. Effects of 
exogenous LH administration during ovarian 
stimulation of pituitary down-regulated 
young oocyte donors on oocyte yield and 
developmental competence. Hum. Reprod. 17, 
3129–3137.
10. Vuong, T.N.L., Ho, M.T., Pham, 
V.T., Nguyen, T.N.P., 2004. The addition of 
recombinant LH in poor-responder IVF patients. 
Presented at 18th World Congress on Fertility 
and Sterility, May 23–28, 2004, Montreal, 
Quebec, Canada (Abstract 307.6).
11. Wong, P.C., Qiao, J., Ho, C., Ramaraju, 
G.A., Wiweko, B., Takehara, Y., Nadkarni, P.V., 
Cheng, L.C., Chen, H.F., Suwajanakorn, S., 
Vuong, T.N.L., 2011. Current opinion on use 
of luteinizing hormone supplementation in 
assisted reproduction therapy: an Asian 
perspective. RMB Online 23:81-90.
VươNg Thị NgọC LaN, phùNg huy TuâN, NguyễN Thị NgọC NhâN, NguyễN ViệT QuốC, NguyễN Thị NgọC aNh, hồ MạNh TườNg

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_hieu_qua_cua_pergoveris_voi_follitropin_alfa_trong_k.pdf