So sánh hiệu quả của HP-hMG và rFSH kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist

Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích so sánh hiệu quả kích thích

buồng trứng bằng hMG tinh chế cao (HP-hMG - highly purified human

menopausal gonadotropins) và FSH tái tổ hợp (rFSH - recombinant follicle

stimulating hormone) trong phác đồ antagonist thụ tinh trong ống nghiệm. 257

bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên và được điều trị bằng HP-hMG (127

bệnh nhân) và rFSH (130 bệnh nhân). Các bệnh nhân đều được tiên lượng

đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng với tuổi từ 35 trở xuống, AMH >1,1ng/

ml và AFC >=7. Liều thuốc tương đương ở hai nhóm. Kết quả: tổng số noãn,

số noãn GV, MI, MII, thoái hoá và số phôi thu được tương đương nhau ở cả 2

nhóm. Tỉ lệ thai lâm sàng ở nhóm điều trị HP-hMG cao hơn so với nhóm rFSH

(37,8% so với 32,3%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hiệu quả của HP-hMG và rFSH kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh hiệu quả của HP-hMG và rFSH kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist

So sánh hiệu quả của HP-hMG và rFSH kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist
NGUYỄN XUÂN HỢI
150
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
Nguyễn Xuân Hợi 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA HP-hMG VÀ rFSH KÍCH THÍCH 
BUỒNG TRỨNG BẰNG PHÁC ĐỒ ANTAGONIST
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Xuân Hợi, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: HP-hMG, rFSH, 
antagonist, kích thích buồng 
trứng, thụ tinh trong ống 
nghiệm.
Keywords: HP-hMG, rFSH, 
antagonist, ovarian stimulation, 
IVF.
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích so sánh hiệu quả kích thích 
buồng trứng bằng hMG tinh chế cao (HP-hMG - highly purified human 
menopausal gonadotropins) và FSH tái tổ hợp (rFSH - recombinant follicle 
stimulating hormone) trong phác đồ antagonist thụ tinh trong ống nghiệm. 257 
bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên và được điều trị bằng HP-hMG (127 
bệnh nhân) và rFSH (130 bệnh nhân). Các bệnh nhân đều được tiên lượng 
đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng với tuổi từ 35 trở xuống, AMH >1,1ng/
ml và AFC >=7. Liều thuốc tương đương ở hai nhóm. Kết quả: tổng số noãn, 
số noãn GV, MI, MII, thoái hoá và số phôi thu được tương đương nhau ở cả 2 
nhóm. Tỉ lệ thai lâm sàng ở nhóm điều trị HP-hMG cao hơn so với nhóm rFSH 
(37,8% so với 32,3%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Từ khoá: HP-hMG, rFSH, antagonist, kích thích buồng trứng, thụ tinh 
trong ống nghiệm.
Abstract 
COMPARING THE EFFICACY OF HP-HMG 
WITH RFSH FOR OVARIAN STIMULATION IN 
ANTAGONIST PROTOCOL
The aim of this study was to compare the efficacy of highly purified 
human menopausal gonadotropins (HP-hMG) vs recombinant follicle 
stimulating hormone (rFSH) for ovarian stimulation in IVF patients 
undergoing antagonist protocol. 257 infertile women were randomly treated 
with HP-hMG (127 patients) and rFSH (130 patients). All patients were 
predicted normal response to stimulation with age 1,1ng/ml, 
and AFC >=7. Gonadotropins doses were similar in both groups. Results: 
there were no statistical differences in terms of total oocytes retrieved, MII, 
MI, and degeneration oocytes. The clinical pregnancy rates in HP-hMG 
and rFSH groups were 37.8% and 32.3%, respectively; however, there 
were no statistical differences between 2 groups.
Keywords: HP-hMG, rFSH, antagonist, ovarian stimulation, IVF.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 150 - 153, 2018
151
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, việc kích thích 
buồng trứng có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc trên 
thị trường với mục đích tạo nên nhiều trứng tốt và 
chất lượng phôi tốt, làm tăng tỷ lệ có thai trong 
thụ tinh ống nghiệm. Đầu tiên là các sản phẩm 
chiết xuất từ nước tiểu như human menopausal 
gonadotropins (hMG), uninary follicle stimulating 
hormone (uFSH), human chorionic gonadotropin 
(hCG). Những sản phẩm tái tổ hợp như rFSH và 
rLH đang được sử dụng phổ biến. Gần đây, HP-
hMG (highly purified hMG) là loại FSH nước tiểu 
tinh chế cao đã có mặt trên thị trường cho phép 
tiêm dưới da để kích thích buồng trứng trong thụ 
tinh trong ống nghiệm (in vitro fertilization - IVF). 
Chất lượng trứng trong IVF có thể ảnh hưởng 
bởi liều gonadotropins, loại gonadotropin và các 
yếu tố liên quan khác trong kích thích buồn trứng. 
Các thử nghiệm lâm sàng về gonadotropin thường 
tập trung vào các khía cạnh lâm sàng như số lượng 
các nang trứng chọc hút hoặc tỉ lệ có thai. Trên thế 
giới đã có các nghiên cứu về so sánh tác dụng của 
HP-hMG và rFSH. Một nghiên cứu phân tích gộp 
cho thấy hMG không thấp hơn so với rFSH đối với 
tỷ lệ có thai và tỷ lệ sinh sống [1]. Một số nghiên 
cứu khác cho thấy tỷ lệ sinh sống cao hơn ở nhớm 
HP-hMG so với rFSH [2]. Tuy nhiên hầu hết các 
báo cáo chỉ áp dụng cho phác đồ agonist mà rất 
ít nghiên cứu trên phác đồ kích thích buồng trứng 
antagonist. Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu 
về vấn đề này. Do vậy nghiên cứu này thực hiện với 
mục tiêu so sánh hiệu quả của HP-hMG và rFSH để 
kích thích buồng trứng trong phác đồ antagonist.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
257 bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm 
Tiêu chuẩn lựa chọn: tiên lượng đáp ứng tốt với 
kích thích buồng trứng, tuổi từ 35 trở xuống, AMH 
>1,1ng/ml và AFC >=7. Bệnh nhân sử dụng phác đồ 
antagonist. Không có bất thường nặng về tinh trùng.
Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân sử dụng phác 
đồ agonist, cho nhận noãn, có tiền sử sảy thai liên 
tiếp, tiền sử bệnh nội tiết hoặc chuyển hoá.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, với cỡ mẫu thuận thiện 
trên 257 bệnh nhân, được chia ngẫu nhiên thành 
2 nhóm: nhóm sử dụng HP-hMG gồm 127 bệnh 
nhân, 130 bệnh nhân sử dụng rFSH
Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: 
- Đặc điểm lâm sàng: tuổi, phân loại vô sinh, 
AFC, số noãn thu được, tỉ lệ có thai
- Đặc điểm cận lâm sàng: số noãn MI, MII, GV, 
số phôi
Bệnh nhân được kích thích buồng trứng bằng 
phác đồ antagonist cố định: sử dụng HP-hMG 
(Menopure; Ferring Phamaceuticals) hoặc rFSH 
(Follitrope; LG Life Sciences) tiêm dưới da bắt đầu 
vào ngày 2 của vòng kinh. Vào ngày 6 của vòng 
kinh, theo dõi kích thước nang noãn bằng siêu 
âm và kết hợp tiêm liều GnRH antagonist 0,25mg 
(Orgalutran, MSD). Tiêm hCG khi có ít nhất 2 nang 
≥18 mm, chọc trứng được tiến hành tại thời điểm 
36 giờ sau tiêm hCG. Chuyển phôi được thực hiện 
vào ngày 3. Tỉ lệ có thai được xác định khi thử 
βhCG ngày thứ 14 ≥ 25IU.
2.3. Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Dữ liệu được thu thập bằng phiếu thu thập 
thông tin, sau đó được xử lý bằng phần mềm stata 
12.0. Các số liệu được kiểm tra phân bố chuẩn 
trước khi so sánh bằng t-test. Dùng thuật toán 
Mann-Whitney để kiểm định sự khác biệt cho phân 
bố không chuẩn.
2.4. Đạo đức nghiên cứu
Phiếu thu thập thông tin đảm bảo tuyệt đối bí 
mật thông tin cho bệnh nhân, các kết quả được lấy 
tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia. Các thông 
tin hoàn toàn được mã hóa và giữ bí mật, chỉ phục 
vụ cho nghiên cứu.
3. Kết quả
Chúng tôi thu được số liệu của 257 bệnh nhân, 
với độ tuổi của bệnh nhân thấp nhất là 15, cao 
nhất là 64, tuổi trung bình là 29,25, bệnh nhân 
tuổi nhỏ nhất là 21 tuổi, lớn nhất là 35 tuổi. Trong 
nhóm đối tượng nghiên cứu, những bệnh nhân 
tham gia nghiên cứu ở độ tuổi 26-30 chiếm tỷ lệ 
cao nhất (53,7%), thấp nhất là nhóm từ 21-25 tuổi 
(9,7%), nhóm từ 31-35 tuổi chiếm 36,6%. Sự phân 
bố theo nhóm tuổi được thể hiện trong bảng 1. 
tỉ lệ lớn của nghiên cứu. Rối loạn phóng noãn và 
bất thường tử cung chiếm tỉ lệ nhỏ, không làm được 
các test thống kê (biểu đồ 3).
Với tổng liều của 2 nhóm không có sự khác 
biệt thống kê, chất lượng noãn của 2 nhóm điều trị 
bằng HP-hMG và rFSH không có sự khác biệt trên 
các tiêu chí số noãn chọc hút, số noãn GV, M1, 
M2, số noãn thoái hoá và số phôi (bảng 3).
Kết quả có thai lâm sang giữa 2 nhóm HP-hMG 
và rFSH tương ứng là 37,8% và 32,3%, tuy nhiên 
không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê với p = 
0,357 (bảng 4).
4. Bàn luận
Hiện nay nhiều loại gonadotropins được sử dụng 
trong kích thích buồng trứng cho mục đích thụ tinh 
trong ống nghiệm. Trên thế giới đã có vài nghiên 
cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh hiệu 
quả của HP-hMG và rFSH trong các chu kỳ thực hiện 
IVF/ICSI. Nghiên cứu đa trung tâm của Cochrane 
đã chỉ ra HP-hMG mang lại tỉ lệ có thai lâm sàng 
và trẻ sinh sống cao hơn, trong đó sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê ở tỉ lệ trẻ sinh sống [2], tuy nhiên việc 
Khi so sánh về độ tuổi giữa 2 nhóm bệnh nhân 
dùng HP-hMG và rFSH, chúng tôi nhận thấy không 
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số bệnh 
nhân điều trị bằng 2 thuốc trên trong tổng số bệnh 
nhân, số bệnh nhân ở các nhóm 21-25 tuổi, 26-30 
tuổi, 31-35 tuổi (p>0,05) (Biểu đồ 1).
Khi tiến hành đếm số lượng các nang trứng thứ 
cấp, chúng tôi nhận thấy giá trị trung bình trên 256 
bệnh nhân là 11,43, người nhiều nhất 32 nang, ít 
nhất 7 nang. Ở cả 2 nhóm, số nang trứng 7-10 
nang chiếm tỉ lệ cao nhất (48,6%), 11-14 nang 
chiếm 33,9%, chỉ có 17,5% bệnh nhân có từ 15 
nang trở lên (Bảng 2).
So sánh về giá trị AFC giữa 2 nhóm bệnh nhân, 
chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt giữa 2 
nhóm (Biểu đồ 2).
Về nguyên nhân gây vô sinh: Không có sự khác 
biệt có ý nghĩa về nguyên nhân vô sinh ở nhóm do 
vòi và nhóm không rõ nguyên nhân, 2 nhóm chiếm 
NGUYỄN XUÂN HỢI
152
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
Nhóm Tuổi Số lượng Tỷ lệ %
21-25 tuổi 25 9,7
26-30 tuổi 138 53,7
31-35 tuổi 94 36,6
Bảng 1. Đặc điểm tuổi của bệnh nhân nghiên cứu 
Nang thứ cấp Số lượng Tỷ lệ %
7-10 nang 125 48,6
11 -14 nang 87 33,9
>= 15 nang 45 17,5
Tổng 257 100
Bảng 2. Phân bố các nang trứng thứ cấp
Biểu đồ 1. So sánh sự phân bố tuổi của bệnh nhân điều trị bằng HP-hMG (Menopur) và rFSH 
(Follitrope)
Biểu đồ 2. So sánh sự phân bố AFC giữa 2 nhóm bệnh nhân
Biểu đồ 3. So sánh sự phân bố AFC giữa 2 nhóm bệnh nhân
CL noãn HP-hMG rFSH p
Tổng liều 1858,86 1861,35 >0,05
E2 ngày hCG 4318,94 3441,73 0,002
Số noãn 11,53 ± 5,004 12,50 ± 5,16 > 0,05
Số noãn GV 0,22 ± 0,93 0,12 ± 0,49 > 0,05
Số noãn M1 0,93±1,57 0,96±1,40 > 0,05
Số noãn M2 9,28 ± 4,43 10,03 ± 4,54 > 0,05
Số noãn thoái hóa 0,83±1,52 0,84 ±2,34 > 0,05
Số phôi 7,94 8,50 >0,05
Bảng 3. Chất lượng noãn và số phôi thu được ở 2 nhóm điều trị bằng HP-hMG và rFSH
Kết quả
HP-hMG rFSH
p
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Có thai 48 37,8 42 32,3
0,05
Không có thai 79 62,2 88 67,7
Bảng 4. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 150 - 153, 2018
153
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
sử dụng liều điều trị khác nhau đã làm giảm giá trị 
của nghiên cứu này. Hompes và cộng sự chỉ ra rằng 
ở liều tương đương, tác dụng kích thích buồng trứng 
của HP-hMG nhẹ hơn, với tỉ lệ huỷ chu kỳ do đáp 
ứng kém cao hơn [3]. Mặc dù số lượng nang trứng 
thấp hơn, HP-hMG vẫn mang lại tỉ lệ thai tiến triển 
tương đương với rFSH. 2 nghiên cứu với số lượng lớn 
bệnh nhân so sánh HP-hMG và rFSH cho kết quả tỉ 
lệ quá kích tương đương nhau [4]. Westerggard và 
cộng sự cũng không nhận thấy sự khác biệt giữa HP-
hMG và rFSH trên tỉ lệ thai tiến triển và trẻ sinh sống 
tính trên bệnh nhân, đồng thời cũng không tìm thấy 
sự khác biệt trong các tiêu chí vê trứng và noãn. Tuy 
nhiên tỉ lệ thai lâm sàng cao hơn ở nhóm hMG (OR 
1,28; 95% CI, 1,00-1,64) [2].
Kết quả của nghiên cứu này cũng chỉ ra 2 liệu 
trình điều trị có kết quả tương tự nhau trên các tiêu chí 
tổng số noãn thu được, số noãn GV, MI, MII, thoái 
hoá và số phôi thu được. Tuy nhiên nghiên cứu của 
chúng tôi chưa đánh giá được chất lượng của noãn 
MII và chất lượng phôi. Đã có nghiên cứu chỉ ra ảnh 
hưởng của LH lên chất lượng phôi: tỉ lệ phôi độ 1 
và độ 2 cao hơn khi bổ xung LH vào liệu trình điều 
trị FSH trong liệu trình điều trị agonist [5]. Mặc dù 
những hiểu biết về tác dụng của LH làm cải thiện chất 
lượng trứng và phôi chưa đầy đủ, nhưng LH có thể đã 
tác động lên noãn thông qua các tế bào nang.
Tỉ lệ thai lâm sàng có cao hơn ở nhóm điều 
trị bằng HP-hMG so với nhóm rFSH (37,8% và 
32,3%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê. Kết quả này của chúng tôi cũng tương 
tự như kết quả phân tích đa trung tâm của dữ liệu 
Cochrane [6]. Kinani và cộng sự có sử dụng liều 
cố định gonadotropins (150IU/ngày) để so sánh 
giữa 2 liệu trình điều trị, tuy nhiên do cỡ mẫu nhỏ 
(mỗi nhóm 50 bệnh nhân) nên cũng không thấy 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Cần có những 
nghiên cứu sâu thêm để khẳng định liệu HP-hMG 
có ưu thế hơn rFSH hay không. Để có thể tìm ra 
những kết quả thuyết phục hơn, những nghiên cứu 
này cần khắc phục điểm yếu của nhưng nghiên cứu 
trước đó bằng cách: (1) sử dụng 1 liệu trình điều 
trị thống nhất; (2) sử dụng liều cố định, tránh điều 
chỉnh liều của từ các bác sĩ lâm sàng và (3) sử dụng 
tiêu chí trẻ sinh sống để so sánh.
5. Kết luận
Kích thích buồng trứng bằng HP-hMG và rFSH 
cho kết quả tương đương về tổng số noãn, số noãn 
GV, MI, MII, thoái hoá và số phôi thu được. Tỉ lệ 
thai lâm sàng ở nhóm điều trị HP-hMG cao hơn so 
với nhóm rFSH (37,8% so với 32,3%), tuy nhiên sự 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bác sĩ, 
điều dưỡng, kỹ thuật viên tại Trung tâm hỗ trợ sinh 
sản Quốc gia đã giúp đỡ và hỗ trợ nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
1. Al-Inany H, Aboulghar MA, Mansour RT et al. Ovulaton induction in the 
new millennium: Recombinant follicle-stimulating hormone versus human 
menopausal gonadotropin. Gynecol endocrinol; 2005. 20, 161-69.
2. Westergaard LW, Bossuyt PM, Van der Veen F et al. Human 
menopausal gonadotropin versus recombinant follicle stimulating 
hormone for ovarian stimulation in assisted reproductive cycles. Cochrane 
Database Syst Rev; 2011. 1, CD003973.
3. Hompes PG, Broekmans FJ, Hoozemans DA et al. Effectiveness of 
Highly purified human menopausal gonadotropin vs recombinant follicle-
stimulating hormone in first-cycle in vitro fertilization-intracytoplasmic 
sperm injection patients. Fertil Steril; 2008. 89, 1685-93.
4. Beall SA, DeCherney A. History and challenges surrounding ovarian 
stimuation in the treatment of infertility. Fertil Steril; 2012. 97, 795-801.
5. Lisi F, Rinaldi L, Fishel S. Evaluation of two doses of recombinant luteinizing 
hormone supplementation in an unselected group of women undergoing 
follicle stimulation for in vitro fertilization. Fertil Steril; 2005. 83:309-15
6. Anderson AN, Devroey P, Arce JC. Clinical outcome following stimulation 
with HP-hMG or r-FSH in patients undergoing IVF: A randomized assessor 
blind controlled trial. Hum Reprod; 2006. 21, 3217-27.

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_hieu_qua_cua_hp_hmg_va_rfsh_kich_thich_buong_trung_b.pdf