So sánh giá trị của AMH, AFC và FSH trong dự đoán đáp ứng buồng trứng trên bệnh nhân làm thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Mục tiêu: So sánh giá trị các xét nghiệm AMH, AFC và FSH trong dự

đoán đáp ứng buồng trứng kém hoặc nhiều trên bệnh nhân TTTON tại

bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 1/2017 đến 1/2018.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu 507 đối

tượng. Mỗi bệnh nhân được làm các xét nghiệm AMH, AFC và FSH vào

ngày 2 của chu kỳ kinh nguyệt.

Kết quả: AMH có giá trị dự đoán đáp ứng kém và nhiều tốt nhất, tiếp đến

là AFC và cuối cùng là FSH. Ngưỡng dự đoán đáp ứng nhiều của AMH là

3,31ng/ml với độ nhạy 85,6% và độ đặc hiệu là 71,9%. Ngưỡng dự đoán

đáp ứng kém của AMH là 1,31ng/ml với độ nhạy 74% và độ đặc hiệu 86,9%.

Kết luận: AMH có giá trị tốt nhất trong dự đoán đáp ứng buồng trứng

kém và nhiều

pdf 4 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "So sánh giá trị của AMH, AFC và FSH trong dự đoán đáp ứng buồng trứng trên bệnh nhân làm thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh giá trị của AMH, AFC và FSH trong dự đoán đáp ứng buồng trứng trên bệnh nhân làm thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

So sánh giá trị của AMH, AFC và FSH trong dự đoán đáp ứng buồng trứng trên bệnh nhân làm thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
VŨ VĂN TÂM, DƯƠNG THỌ QUỲNH HƯƠNG, ĐỖ DIỄM HƯỜNG
160
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
Vũ Văn Tâm, Dương Thọ Quỳnh Hương, Đỗ Diễm Hường 
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng
SO SÁNH GIÁ TRỊ CỦA AMH, AFC
VÀ FSH TRONG DỰ ĐOÁN ĐÁP ỨNG BUỒNG TRỨNG 
TRÊN BỆNH NHÂN LÀM THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đỗ Diễm Hường, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: ỗ trợ sinh sản, AMH, 
AFC, FSH, đáp ứng buồng 
trứng.
Keywords: Assisted 
reproductive techniques; AMH, 
AFC, FSH, ovarian-response.
Tóm tắt
Mục tiêu: So sánh giá trị các xét nghiệm AMH, AFC và FSH trong dự 
đoán đáp ứng buồng trứng kém hoặc nhiều trên bệnh nhân TTTON tại 
bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 1/2017 đến 1/2018. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu 507 đối 
tượng. Mỗi bệnh nhân được làm các xét nghiệm AMH, AFC và FSH vào 
ngày 2 của chu kỳ kinh nguyệt. 
Kết quả: AMH có giá trị dự đoán đáp ứng kém và nhiều tốt nhất, tiếp đến 
là AFC và cuối cùng là FSH. Ngưỡng dự đoán đáp ứng nhiều của AMH là 
3,31ng/ml với độ nhạy 85,6% và độ đặc hiệu là 71,9%. Ngưỡng dự đoán 
đáp ứng kém của AMH là 1,31ng/ml với độ nhạy 74% và độ đặc hiệu 86,9%. 
Kết luận: AMH có giá trị tốt nhất trong dự đoán đáp ứng buồng trứng 
kém và nhiều. 
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, AMH, AFC, FSH, đáp ứng buồng trứng.
Abstract 
COMPARISON OF THE VALUE OF AMH, AFC AND 
FSH FOR INDENTIFYING OVARIAN-RESPONSE IN 
IN-VITRO FERTILIZATION AT HAI PHONG HOSPITAL 
OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY FROM 1/2017 
TO 1/2018
Objectives: to compare the value of AMH, AFC and FSH for indentifying 
ovarian-response in in-vitro fertilization at Haiphong hospital of obstetrics 
and gynecology from 1/2017 to 1/2018. 
Subjects and method: A prospective study was conducted 507 patients. 
On cycle day 2, each person had AMH, AFC and FSH measured. 
Results: AMH test was the most accurate in predicting poor and hyper 
response, followed by AFC and the least one was FSH. AMH 1.31ng/ml 
predicted poor response with sensitivity of 74% and specificity of 86.9%. 
AMH 3.31ng/ml predicted hyper-response with sensitivity of 85.6% and 
specificity of 71.9%. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 160 - 163, 2018
161
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Conclusions: AMH test has the best predictive value for predicting ovarian response. 
Keywords: Assisted reproductive techniques; AMH, AFC, FSH, ovarian-response.
1. Đặt vấn đề
Đáp ứng buồng trứng được định nghĩa là sự 
phản ứng của buồng trứng với kích thích FSH nhằm 
tạo ra sự phát triển nang noãn và chế tiết nội tiết 
tại buồng trứng. Cụm từ đáp ứng buồng trứng được 
sử dụng với cả hai ý nghĩa định tính và định lượng: 
Định tính khi xác định có hay không có phóng 
noãn và định lượng khi tiêu chí đánh giá của đáp 
ứng buồng trứng dựa vào số noãn chọc hút được ở 
bệnh nhân kích thích buồng trứng (KTBT).
Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng số noãn 
chọc hút được để đánh giá đáp ứng buồng trứng 
bởi vì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng số noãn có 
liên quan chặt chẽ với tỉ lệ thai lâm sàng của một 
chu kỳ KTBT.
Phân loại đáp ứng buồng trứng:
- Kém : số noãn thu được < 4 noãn
- Tốt : số noãn thu được 4 – 15 noãn
- Nhiều : số noãn thu được > 15 noãn
Với mục tiêu cá thể hóa điều trị, việc tiên lượng 
khả năng đáp ứng buồng trứng của từng bệnh nhân 
làm thụ tinh ống nghiệm (TTTON) vô cùng có ý 
nghĩa nhằm tích kiệm chi phí, giảm các biến chứng 
ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân hiếm muộn 
và nâng cao tỷ lệ thành công cho một chu kỳ KTBT.
Dự đoán đáp ứng buồng trứng chủ yếu dựa trên 
các xét nghiệm khảo sát dự trữ buồng trứng bao 
gồm AMH, AFC và FSH. Trên thế giới nói chung 
và Việt Nam nói riêng đã có một số nghiên cứu 
so sánh giá trị của 3 xét nghiệm trên tuy nhiên 
phương pháp tốt nhất vẫn còn nhiều tranh cãi.
Để phục vụ cho công tác khám và điều trị vô 
sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng cũng như 
cung cấp thêm dữ liệu về hiệu quả của 3 xét nghiệm 
trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục 
tiêu: So sánh giá trị các xét nghiệm AMH, AFC và 
FSH trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém hoặc 
nhiều trên bệnh nhân TTTON tại Bệnh viện Phụ Sản 
Hải Phòng từ 1/2017 đến 1/2018.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
 Những bệnh nhân đến khám và điều trị vô 
sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm 
(ICSI) tại khoa Hỗ trợ sinh sản bệnh viện phụ sản 
Hải Phòng từ 1/2017 đến 1/2018
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Mô tả tiến cứu, tổng số 507 bệnh nhân làm 
TTTON tại Khoa Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Phụ 
sản Hải Phòng từ 1/2017 đến 1/2018 đồng ý 
tham gia vào nghiên cứu và thỏa mãn tiêu chuẩn 
loại trừ: hội chứng buồng trứng đa nang, các khối 
u buồng trứng, bệnh lý tuyến yên và tuyến giáp.
2.3. Phương pháp tiến hành
Định lượng AMH, FSH và AFC được thực hiện 
vào ngày 2 của chu kỳ kinh.
Định lượng FSH và AMH được thực hiện bằng 
phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang trên 
máy tự động Cobas e411 (Roche, Đức). Đếm AFC 
được thực hiện trên máy siêu âm Aloka 4100 bằng 
siêu âm đầu dò âm đạo với tần số 7,5 MHz được 
thực hiện bởi người thực hiện đề tài theo quy trình 
đã được chuẩn hóa.
Phương pháp kích thích buồng trứng: Phác đồ 
GnRH đối vận: rFSH bắt đầu dùng vào ngày 2 chu 
kỳ kinh với liều trung bình 150-300IU/ngày tùy 
từng bệnh nhân. Sau 5 ngày tiêm rFSH siêu âm 
đánh giá lại sự phát triền của nang noãn, nếu có 
nang ≥ 14mm, bắt đầu bố sung GnRHant hằng 
ngày với liều 0,25mg/ngày cho đến khi có ít nhất 
2 nang ≥ 17mm, thì gây trưởng thành bằng tiêm 
hCG 5000 – 10000IU. Chọc hút noãn sau tiêm 
hCG 34 – 36 giờ và chuẩn bị tinh trùng
kém của AMH là 1,31ng/ml với độ nhạy là 74% và 
độ đặc hiệu là 86,9%; AFC là < 8 nang với độ nhạy 
là 74% và độ đặc hiệu là 79,5%; FSH là 7,1IU/L với 
độ nhạy là 67,1% và độ đặc hiệu là 68,7%.
3.4.2. Đáp ứng buồng trứng nhiều
Phân tích đường cong ROC cho thấy cả 3 xét 
nghiệm đều có giá trị dự đoán đáp ứng nhiều với diện 
tích dưới đường cong (AUC) lần lượt là: AUC(AMH) = 
0,85, AUC(AFC) = 0,81 và AUC(FSH) =0,65 với p < 
0,01. Trong đó giá trị ngưỡng dự đoán đáp ứng nhiều 
của AMH là 3,31ng/ml với độ nhạy là 85,6% và độ 
đặc hiệu là 71,9%; AFC là > 12 nang với độ nhạy là 
81,1% và độ đặc hiệu là 64,3%; FSH là 5,72IU/L với 
độ nhạy là 52,2% và độ đặc hiệu là 70,3%.
4. Bàn luận
4.1. Mối tương quan giữa AMH, AFC 
và FSH với số noãn thu được
AMH và AFC có tương quan đồng biến với số 
noãn thu được nghĩa là nồng độ AMH và chỉ số 
AFC càng cao thì số noãn thu được càng nhiều và 
ngược lại, trong khi đó giá trị FSH lại ít có tương 
quan với số noãn thu được với r là -0,2. Kết quả này 
tương tự với nghiên cứu của Ansieh và cs (2016) . 
Như vậy kết hợp AFC và AMH có thể cung cấp 
thêm dữ liệu về dự trữ buồng trứng của đối tượng 
và tiên lượng số noãn thu được sau chọc hút.
4.2. Giá trị dự đoán của AMH, AFC và 
FSH đối với đáp ứng nhiều
Trong nghiên cứu của chúng tôi ba xét nghiệm 
AMH, FSH và AFC đều có thể dự đoán đáp ứng 
buồng trứng quá mức, trong đó AMH có giá trị dự 
VŨ VĂN TÂM, DƯƠNG THỌ QUỲNH HƯƠNG, ĐỖ DIỄM HƯỜNG
162
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm bệnh nhân trước kích 
thích buồng trứng
Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên 
cứu này là 32,58 ± 5,03 có thời gian vô sinh trung 
bình là 4,25 ±3,09 năm. Nguyên nhân vô sinh 
chủ yếu là do chồng chiếm tỷ lệ 37,9% tiếp đến là 
nhóm không rõ nguyên nhân 23% và cuối cùng là 
nhóm lạc nội mạc tử cung với tỷ lệ 3%. Giá trị trung 
bình của các xét nghiệm khảo sát dự trữ buồng 
trứng là:AMH: 3,42 ± 2,91 ng/ml , FSH 6,83 ± 
2,25 UI/L , AFC 11,56 ± 5,23 nang. 
3.2. Đặc điểm và kết quả kích thích 
buồng trứng 
Tổng liều FSH sử dụng là 3159 ± 609,69 IU 
với thời gian KTBT trung bình là 9,23 ± 1,15 ngày
Số noãn thu được sau chọc hút là: 9,91 ± 
6,45 noãn
3.3. Mối tương quan giữa số noãn thu 
được và các xét nghiệm AMH, AFC và FSH
Hệ số tương quan Spearman lớn nhất là của 
AMH 0,7, sau đó là AFC 0,6 và thấp nhất là FSH 
- 0,26. Điều này cho thấy, AMH và số noãn sau 
chọc hút có tương quan mạnh nhất, tiếp đến là 
AFC với r là 0,6 và thấp nhất là FSH với r là -0,26.
3.4. So sánh giá trị dự đoán của các 
xét nghiệm AMH, AFC và FSH đối với đáp 
ứng buồng trứng kém và nhiều
3.4.1. Đáp ứng buồng trứng kém
Phân tích đường cong ROC cho thấy cả 3 xét 
nghiệm đều có giá trị dự đoán đáp ứng kém với diện 
tích dưới đường cong (AUC) lần lượt là: AUC(AMH) 
= 0,88, AUC(AFC) = 0,85 và AUC(FSH) = 0,69 với 
p < 0,01. Trong đó giá trị ngưỡng dự đoán đáp ứng 
Biểu đồ 1. Kết quả đáp ứng buồng trứng
Xét nghiệm Hệ số tương quan spearman P
AMH 0,7
> 0,05AFC 0,6
FSH -0,26
Bảng 1. Mối tương quan giữa số noãn thu được sau chọc hút và AMH, AFC, FSH
Xét nghiệm AUC(KTC 95%) Giá trị ngưỡng Độ nhạy Độ đặc hiệu P
AMH 0,88(0,84 -0,92) 1,31ng/ml 74% 86,9%
< 0,01AFC 0,85(0,8 – 0,9) < 8 nang 74% 79,5%
FSH 0,69(0,62 – 0,76) 7,1 IU/L 67,1% 68,7%
Bảng 2. Giá trị dự đoán của AMH, AFC và FSH với đáp ứng buồng trứng kém
Xét nghiệm AUC(KTC 95%) Giá trị ngưỡng Độ nhạy Độ đặc hiệu P
AMH 0,85(0,81 -0,88) 3,31ng/ml 85,6% 71,9%
 12 nang 81,1% 64,3%
FSH 0,65(0,59 – 0,71) 5,72 IU/L 52,2% 70,3%
Bảng 3. Giá trị dự đoán của AMH, AFC và FSH với đáp ứng buồng trứng nhiều
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 160 - 163, 2018
163
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
đoán tốt nhất tiếp đến là AFC và FSH có giá trị dự 
đoán kém. Kết quả này giống với nghiên cứu của 
Vương Thị Ngọc Lan và cs (2015) và nghiên cứu 
của Nguyễn Xuân Hợi và cs (2015) [1][2]. Giá trị 
ngưỡng của AMH trong nghiên cứu này là 3,31 
ng/ml thấp hơn các nghiên cứu khác tuy nhiên độ 
nhạy và độ đặc hiệu trong nghiên cứu của chúng 
tôi tốt hơn. Giá trị ngưỡng của AFC > 12 nang 
giống với nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan và 
cs (2015) và nằm trong giới hạn của các nghiên 
cứu khác 9-14 nang.
4.3. Giá trị dự đoán của AMH, AFC và 
FSH với đáp ứng buồn trứng kém
Trong nghiên cứu của chúng tôi ba xét nghiệm 
AMH, FSH và AFC đều có thể dự đoán đáp ứng 
buồng trứng kém, trong đó AMH có giá trị dự 
đoán tốt nhất, tiếp đến là AFC và FSH có giá trị 
dự đoán kém nhất. Điều này cũng tương tự như 
các nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan và cs 
(2015), Nguyễn Xuân Hợi và cs (2015) và Arce 
và cs (2013) [1][2][3].
Điểm cắt AMH trong nghiên cứu của chúng 
tôi là 1,31 ng/ml với độ đặc hiệu cao 86,9% và 
độ nhạy ở mức khá 74%. Kết quả này cũng tương 
đồng với nghiên cứu của Polyzos và cs (2013) [4].
Điểm cắt của AFC là 8 tương đương với nghiên 
cứu của Polyzos và cs (2013) với độ nhạy và độ 
đặc hiệu ở mức khá >70%.
Đối với xét nghiệm FSH tại điểm cắt 7,1 IU/L 
tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Xuân 
Hợi và cs (2015) nhưng thấp hơn nghiên cứu của 
Vương Thị Ngọc Lan và cs (2105) là 8,9 IU/L, độ 
nhạy thấp chỉ khoảng 52%.
4.4. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào 
lâm sàng
Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định tính ưu 
việt của AMH so với các xét nghiệm đánh giá dự 
trữ buồng trứng khác là AFC và FSH trong việc tiên 
lượng mức đáp ứng buồng trứng.
Đây là cơ sở để lựa chọn xét nghiệm đánh giá 
dự trữ buồng trứng nhằm giảm chi phí cho người 
bệnh trong điều kiện cụ thể của từng trung tâm 
TTTON. Việc sử dụng giá trị của FSH cần được cân 
nhắc vì khả năng dự đoán đáp ứng buồng trứng 
kém và nhiều không cao.
Khi kết quả các xét nghiệm không đồng nhất, 
chúng ta có thể ưu tiên lựa chọn giá trị của xét 
nghiệm có giá trị dự đoán tốt hơn để đưa ra hướng 
điều trị phù hợp.
Nghiên cứu này đóng góp vào dữ liệu chung về 
giá trị của xét nghiệm AMH trong thực hành lâm 
sàng TTTON hướng tới mục tiêu cá thể hóa điều trị.
5. Kết luận
AMH có giá trị dự đoán đáp ứng buồng trứng 
kém và nhiều tốt nhất, tiếp đến là AFC và cuối 
cùng là FSH. Đối với đáp ứng buồng trứng kém, 
giá trị ngưỡng của các xét nghiệm lần lượt là AMH: 
1,31ng/ml (độ nhạy 74%, độ đặc hiệu 86,9%); 
AFC < 8 nang (độ nhạy 74%, độ đặc hiệu 79%), 
FSH 7,1IU/L (độ nhạy 67,1%, độ đặc hiệu 68,7%). 
Đối với đáp ứng buồng trứng nhiều AMH: 3,31ng/
ml (độ nhạy 85,6%, độ đặc hiệu 71,9%); AFC > 12 
nang (độ nhạy 81,1%, độ đặc hiệu 64,3%), FSH 
5,72IU/L (độ nhạy 52,2%, độ đặc hiệu 70,3%).
Tài liệu tham khảo
1. Vương Thị Ngọc Lan. Giá trị các xét nghiệm AMH, FSH và AFC dự 
đoán đáp ứng buồng trứng trong thụ tinh ống nghiệm. Luận án Tiến sỹ 
Y học. Đại học Y dược Hồ Chí Minh. 2016.
2. Nguyễn Xuân Hợi. Giá trị tiên lượng của Anti Mullerian hormone 
đối với đáp ứng của buồng trứng trong kích thích buồng trứng”,http://
www.benhvienphusantrunguong.org.vn/stores/customer_f i le/
bvpstwadministrator/062016/13/sl ide_bao_cao_TS_Hoi_Viet.
pdfThemmen AP (2005). Anti-Mullerian hormone: its role in follicular 
growth initiation and survival and as an ovarian reserve marker. J Natl 
Cancer Inst Monogr; 2016. 34:18–21.
3. Arce JC, La Marca A, Mirner Klein B, Nyboe Andersen A, Fleming 
R. Antimullerian hormone in gonadotropin releasing-hormone antagonist 
cycles: prediction of ovarian response and cumulative treatment outcome 
in good-prognosis patients. Fertil Steril 99; 2013. pp.1644–1653
4. Polyzos NP, Tournaye H, Guzman L, Camus M, Nelson SM . redictors of 
ovarian response in women treated with corifollitropin alfa for in vitro fertilization/
intracytoplasmic sperm injection. Fertil Steril 100(2); 2013. pp.430-437.

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_gia_tri_cua_amh_afc_va_fsh_trong_du_doan_dap_ung_buo.pdf