So sánh ghép kết mạc rìa trên và dưới trong điều trị mộng thịt nguyên phát

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và an toàn của phẫu thuật ghép kết mạc tự thân

rìa dưới trong điều trị mộng thịt nguyên phát.

Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, tiến cứu, ngẫu nhiên, có nhóm

chứng. Nghiên cứu được thực hiện từ 6/2018 đến 2/2019 tại khoa mắt bệnh viện Quân y

175, trên 106 mắt của 90 bệnh nhân được chẩn đoán mộng thịt nguyên phát phân ngẫu

nhiên vào hai lô: lô 1 có 45 bệnh nhân (53 mắt) ghép kết mạc rìa trên như thông thường

và lô 2 có 45 bệnh nhân (53 mắt) ghép kết mạc rìa dưới. Bệnh nhân được theo dõi và tái

khám sau phẫu thuật ngày 1, 3, 7 và 14; tháng 1, 3 và 6

pdf 12 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "So sánh ghép kết mạc rìa trên và dưới trong điều trị mộng thịt nguyên phát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh ghép kết mạc rìa trên và dưới trong điều trị mộng thịt nguyên phát

So sánh ghép kết mạc rìa trên và dưới trong điều trị mộng thịt nguyên phát
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
24
SO SÁNH GHÉP KẾT MẠC RÌA TRÊN VÀ DƯỚI 
TRONG ĐIỀU TRỊ MỘNG THỊT NGUYÊN PHÁT
Lê Quang Thụy1, Nguyễn Hữu Chức2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và an toàn của phẫu thuật ghép kết mạc tự thân 
rìa dưới trong điều trị mộng thịt nguyên phát.
Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, tiến cứu, ngẫu nhiên, có nhóm 
chứng. Nghiên cứu được thực hiện từ 6/2018 đến 2/2019 tại khoa mắt bệnh viện Quân y 
175, trên 106 mắt của 90 bệnh nhân được chẩn đoán mộng thịt nguyên phát phân ngẫu 
nhiên vào hai lô: lô 1 có 45 bệnh nhân (53 mắt) ghép kết mạc rìa trên như thông thường 
và lô 2 có 45 bệnh nhân (53 mắt) ghép kết mạc rìa dưới. Bệnh nhân được theo dõi và tái 
khám sau phẫu thuật ngày 1, 3, 7 và 14; tháng 1, 3 và 6. 
Kết quả: Tất cả bệnh nhân đều hoàn tất thời gian theo dõi 6 tháng. Tuổi trung 
bình là 51,18 ± 8,95 (thay đổi 26-66) năm. Mộng độ 1 và 3 chiếm tỉ lệ 8,5% và 16% 
trong khi đó mộng độ 2 chiếm nhiều nhất là 75,5%. Tái phát xảy ra ở 2 mắt trong lô 1 
(3,8%) và 3 mắt trong lô 2 (5,7%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời 
gian phẫu thuật trung bình, thời gian liền biểu mô giác mạc, thẩm mỹ vùng ghép, biến 
chứng và tái phát giữa hai lô nghiên cứu.
Kết luận: Phẫu thuật mộng thịt ghép kết mạc rìa dưới là phương pháp có hiệu 
quả và an toàn. Không có sự khác biệt giữa ghép kết mạc rìa trên và ghép kết mạc rìa 
dưới.
Chìa khóa: mộng thịt nguyên phát, phẫu thuật mộng thịt, ghép kết mạc tự thân 
rìa dưới.
1 Bệnh viện Quân y 175
2 Bệnh viện Chợ Rẫy
Người phản hồi (Corresponding): Lê Quang Thụy ([email protected])
Ngày nhận bài: 15/11/2019, ngày phản biện: 24/2/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
25
COMPARISON OF INFERIOR AND SUPERIOR LIMBAL 
CONJUNCTIVAL AUTOGRAFT FOR PRIMARY PTERYGIUM 
ABSTRACT
Purpose: To evaluate the efficacy and safety of inferior limbal-conjunctival 
autograft transplantaion in patients with primary pterygia. 
Methods: Prospective randomised control study was carried out at Department 
of Ophthalmology, The Army-medical Hospital 175 from June-2018 to February-2019. 
106 eyes of 90 patients with primary pterygium were randomized to undergo pterygium 
surgery with conjunctival autograft transplantation using either superior limbal 
conjunctiva (53 eyes) or inferior limbal conjunctiva (53 eyes). The patients were followed 
up on postoperative day 1, 3, 7 and 14; 1, 3, and 6 months. 
Results: All patients were followed up for 6 months. The mean age of the 
patients was 51,18 ± 8,95 (range 26–66) years. Grade 1 and 3 pterygium comprised 
8,5% and 16% while grade 2 pterygium comprised 75,5% of cases. Two eyes in the 
superior conjunctival autograft group (3.8%) and 3 eyes in the inferior conjunctival 
autograft group (5.7%) developed pterygium recurrence. The mean surgical time, 
corneal epithelial healing time, cosmetic, complications and recurrence rates required 
in both groups were not statistically different. 
Conclusions: Pterygium excision with inferior conjunctival autograft is safe 
and effective. There was no statistically significant difference between the 2 groups, 
after excision with superior or inferior limbal conjunctival autograft.
Keywords: primary pterygium, pterygium surgery, inferior limbal-conjunctival 
autograft transplantaion
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phương pháp chính điều trị mộng 
thịt là phẫu thuật cắt mộng thịt. Tuy nhiên, 
biến chứng quan trọng nhất là khả năng 
tái phát, xảy ra khoảng 45-70% đối với kỹ 
thuật cắt mộng khâu đơn thuần [9], một 
thách thức đối với phẫu thuật viên.
Năm 1985, Kenyon [10], giới 
thiệu ghép kết mạc tự thân như một kỹ 
thuật để điều trị mộng tái phát hoặc mộng 
tiến triển. Theo Riordan sự làm kín hoàn 
toàn vị trí mộng thịt đã được cắt để trần 
củng mạc với sự bao phủ của mô kết mạc 
bình thường để làm đốt cháy (fire break) 
những tế bào tăng sinh tiêu diệt những mô 
bất thường còn lại ở kết mạc và thượng 
củng mạc, không cho chúng hướng về phía 
giác mạc và băng qua vùng rìa, như vậy 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
26
hạn chế tái phát [11]. Hiện tại, ghép kết 
mạc tự thân là tiêu chuẩn vàng trong điều 
trị mộng thịt. Tỉ lệ tái phát 5,3-20% tùy 
theo tác giả và tất cả nghiên cứu này mảnh 
ghép kết mạc được lấy từ phía trên nhãn 
cầu [9].
Có nhiều nghiên cứu cải tiến kỹ 
thuật hoặc áp dụng những kỹ thuật khác 
nhau để hạn chế khả năng tái phát sau phẫu 
thuật tới mức thấp nhất như ghép kết mạc 
tự thân vạt rộng (0,1%), ghép kết mạc rìa 
tự thân (0-14,29%), ghép kết mạc tự thân 
phối hợp keo fibrin (0-9,8%), vạt kết mạc 
nhỏ (6,1%), ghép màng ối (14,5-27,3%), 
ghép màng ối phối hợp keo fibrin (10-
10,5%), ghép màng ối kèm tiêm steroids 
(3-9,5%) [9]. Song đến nay, chưa có đề tài 
nào đặt vấn đề vị trí lấy mảnh ghép kết 
mạc sao cho thuận lợi, khắc phục những 
nhược điểm có thể gây ra. 
Thực tế lâm sàng có những trường 
hợp không thể lấy được kết mạc phía trên 
nhãn cầu như sẹo kết mạc, dính mi cầu, đã 
phẫu thuật cắt bè củng mạc Như vậy vị 
trí được chọn lựa trong trường hợp này có 
thể là kết mạc phía dưới nhãn cầu, kết mạc 
phía trên nhãn cầu ở mắt còn lại hoặc sử 
dụng màng ối để ghép.
Vì vậy, đề tài “Đánh giá lâm sàng 
và kết quả điều trị mộng thịt nguyên phát 
bằng ghép kết mạc rìa tự thân phía dưới 
nhãn cầu” được chọn làm nghiên cứu với 
mục tiêu nghiên cứu như sau:
- Phân tích đặc điểm lâm sàng của 
mộng thịt trên nhóm nghiên cứu.
- Đánh giá hiệu quả về lâm sàng, 
giải phẫu, chức năng thị giác và mức độ 
an toàn của phương pháp phẫu thuật mộng 
thịt với mảnh ghép kết mạc rìa dưới tự 
thân.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm 
sàng, ngẫu nhiên, có nhóm chứng. Đề tài 
được tiến hành từ 1/6/2018 đến 28/2/2019, 
gồm tổng số 106 mắt mộng thịt nguyên 
phát của 90 bệnh nhân được phẫu thuật tại 
bệnh viện Quân y 175. 
Đối tượng nghiên cứu được chọn 
và phân ngẫu nhiên vào hai lô: lô 1 là lô 
chứng ghép kết mạc rìa trên, lô 2 là lô 
nghiên cứu thực hiện ghép kết mạc rìa 
dưới. Tiêu chuẩn chọn mẫu là bệnh nhân bị 
mộng thịt nguyên phát, tuổi ≥ 20, nhãn áp 
trong giới hạn bình thường (12-22 mmHg: 
nhãn áp kế Schiotz), đồng ý phẫu thuật sau 
khi đã có thông tin đầy đủ. Tiêu chuẩn loại 
trừ bao gồm đang có viêm nhiễm trùng tại 
mắt, đang mắc các bệnh toàn thân như ung 
thư, lao, đái tháo đường, tăng huyết áp. 
Những mắt không thể lấy được mảnh ghép 
kết mạc phía trên hoặc phía dưới nhãn cầu 
như dính hoặc cạn cùng đồ, sẹo kết mạc, đã 
phẫu thuật mộng thịt ghép kết mạc. Mắt bị 
bệnh tăng nhãn áp, bệnh lý võng mạc, pha 
lê thể có chỉ định phẫu thuật. Có tiền căn 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
27
phẫu thuật cắt bè củng mạc, phẫu thuật nội 
nhãn, hay chấn thương. Bệnh nhân không 
tuân thủ chế độ điều trị và theo dõi.
Đánh giá bệnh nhân trước mổ 
bằng khám sinh hiển vi đèn khe kiểm tra 
phần trước nhãn cầu, xác định thị lực, đo 
nhãn áp và kiểm tra đáy mắt khi có nghi 
ngờ bệnh lý ảnh hưởng thị lực.
Chẩn đoán lâm sàng mộng thịt 
dựa vào mức độ xâm lấn giác mạc của đầu 
mộng thịt và hình thái mộng. Mức độ xâm 
lấn mộng thịt phân loại theo Cornand [8]: 
Độ 1 đầu mộng xâm nhập giác mạc < 2 
mm. Độ 2 đầu mộng xâm nhập giác mạc 
2-4 mm. Độ 3 đầu mộng xâm nhập giác 
mạc > 4 mm. Đặc điểm hình thái mộng thịt 
phân loại theo Tan [15]: Mộng thân dày 
không thể quan sát lớp mạch máu thượng 
củng mạc. Mộng trung gian có thể thấy 
một phần mạch máu thượng củng mạc. 
Mộng teo có thể quan sát rõ các mạch máu 
thượng củng mạc.
Kỹ thuật phẫu thuật
Bước 1-gây tê. Tiêm tê lidocaine 
2% dưới thân mộng, thuốc tê lan ra cả 
vùng kết mạc định lấy mảnh ghép.
Bước 2-cắt mộng thịt. Bóc tách 
đầu mộng, cắt đầu mộng, thân mộng. 
Bước 3-cắt mảnh ghép kết mạc rìa 
tự thân. 
Hình 1. Mở hai đường kết mạc 
đứng, song song nhau, dài 5-8 
mm, cách nhau 5-8 mm.
Hình 2. Bóc tách kết mạc với bao 
Tenon, tách đến vùng kết mạc 
bám vào giác mạc.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
28
Hình 3. Cắt đường kết mạc 
ngang ở phía cùng đồ, đường 
này song song với rìa và cách 
rìa dưới 5-8 mm.
Hình 4. Sử dụng dao số 15 để 
lạng lấy mảnh ghép phía vùng 
rìa giác mạc.
Đánh dấu mảnh ghép. Diện tích 
mảnh ghép kết mạc phải lớn hơn diện tích 
củng mạc trần là 1mm cả chiều ngang và 
chiều dọc. Vị trí lấy mảnh ghép cách rìa 
tối đa là 8 mm cho kết mạc rìa dưới và 10 
mm cho kết mạc rìa trên. Kích thước trung 
bình là 5 x 6 mm. Tách lớp biểu mô kết 
mạc rìa tự thân phía trên nhãn cầu (BN của 
lô 1) hoặc kết mạc rìa tự thân phía dưới 
nhãn cầu (BN của lô 2) khỏi lớp mô sợi 
mạch nằm dưới. Lớp biểu mô kết mạc đã 
bóc tách được để ra ngoài.
Trước tiên mở hai đường kết mạc 
đứng (Hình 1) dài 5-8 mm nếu lấy kết mạc 
rìa dưới hoặc 5-10 mm nếu lấy kết mạc 
rìa trên (song song với nhau và cách nhau 
5-8 mm). Sau đó bóc tách kết mạc với 
bao Tenon (Hình 2) càng kỹ càng tốt bằng 
dụng cụ kéo vi phẫu đầu tù hoặc đầu nhọn 
và Spatule. Tách đến vùng kết mạc bám 
vào giác mạc vì ở đây có nhiều tế bào gốc. 
Tiếp theo, cắt đường kết mạc 
ngang ở phía cùng đồ (Hình 3), đường 
này song song với rìa và cách rìa dưới 5-8 
mm hoặc cách rìa trên 5-10mm. Tiếp đến 
sử dụng dao số 15 để lạng lấy mảnh ghép 
phía vùng rìa giác mạc (phải chứa một 
vành nhỏ biểu mô giác mạc rìa, để lấy một 
phần tế bào gốc vùng rìa) (Hình 4).
Bước 4-khâu cố định mảnh ghép. 
Đặt mảnh ghép trên diện củng mạc trần, 
chỉnh sửa cho vừa vặn, đúng vị trí giải 
phẫu (kết mạc rìa quay về phía giác mạc, 
kết mạc cùng đồ về phía góc mắt, mặt biểu 
mô hướng ra ngoài). Khâu mảnh ghép vào 
đúng vị trí giải phẫu bằng chỉ Nylon 10.0, 
khâu 4-5 mũi rời cố định mảnh ghép ở 4 
góc và vùng rìa, và sau đó khâu mũi liên 
tục giữa mảnh ghép và kết mạc.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
29
Bước 5-kết thúc phẫu thuật. Rửa 
lại mắt, tra mỡ kháng sinh, băng mắt. 
Đánh giá
Theo dõi ngày thứ 1, 3, 7, 14 và 
tháng thứ 1, 3, 6. Nội dung theo dõi gồm 
thị lực, nhãn áp, khúc xạ, tình trạng nhãn 
cầu, tình trạng mảnh ghép, tình trạng giác 
mạc, biến chứng trong thời gian hậu phẫu 
và biến chứng muộn sau phẫu thuật và 
mức độ hài lòng của bệnh nhân.
Tái phát cải tiến theo xếp loại của 
Prabhasawat [12]: Độ 1 xuất hiện bình 
thường ở vị trí phẫu thuật. Độ 2 mộng thịt 
tái phát ở kết mạc với mô sợi mạch ở vùng 
cắt mộng, nhưng chưa xâm lấn giác mạc. 
Độ 3 mộng thịt tái phát sớm ở giác mạc 
với mô sợi mạch xâm lấn vào giác mạc ≤ 1 
mm. Độ 4 mộng thịt tái phát thật sự ở giác 
mạc với mô sợi mạch xâm lấn vào giác 
mạc > 1 mm. Trong nghiên cứu chúng 
tôi sử dụng định nghĩa tái phát như sau: 
Không tái phát là độ 1. Chớm tái phát là độ 
2 và độ 3. Tái phát thật sự là độ 4.
3. KẾT QUẢ 
3.1. Các đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Các đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm 
Lô 1
(n=45)
Lô 2
(n=45)
Lô tổng
(n=90)
p
N (%) or Mean (SD)
Tuổi
Trẻ (<50) 20 (44,4) 18 (40) 38 (42,2)
0,67
Già (≥50) 25 (55,6) 27 (60) 52 (57,8)
Trung bình 50,42 (8,58) 51,93 (9,33) 51,18 (8,95) 0,426
Giới
Nam 22 (48,9) 26 (57,8) 48 (53,3)
0,398
Nữ 23 (51,1) 19 (42,2) 42 (46,7)
Công 
việc
Trong nhà 4 (8,9) 9 (20) 13 (14,4)
0,134
Ngoài trời 41 (91,1) 36 (80) 77 (85,6)
Trong nghiên cứu, ghi nhận nam giới (53,3%) nhiều hơn nữ giới (46,7%), bệnh 
nhân thuộc nhóm tuổi già (57,8%) nhiều hơn tuổi trẻ (42,2%), công việc ngoài trời 
chiếm ưu thế (85,6%) so với trong nhà (14,4%). Có sự phân bố tương đồng về yếu tố 
dịch tễ giữa hai lô trong nghiên cứu, giúp đảm bảo không sai lệch khi phân tích kết quả.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
30
3.2. Các đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu
Bảng 2. Các đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm lâm sàng
Lô 1
(n=53)
Lô 2
(n=53)
Lô tổng
(n=106) p
N (%)
Vị trí mộng
Góc trong 51 (96,2) 50 (94,3) 101 (95,3)
1*Góc ngoài 1 (1,9) 2 (3,8) 3 (2,8)
Mộng kép 1 (1,9) 1 (1,9) 2 (1,9)
Độ mộng
1 4 (7,5) 5 (9,4) 9 (8,5)
0.354*2 43 (81,1) 37 (69,8) 80 (75,5)
3 6 (11,3) 11 (20,8) 17 (16)
Hình thái 
mộng
Teo 0 (0) 3 (5,7) 3 (2,8)
0,079*Trung gian 14 (26,4) 20 (37,7) 34 (32,1)
Thân dày 39 (73,6) 30 (56,6) 69 (65,1)
(*): Fisher’s exact test
Chiếm ưu thế là mộng thịt góc 
trong (95,3%), độ 2 (75,5%) và thân dày 
(65,1%). Ít gặp nhất là mộng kép (1,9%), 
độ 1 (8,5%) và dạng teo (2,8%). Không có 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc 
điểm lâm sàng giữa hai lô nghiên cứu.
Sự thay đổi thị lực
Trước phẫu thuật thị lực chủ 
yếu thuộc nhóm bình thường (0.7-1.0: 
65,09%) và gần bình thường (0.3- <0.7: 
34,91%), không xảy ra trường hợp thị lực 
thấp (<0.3: 0%). Sau phẫu thuật có 75,47 
% số mắt không biến đổi thị lực (thị lực 
không đổi hoặc chỉ thay đổi không quá 1 
hàng). Có 24,53 % số mắt cải thiện thị lực 
từ 2 hàng trở lên. Không có mắt nào giảm 
thị lực so với trước phẫu thuật.
Sự thay đổi nhãn áp
Mắt bị mộng thịt, nhãn áp bình 
thường chiếm ưu thế (99,06%), nhãn áp 
giới hạn cao chiếm tỉ lệ thấp hơn (0,94%) 
và hoàn toàn không có gây tăng nhãn áp 
(0%). Sau phẫu thuật đa số nhãn áp không 
thay đổi so với trước phẫu thuật (43,40%). 
Nhãn áp thay đổi tăng từ 1- <5 mmHg 
chiếm 39,6%; nhãn áp thay đổi giảm từ 
1- < 5 mmHg chiếm 17%. Không xảy ra 
trường hợp nhãn áp tăng hoặc giảm từ 
5mmHg trở lên so với trước phẫu thuật.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
31
3.3. Sự hồi phục về cấu trúc giải phẫu
Bảng 3. Sự hồi phục về cấu trúc giải phẫu
Đặc điểm cấu trúc giải phẫu
Lô 1
(n=53)
Lô 2
(n=53)
Lô tổng
(n=106)
Giá 
trị p
N (%)
Thời gian liền 
biểu mô giác 
mạc hoàn toàn
≤ 3 ngày 48 (90,6) 47 (88,7) 95 (89,6)
0,750>3ngày-≤7ngày 5 (9,4) 6 (11,3) 11 (10,4)
> 7 ngày 0 (0) 0 (0) 0 (0)
Tái phát
Không 43 (81,1) 39 (73,6) 82 (77,4)
0,771
Kết mạc 6 (11,3) 7 (13,2) 13 (12,3)
Sớm giác mạc 2 (3,8) 4 (7,5) 6 (5,7)
Thật sự 2 (3,8) 3 (5,7) 5 (4,7)
Thẩm mỹ 
vùng ghép
Tốt 40 (75,5) 41 (77,4) 81 (76,4)
0,083Trung bình 13 (24,5) 8 (15,1) 21 (19,8)
Kém 0 (0) 4 (7,5) 4(3,8)
Sự mô hóa giác mạc xảy ra hầu hết 
trong vòng 3 ngày sau phẫu thuật (91,5%). 
Một số mắt sự biểu mô hóa giác mạc vẫn 
tiếp tục xảy ra sau đó cho đến thời điểm 7 
ngày (10,4%). Không xảy ra trường hợp 
biểu mô hóa vẫn tiếp tục sau 1 tuần (0%). 
Sự biểu mô hóa giác mạc của 2 lô diễn ra 
tương đồng nhau (p=0,750).
Tỉ lệ chớm tái phát là 18% và tái 
phát thật sự là 4,7%. Không có sự khác 
biệt có ý nghĩa về sự tái phát trong 2 lô 
nghiên cứu (p=0,771; Fisher’s exact test).
Mức độ thẩm mỹ tại vùng ghép 
kết mạc. Loại tốt (A): kết mạc trắng, 
mỏng, trơn láng, không cương tụ, không 
tân mạch, không sẹo. Bệnh nhân rất hài 
lòng. Loại trung bình (B): kết mạc hồng, 
mỏng, trơn láng, không cương tụ, không 
tân mạch, không sẹo. Bệnh nhân hài lòng. 
Loại kém (C): kết mạc dày, cương tụ, tân 
mạch, sẹo. Bệnh nhân không hài lòng. Tỉ 
lệ đạt yêu cầu thẩm mỹ (loại A hoặc B) 
tại vùng ghép là 96,2%. Không có sự khác 
biệt có ý nghĩa về thẩm mỹ vùng ghép 
trong 2 lô nghiên cứu (p=0,083, Fisher’s 
exact test).
Mức độ an toàn của phẫu thuật: 
Kết quả nghiên cứu cho thấy không xảy ra 
tai biến trong lúc phẫu thuật; Biến chứng 
trong thời gian hậu phẫu gặp nhiều nhất 
là phù mảnh ghép (15,09%), kế đến là 
tụ máu dưới mảnh ghép (2,83%), không 
xảy ra biến chứng nặng như hoại tử mảnh 
ghép, loét giác mạc, viêm củng mạc hoại 
tử. Biến chứng hậu phẫu giữa 2 lô không 
có sự khác biệt có ý nghĩa (p=0,695); Biến 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
32
chứng muộn sau phẫu thuật gặp nhiều nhất 
là sẹo giác mạc (13,21%), xếp hàng thứ 2 
là nang vùi biểu mô (4,72%), ít nhất là mô 
hạt (0,94%). Không có các biến chứng 
nặng như loạn thị dai dẳng, khuyết biểu 
mô giác mạc dai dẳng, sẹo giác mạc, dính 
mi cầu, dính cơ trực hạn chế vận nhãn, 
mộng giả. Biến chứng muộn sau phẫu 
thuật không có sự khác biệt có ý nghĩa 
giữa 2 lô nghiên cứu (p=0,927).
3.4. Thời gian phẫu thuật 
Thời gian phẫu thuật trung bình là 
32 phút (32,45 ± 2,24), nhanh nhất là 29 
phút, chậm nhất là 40 phút. Sự khác biệt 
không có ý nghĩa về thời gian phẫu thuật 
trung bình của lô 1 và lô 2 (p=0,261).
4. BÀN LUẬN
Qua khảo sát yếu tố dịch tễ và 
lâm sàng cho thấy tần xuất mắc mộng thịt 
ở nam cao hơn nữ, mộng độ 2, vị trí góc 
trong và hình thái mộng thân dày là đặc 
thù của bệnh mộng thịt ở bệnh nhân đến 
khám và điều trị tại bệnh viện Quân y 175.
Trong phẫu thuật mộng thịt, vấn 
đề quan tâm nhất là sự tái phát và mức độ 
an toàn của phẫu thuật. Ngoài ra, sự khuyết 
biểu mô giác mạc, phục hồi sự trong suốt 
giác mạc, phục hồi thị lực và thẩm mỹ 
vùng ghép là những vấn đề cần đặt ra. Hơn 
nữa, tiêu chí thời gian hoàn thành một ca 
phẫu thuật mộng thịt cũng cần được đề 
cập đến. Cả hai phương pháp phẫu thuật 
đều thu được kết quả tương đương nhau và 
không có sự khác biệt giữa hai lô nghiên 
cứu.
Nhiều nghiên cứu trong y văn ghi 
nhận tần suất tái phát là 1,7-7,5% sau phẫu 
thuật mộng thịt nguyên phát ghép kết mạc 
tự thân rìa dưới nhãn cầu [5], [7], [13], 
[14], [16]. Nghiên cứu của chúng tôi có tần 
suất tái phát là 4,7%, tất cả các trường hợp 
tái phát xảy ra trong 6 tháng đầu sau phẫu 
thuật. Trong đó, tỉ lệ tái phát trong nghiên 
cứu của lô 1 và 2 lần lượt 3,8% và 5,7%. 
Kết quả tỉ lệ tái phát của nghiên cứu này 
cũng tương tự như các nghiên cứu của các 
tác giả trong nước [3], [4] và ngoài nước 
[14], [17] về phẫu thuật mộng thịt.
Không có những tai biến và biến 
chứng nghiêm trọng xảy ra trong và sau 
phẫu thuật. Các phẫu thuật viên đều lo 
ngại dính mi cầu xảy ra khi sử dụng mảnh 
ghép kết mạc rìa dưới nhãn cầu. Tuy nhiên, 
trong nghiên cứu này không xảy ra trường 
hợp dính mi cầu và trong y văn cũng chưa 
có báo cáo ghi nhận bất kỳ trường hợp 
dính mi cầu xảy ra sau phẫu thuật.
Thị lực tăng từ hai hàng trở lên so 
với trước phẫu thuật chiếm 24,53 %. Đây 
là những trường hợp mộng thịt độ 2 và 3 
xâm lấn gần trục thị giác hoặc gây loạn 
thị giác mạc nên sau khi phẫu thuật giải 
phóng được sự co kéo trên giác mạc hoặc 
loại bỏ che chắn trục thị giác nên thị lực 
tăng lên.
Thẩm mỹ tại vùng ghép của 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
33
nghiên cứu này đạt yêu cầu 96,2% (76,4% 
đạt yêu cầu thẩm mỹ cao, 19,8% đạt tương 
đối). Như vậy so với các kỹ thuật khác, kỹ 
thuật này mang lại kết quả thẩm mỹ gần 
tương đương [1], [2].
Thời gian phẫu thuật trung bình 
trong nghiên cứu này là 32,25 phút. Trong 
nghiên cứu của Sati-2014 [6] so sánh thời 
gian phẫu thuật giữa ba nhóm ghép kết 
mạc tự thân với kỹ thuật dán keo sinh học 
mất 15,5 phút, dán máu tự thân mất 16,97 
phút, khâu bằng chỉ Vicryl 8/0 mất 27,63 
phút. Kỹ thuật cắt và dán có ưu điểm hơn ở 
chỗ thời gian phẫu thuật ngắn hơn, không 
cắt chỉ. Nhưng thiết nghĩ thời gian phẫu 
thuật không được đặt nặng bởi vì mục đích 
chính của phẫu thuật cắt mộng thịt là an 
toàn, hạn chế tối đa biến chứng, tái phát và 
đạt hiệu quả thẩm mỹ cao nhất. 
Kết quả của nghiên cứu này thể 
hiện sự vận dụng hầu hết các chi tiết kỹ 
thuật ghép kết mạc rìa tự thân tốt nhất trên 
cơ sở hiểu biết mới về vai trò vùng rìa, 
cơ chế tái phát, đồng thời cải tiến một số 
điểm nhỏ của từng chi tiết với cách làm 
tỉ mỉ, cẩn thận với mục tiêu loại bỏ tối đa 
yếu tố thuận lợi gây tái phát như cắt hoàn 
toàn mô mộng thịt, không để sót lại mô xơ 
trong giác mạc và vùng rìa; tạo một bề mặt 
giác củng mạc sạch và phẳng; bóc tách 
kết mạc nhận và kết mạc cho kỹ; các mép 
khâu kết mạc được khâu vắt liên tục bằng 
chỉ nylon 10-0 không bị căng, không bị hở 
mép, chỗ nối phẳng và nằm trong diện che 
khuất của mi, các đầu chỉ được vùi dưới kết 
mạc; mảnh ghép kết mạc được cố định tốt 
với các mũi đính vào củng mạc nên mảnh 
ghép không bị bong, không bị di lệch, áp 
tốt vào nền củng mạc; chăm sóc hậu phẫu, 
kiểm soát phản ứng viêm tốt.
Hạn chế chính của nghiên cứu này 
là thời gian theo dõi ngắn. Thời gian theo 
dõi dài hơn có thể có thêm các trường hợp 
tái phát muộn hơn. Thời gian theo dõi tối 
thiểu là 6 tháng được chọn, bởi vì theo y 
văn hầu hết các trường hợp tái phát xảy ra 
trong vòng 4-5 tháng sau phẫu thuật.
5. KẾT LUẬN
Mộng thịt là một bệnh lý bề mặt 
nhãn cầu hay gặp nhất ở độ tuổi 40 – 60, 
nam gặp nhiều hơn nữ; gặp nhiều ở những 
đối tượng làm việc ngoài trời tiếp xúc 
nhiều với tia cực tím, gió, bụi. Vị trí tại 
góc trong chiếm tỉ lệ 95,3% gây giảm thị 
lực do loạn thị giác mạc hoặc che chắn trục 
thị giác.
Phẫu thuật là phương pháp điều 
trị chính của mộng thịt. Ghép kết mạc rìa 
tự thân phía dưới nhãn cầu có hiệu quả và 
an toàn tương đương ghép kết mạc tự thân 
phía trên nhãn cầu trong điều trị mộng thịt 
nguyên phát. Tỉ lệ thành công là 95,3%. Tỉ 
lệ tái phát là 4,7%. Mức độ hài lòng của 
bệnh nhân là 96,2%.
Đây có thể là lựa chọn thay thế 
cho mảnh ghép kết mạc phía trên nhãn cầu 
trong trường hợp không thể hoặc không 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
34
nên sử dụng mảnh ghép kết mạc phía trên 
nhãn cầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Văn Giang (2015), Nghiên 
cứu đánh giá kết quả phẫu thuật mộng 
thịt ghép kết mạc rìa tự thân có lót màng 
ối, Luận văn Tốt nghiệp Chuyên khoa 2 
chuyên ngành Nhãn khoa, Đại học Y Dược 
Tp.HCM.
2. Nguyễn Công Kiệt, Nguyễn 
Văn Lành (2017), “Đánh giá hiệu quả phẫu 
thuật mộng thịt ghép kết mạc tự thân mảnh 
rộng cải tiến”, Tạp chí Y học Tp.HCM, 21 
(1), tr.66-71.
3. Lê Minh Thông, Nguyễn Văn 
Thi (2012), “Đánh giá kết quả điều trị 
mộng thịt nguyên phát bằng phẫu thuật 
cắt mộng - xoay vạt kết mạc kết hợp áp 
mitomycin-C”, Tạp chí Y học Tp.HCM, 
16 (1), tr.54-59.
4. Trần Thị Phương Thu, Nguyễn 
Hoàng Thụy Khanh (2012), “Đánh giá 
hiệu quả keo fibrin trong phẫu thuật điều 
trị mộng nguyên phát”, Tạp chí Y học 
Tp.HCM, 16 (1), tr.129-135.
5. Shrestha A, Shrestha A, 
Bhandari S, Maharjan N, Khadka D, Pant 
SR, Pant B P (2012), “Inferior conjunctival 
autografting for pterygium surgery: an 
alternative way of preserving the glaucoma 
filtration site in far western Nepal”, Clin 
Ophthalmol, 6 pp.315-324.
6. Sati Alok, Shankar Sandeep, Jha 
Ashok, Kalra Deepak, Mishra Sanjay, VS 
Gurunadh (2014), “Comparison of efficacy 
of three surgical methods of conjunctival 
autograft fixation in the treatment of 
pterygium”, International ophthalmology, 
34 (6), pp.1233-1239.
7. Othman Farouk (2015), 
“Inferior limbal conjunctival autografting 
in primary pterygium”, J Egypt Ophthalmol 
Soc, 108 (2), pp.43-46.
8. Cornand G (1989), “Pterygium. 
Clinical course and treatment”, 66 (3-4), 
pp.31-108.
9. Janson Ben J, Sikder Shameema 
(2014), “Surgical management of 
pterygium”, The ocular surface, 12 (2), 
pp.112-119.
10. Kenyon, Kenneth R, Wagoner, 
Michael D, Hettinger, Michael E (1985), 
“Conjunctival autograft transplantation 
for advanced and recurrent pterygium”, 
Ophthalmology, 92 (11), pp.1461-1470.
11. Riordan-Eva P, Kielhorn I, 
Ficker LA, Steele AD McG, Kirkness CM 
(1993), “Conjunctival autografting in the 
surgical management of pterygium”, Eye, 
7 (5), pp.634-638.
12. Prabhasawat Pinnita, Barton 
Keith, Burkett Gene, Tseng Scheffer 
(1997), “Comparison of conjunctival 
autografts, amniotic membrane grafts, and 
primary closure for pterygium excision”, 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
35
Ophthalmology, 104 (6), 974-985.
13. Chen Q, Li Y, Xu F, Yan Y, 
Lu K, Cui L, Li M (2015), “Comparison 
of Inferior and Superior Conjunctival 
Autograft for Primary Pterygium”, Curr 
Eye Res, 40 (8), pp.786-877.
14. Yeung SN, Lichtinger A, 
Kim P, Elbaz U, Ku JY, Amiran MD, . . 
. Slomovic AR (2013), “Superior versus 
inferior conjunctival autografts combined 
with fibrin glue in the management of 
primary pterygia”, Cornea, 32 (12), 
pp.1582-1588.
15. Tan Donald TH, Chee Soon-
Phaik, Dear Keith BG, Lim Arthur SM 
(1997), “Effect of pterygium morphology 
on pterygium recurrence in a controlled 
trial comparing conjunctival autografting 
with bare sclera excision”, Archives of 
ophthalmology, 115 (10), pp.1235-1240.
16. Celeva Markovska Vesna, 
Stankovic Babic Gordana, Zdravkovska 
Milka (2011), “Comparative study of 
pterygium surgery”, Contributions, Sec. 
Biol. Med. Sci. MASA, 32 (2), pp.273-
287.
17. Chen Xiuping, Yuan Fei 
(2018), “Ologen Implantation versus 
Conjunctival Autograft Transplantation 
for Treatment of Pterygium”, Journal of 
ophthalmology, 2018 

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_ghep_ket_mac_ria_tren_va_duoi_trong_dieu_tri_mong_th.pdf