So sánh chất lượng tỉnh mê của desflurane và sevoflurane trong tán sỏi niệu quản nội soi

Mục tiêu: Thức tỉnh sớm với chất lượng tỉnh mê tốt sau gây mê toàn diện là một trong các mục tiêu quan

trọng đối với các phẫu thuật trong ngày. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh chất lượng tỉnh mê giữa desflurane

với sevoflurane trong gây mê toàn diện bằng mặt nạ thanh quản để phẫu thuật nội soi tán sỏi niệu quản.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Đây là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng gồm 60

trường hợp tán sỏi niệu quản nội soi, chia thành 2 nhóm: nhóm desflurane và nhóm sevoflurane. Kết cục chính là

thời gian tỉnh mê. Kết cục phụ là thời gian đào thải thuốc mê hô hấp, thời gian rút được mặt nạ thanh quản, kích

thích sau tỉnh mê, điểm Aldrete sau nhập hồi tỉnh, thời gian đạt đủ độ mê, độ mê trong mổ và các tác dụng phụ do

thuốc mê hô hấp

pdf 8 trang phuongnguyen 480
Bạn đang xem tài liệu "So sánh chất lượng tỉnh mê của desflurane và sevoflurane trong tán sỏi niệu quản nội soi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: So sánh chất lượng tỉnh mê của desflurane và sevoflurane trong tán sỏi niệu quản nội soi

So sánh chất lượng tỉnh mê của desflurane và sevoflurane trong tán sỏi niệu quản nội soi
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 113 
SO SÁNH CHẤT LƯỢNG TỈNH MÊ CỦA DESFLURANE VÀ SEVOFLURANE 
TRONG TÁN SỎI NIỆU QUẢN NỘI SOI 
Nguyễn Thị Thanh1, Lương Toàn Hoàng Long1, Đinh Hữu Hào1, Huỳnh Văn Bình1, Trần Ngọc Trung1 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Thức tỉnh sớm với chất lượng tỉnh mê tốt sau gây mê toàn diện là một trong các mục tiêu quan 
trọng đối với các phẫu thuật trong ngày. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh chất lượng tỉnh mê giữa desflurane 
với sevoflurane trong gây mê toàn diện bằng mặt nạ thanh quản để phẫu thuật nội soi tán sỏi niệu quản. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Đây là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng gồm 60 
trường hợp tán sỏi niệu quản nội soi, chia thành 2 nhóm: nhóm desflurane và nhóm sevoflurane. Kết cục chính là 
thời gian tỉnh mê. Kết cục phụ là thời gian đào thải thuốc mê hô hấp, thời gian rút được mặt nạ thanh quản, kích 
thích sau tỉnh mê, điểm Aldrete sau nhập hồi tỉnh, thời gian đạt đủ độ mê, độ mê trong mổ và các tác dụng phụ do 
thuốc mê hô hấp. 
Kết quả: Thời gian tỉnh mê ở nhóm desflurane ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sevoflurane (423,7 
± 59,9 giây so với 811,8 ± 139,5 giây; p <0,001). Thời gian thải thuốc mê hô hấp và thời gian rút được mặt nạ 
thanh quản ở nhóm desflurane ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sevoflurane (lần lượt là 421,6 ± 45,1 
giây so với 799,8 ± 138,7 giây, p <0,001 và 445,6 ± 42,9 giây so với 824,3 ± 142,2 giây, p <0,001). Tuy nhiên, tỉ lệ 
kích thích sau tỉnh mê, điểm Aldrete tại các thời điểm, và tác dụng phụ không khác biệt giữa 2 nhóm. 
Kết luận: Duy trì mê bằng desflurane có rút ngắn khoảng 48% thời gian tỉnh mê và có chất lượng tỉnh mê 
tốt hơn so với sevoflurane trong gây mê toàn diện qua mặt nạ thanh quản để phẫu thuật nội soi tán sỏi niệu quản. 
Từ khóa: tán sỏi niệu quản nội soi, tỉnh mê sớm, chất lượng tỉnh mê 
ABSTRACT 
COMPARE THE AWAKENING QUALITY AFTER ANESTHESIA 
OF DESFLURANE AND SEVOFLURANE IN ENDOSCOPIC URETERAL LITHOTRIPSY 
Nguyen Thi Thanh, Luong Toan Hoang Long, Dinh Huu Hao, Huynh Van Binh, Tran Ngoc Trung 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 113 - 120 
Objective: The good awakening quality after general anesthesia is one of goals for short procedures and 
ambulatory surgeries. The study’s objective was to compare the awakening quality after anesthesia using 
desflurane and sevoflurane in general anesthesia with laryngeal mask airway for endoscopic ureteral lithotripsy. 
Methods: This is a randomized controlled trial. 60 cases of endoscopic ureteral lithotripsy under general 
anesthesia with laryngeal mask airway were enrolled. All cases were randomly assigned to two group (desflurane 
or sevoflurane). Each group had 30 cases. Primary outcome was time to awakening. Secondary outcomes were 
wash-out time of volatile anesthetic, time to extubation, irritation after awakening, and modified Aldrete score. 
Results: Time to awakening of desflurane group was shorter than sevoflurane group, (423.7 ± 59.9 versus 
811.8 ± 139.5 seconds, p <0.001). Wash-out time of volatile anesthetics and time to extubation of desflurane group 
was shorter than sevoflurane group, respectively (421.6 ± 45.1 versus 799.8 ± 138.7 seconds, p <0.001 and 445.6 
± 42.9 versus 824.3 ± 142.2 seconds, p <0.001). However, the difference of incidence of irritation after awakening, 
and Aldrete score, and side-effect of drugs were not significant between two groups. 
1Khoa Gây mê Hồi sức, BV Nhân dân Gia Định 
Tác giả liên lạc: BS. Lương Toàn Hoàng Long ĐT: 0945506131 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 114 
Conclusions: Anesthesia maintenance with desflurane will shorten about 48% of time to awakening, 
and awakening quality after anesthesia is better than sevoflurane in general anesthesia for endoscopic 
ureteral lithotripsy. 
Keywords: endoscopic ureteral lithotripsy, early awakening, quality of recovery 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thức tỉnh sớm với chất lượng tỉnh mê tốt sau 
gây mê là một trong những mục tiêu quan trọng 
đối với phẫu thuật trong ngày. Chất lượng tỉnh 
mê tốt thể hiện qua việc người bệnh có thể 
nhanh chóng được rút nội khí quản hoặc mặt nạ 
thanh quản, và không kích thích sau tỉnh mê. 
Đồng thời, người bệnh còn có thể sớm rời phòng 
hồi tỉnh, trở lại các sinh hoạt thường ngày một 
cách nhanh chóng. 
Sevoflurane và desflurane có thể giúp rút 
ngắn thời gian hồi phục sau gây mê bao gồm 
thời gian từ khi ngưng cung cấp thuốc mê hô 
hấp đến khi người bệnh mở mắt, có phản xạ 
định hướng và thực hiện được theo y lệnh, thời 
gian từ khi kết thúc mổ đến khi đủ tiêu chuẩn 
xuất viện, và thời gian từ khi xuất viện đến khi 
trở lại hoàn toàn các sinh hoạt thường ngày của 
người bệnh(1,2,3). Tuy nhiên, các nghiên cứu trên 
thực hiện ở đối tượng được gây mê toàn diện 
qua nội khí quản. 
Tán sỏi niệu quản nội soi là một trong 
những loại phẫu thuật mà người bệnh niệu 
quản nội soi là gây mê toàn diện qua mặt nạ 
thanh quản. Đây là phẫu thuật có thời gian 
phẫu thuật ngắn, cần có một loại thuốc mê vừa 
đảm bảo đạt đủ độ mê nhanh chóng, hiệu quả, 
đồng thời phải có thời gian thải trừ thuốc mê 
ngắn để người bệnh có thể tỉnh mê một cách 
nhanh chóng. Một số nghiên cứu cho rằng cả 
sevoflurane và desflurane đều có thể đáp ứng 
được yêu cầu trên, đó là đạt đủ độ mê và thải 
trừ thuốc mê nhanh chóng, cho phép người 
bệnh tỉnh mê sớm. 
Tuy nhiên, năm 2007, La Colla L(4) khi thực 
hiện nghiên cứu ở 28 trường hợp người bệnh 
béo phì, được chia làm 2 nhóm (nhóm 
sevoflurane và nhóm desflurane). Kết quả cho 
thấy tỉ lệ FA/FI tại 2 thời điểm phút thứ 15 và 
phút thứ 30 ở nhóm desflurane đều cao hơn so 
với nhóm sevoflurane. Ngoài ra, nhóm 
desflurane cũng có tổng thời gian đào thải thuốc 
mê hô hấp ngắn hơn so với nhóm sevoflurane. 
Vậy, liệu rằng desflurane có hiệu quả thức 
tỉnh sớm với chất lượng tỉnh mê tốt hơn 
sevoflurane hay không. Nghiên cứu này chọn 
thực hiện ở đối tượng tán sỏi niệu quản nội soi 
dưới gây mê toàn diện qua mặt nạ thanh quản. 
Giả thiết của nghiên cứu là desflurane có thể rút 
ngắn 40% thời gian tỉnh mê so với sevoflurane. 
Mục tiêu 
So sánh thời gian tỉnh mê giữa nhóm sử 
dụng desflurane và sevoflurane trên đối tượng 
tán sỏi niệu quản nội soi. 
So sánh chất lượng tỉnh mê sau tỉnh mê giữa 
nhóm sử dụng desflurane và sevoflurane trên 
đối tượng tán sỏi niệu quản nội soi. 
So sánh tác dụng phụ do thuốc mê hô hấp 
giữa nhóm sử dụng desflurane và sevoflurane 
trên đối tượng tán sỏi niệu quản nội soi. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả các trường hợp tán sỏi niệu quản nội 
soi tại bệnh viện Nhân dân Gia Định từ tháng 
12/2019 đến tháng 5/2020. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Tất cả các trường hợp có chỉ định phẫu thuật 
tán sỏi niệu quản nội soi được gây mê toàn diện 
đặt mặt nạ thanh quản; từ đủ 18 đến 70 tuổi; và 
phân độ ASA từ I đến II. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Tất cả các trường hợp chống chỉ định của 
mặt nạ thanh quản hoặc phải đặt nội khí quản 
trong quá trình phẫu thuật; tiền căn bản thân 
hoặc gia đình có tăng thân nhiệt ác tính; các 
trường hợp có bệnh mạn tính gồm hen phế 
quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh lý tim 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 115 
mạch, hô hấp, thận, gan, chuyển hóa hoặc nội 
tiết không ổn định hoặc mức độ nặng; phụ nữ 
mang thai và đang cho con bú; các trường hợp 
béo phì (Chỉ số khối [BMI] >25 kg/m2); nghiện 
rượu; Hb <5 g/dL. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm 
chứng, không mù. 
Cỡ mẫu 
Với giả thiết desflurane rút ngắn 40% thời 
gian tỉnh mê so với sevoflurane (μ2 = 267,9 giây, 
độ chính xác 95% (α = 0,05) và độ mạnh nghiên 
cứu 90% (β = 0,01). Theo nghiên cứu của Green 
MS(5), thời gian tỉnh mê đối với các trường hợp 
tán sỏi niệu quản nội soi dưới gây mê toàn diện 
qua mặt nạ thanh quản với sevoflurane là 446,5 
228,19 giây. Cỡ mẫu tối thiểu tính được cho mỗi 
nhóm là 28,1 trường hợp. Nghiên cứu này đã 
chọn được 30 trường hợp cho mỗi nhóm, không 
có trường hợp nào bị loại ra khỏi nghiên cứu 
hoặc mất mẫu sau khi đã tuyển chọn. 
Kỹ thuật chọn mẫu 
Chọn mẫu ngẫu nhiên. Một người không 
tham gia nghiên cứu sử dụng phần mềm excel 
(mã bản quyền: eab3c8f8-7488-460f-a2b4-
412eaddea8bf) để phân nhóm 60 trường hợp 
theo số ngẫu nhiên và bỏ vào phong bì dán kín. 
Sau khi đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia 
và ký chấp thuận, người này chọn 01 phong bì 
và phân đối tượng đó vào một trong 2 nhóm 
nghiên cứu theo số ngẫu nhiên trong phong bì. 
Cách tiến hành nghiên cứu 
Tất cả các trường hợp có chỉ định phẫu thuật 
chương trình tán sỏi niệu quản nội soi đủ tiêu 
chuẩn chọn mẫu được nhóm nghiên cứu khám 
tiền mê và cung cấp thông tin liên quan đến 
nghiên cứu. Các trường hợp đồng ý được ký 
chấp thuận tham gia nghiên cứu. 
Cả 2 nhóm được gây mê toàn diện và đặt 
mặt nạ thanh quản bởi bác sĩ gây mê hồi sức có 
chứng chỉ hành nghề và được phân cấp kỹ thuật. 
Hình 1: Lưu đồ nghiên cứu 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 116 
Sau khi đặt mặt nạ thanh quản, các trường 
hợp tham gia nghiên cứu được mở phong bì và 
phân nhóm ngẫu nhiên vào 2 nhóm D (duy trì 
mê bằng desflurane) và S (duy trì mê bằng 
sevoflurane). Các trường hợp ở nhóm D được 
thiết lập desflurane 6%. Các trường hợp ở nhóm 
S được thiết lập sevoflurane 2%. Ghi nhận thời 
gian từ lúc bắt đầu cung cấp thuốc mê hô hấp 
đến lúc đạt 0,7 MAC (nồng độ phế nang tối 
thiểu) theo tuổi đối với từng loại thuốc mê. 
Sau khi đạt được 0,7 MAC, thuốc mê hô hấp 
được điều chỉnh trong mổ dựa trên nồng độ 
thuốc mê cuối thì thở ra để duy trì 0,7 – 1,3 MAC 
với lưu lượng khí mới 1,5 L/phút và FiO2 40%. 
Đánh giá độ mê theo thang điểm PRST (thang 
điểm đánh giá đáp ứng của bệnh nhân đối với 
kích thích phẫu thuật) tại các thời điểm: bắt đầu 
phẫu thuật, mỗi 30 phút sau phẫu thuật và khi 
kết thúc phẫu thuật. Ghi nhận tổng liều thuốc co 
mạch sử dụng. Trong suốt thời gian gây mê, các 
trường hợp được sưởi ấm bằng máy sưởi. 
Kết thúc phẫu thuật, ghi nhận thời gian phẫu 
thuật, ngưng cung cấp thuốc mê và cài đặt lưu 
lượng khí mới 8 L/phút với FiO2 100% và ghi 
nhận thời gian gây mê. Ghi nhận thời gian từ lúc 
ngưng cung cấp thuốc mê đến lúc tỉ lệ thuốc mê 
trong khí thở ra bằng 0. Tiếp tục ghi nhận thời 
gian từ lúc ngưng cung cấp thuốc mê hô hấp 
đến lúc các trường hợp mở mắt tự nhiên, và đến 
khi các trường hợp thực hiện được theo y lệnh 
và thở được VT 6 mL/kg với tần số thở tối thiểu 
10 lần/phút, SpO2 ≥ 96%, EtCO2 ≤45 mmHg. Tiến 
hành rút mặt nạ thanh quản. Đánh giá tình trạng 
kích thích của các trường hợp sau rút mặt nạ 
thanh quản dựa trên thang điểm Aono. 
Tại hồi tỉnh, các trường hợp được theo dõi 
sinh hiệu, tri giác, SpO2 mỗi giờ. Ghi nhận 
Aldrete tại thời điểm nhập hồi tỉnh, 30 phút, 1 
giờ và 2 giờ sau nhập hồi tỉnh. Buồn nôn và nôn 
sau tỉnh mê cũng được thu thập để phân tích. 
Biến số nghiên cứu 
Biến số kết cục chính 
Thời gian tỉnh mê là thời gian từ lúc ngưng 
cung cấp thuốc mê đến lúc các trường hợp mở 
mắt tự nhiên. Đây là biến số định lượng, đơn vị 
đo là giây. 
Biến số kết cục phụ 
Thời gian đào thải thuốc mê hô hấp là thời 
gian từ lúc ngưng cung cấp thuốc mê đến khi tỉ 
lệ thuốc mê trong khí thở ra bằng 0. Đây là biến 
số định lượng, đơn vị đo là giây. 
Thời gian rút được mặt nạ thanh quản là thời 
gian từ khi ngưng cung cấp thuốc mê đến khi 
các trường hợp mở mắt tự nhiên, thực hiện được 
theo y lệnh và tự hít thở được VT tối thiểu 6 
ml/kg và tần số thở tối thiểu 10 lần/phút, EtCO2 
≤45 mmHg, SpO2 ≥96%. Đây là biến số định 
lượng, đơn vị đo là giây. 
Kích thích sau tỉnh mê là biến nhị giá, mang 
2 giá trị là có và không. Kích thích sau tỉnh mê 
được đánh giá dựa trên thang điểm Aono. Điểm 
Aono ≥3 điểm được định nghĩa là có kích thích 
sau tỉnh mê. 
Thời gian đạt đủ độ mê là thời gian được 
tính từ thời điểm bắt đầu cung cấp thuốc mê hô 
hấp đến thời điểm đạt 0,7 MAC tương ứng của 
từng loại thuốc mê sử dụng. Đây là biến số định 
lượng, đơn vị đo là giây. 
Độ mê theo thang điểm PRST: là biến số nhị 
giá, mang hai giá trị là đủ và không đủ độ mê. 
Độ mê được đo tại thời điểm bắt đầu phẫu 
thuật, 30 phút sau phẫu thuật và khi kết thúc 
phẫu thuật. Điểm PRST được dùng để đánh giá 
độ mê trong mổ dựa trên các tiêu chí huyết áp 
tâm thu, nhịp tim, tình trạng đổ mồ hôi và chảy 
nước mắt. Mỗi tiêu chí có điểm từ 0 đến 2. Tổng 
từ 3 điểm trở lên được xem là không đủ độ mê. 
Điểm Aldrete tại các thời điểm: lúc nhập hồi 
tỉnh, 30 phút, 1 giờ, 2 giờ sau nhập hồi tỉnh. 
Tác dụng phụ của thuốc mê hô hấp gồm: tụt 
huyết áp trong gây mê (khi huyết áp tâm thu 
giảm hơn 30% so với huyết áp ban đầu của 
người bệnh); buồn nôn, nôn; ho sau tỉnh mê. 
Chất lượng tỉnh mê được đánh giá qua các 
biến số thời gian rút được mặt nạ thanh quản, 
kích thích sau tỉnh mê và điểm Aldrete. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 117 
Phương pháp thu thập số liệu 
Tất cả các số liệu sẽ được thu thập vào một 
Phiếu thu thập số liệu được soạn sẵn, mỗi 
trường hợp một phiếu. 
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 
Tất cả các số liệu được mô tả và phân tích 
bằng phần mềm thống kê SPSS v25,0 (số đăng 
ký # 1975-01566-C). Kiểm tra tính phân phối 
chuẩn bằng phép kiểm Kolmogorov-Smirnov. 
Các biến số định lượng được mô tả bằng số 
trung bình độ lệch chuẩn. Các biến số định 
tính được mô tả bằng tần số (tỉ lệ %). Thời gian 
đạt đủ độ mê, thời gian tỉnh mê được mô tả 
bằng đường cong Kaplan-Meier và phân tích 
bằng phép kiểm log-rank. So sánh thời gian đào 
thải thuốc mê, thời gian rút được mặt nạ thanh 
quản giữa nhóm D và nhóm S bằng phép kiểm T 
độc lập. So sánh tỉ lệ đủ độ mê theo PRST trong 
mổ, tỉ lệ kích thích sau tỉnh mê, điểm aldrete 
giữa nhóm D và nhóm S bằng phép kiểm 2. So 
sánh các tác dụng phụ do thuốc mê hô hấp giữa 
2 nhóm bằng phép kiểm Fisher. Sự khác biệt có ý 
nghia thống kê khi p <0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức của 
Bệnh viện Nhân dân Gia Định chấp thuận theo 
quyết định số 81/CN-HĐĐĐ. 
KẾT QUẢ 
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, 60 các 
trường hợp tán sỏi niệu quản thỏa tiêu chuẩn 
chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu đã 
được tuyển chọn và chia thành 2 nhóm. Nhóm D 
có 30 trường hợp được gây mê toàn diện qua 
mặt nạ thanh quản và duy trì mê với desflurane. 
Nhóm S có 30 các trường hợp được gây mê toàn 
diện qua mặt nạ thanh quản và duy trì mê với 
sevoflurane. 
Trong cả hai nhóm, không có biến cố nghiêm 
trọng nào xảy ra; cũng như không có trường hợp 
bị mất mẫu hoặc rút khỏi nghiên cứu. 
Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
các đặc điểm chung giữa hai nhóm (Bảng 1). 
Bảng 2: So sánh đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 
Nhóm D 
n = 30 
Nhóm S 
n = 30 
Giá trị p 
Tuổi (năm)
*
 49,1 ± 10,2 49,5 ± 12,6 0,71 
Giới tính
† 
Nam 
Nữ 
16 (53,3) 
14 (46,7) 
20 (66,7) 
10 (33,3) 
0,29 
Cân nặng
*
 56,3 ± 7,6 58,5 ± 9,2 0,31 
Chiều cao
*
 161,2 ± 8,1 163,9 ± 6,5 0,16 
ASA
† 
I 
II 
15 (50) 
15 (50) 
9(30) 
21 (70) 
0,11 
TGPT (phút)
 *
 33,0 ± 16,3 35,2 ± 15,3 0,47 
TGGM (phút)
 *
 53,0 ± 18,9 53,2 ± 20,8 0,85 
*Trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn 
†Trình bày dưới dạng tần số (phần trăm) 
Thời gian đạt đủ độ mê 
Hình 1: Đường conng Kaplan-Meier thời gian tỉnh 
mê giữa hai nhóm 
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời 
gian đạt đủ độ mê giữa nhóm D và nhóm S. 
Nhóm D tỉnh mê nhanh hơn so với nhóm S 
(p=0,003 với phép kiểm log-rank) (Hình 1). 
So sánh độ mê giữa 2 nhóm dựa trên điểm 
PRST 
Tại thời điểm bắt đầu phẫu thuật, 30 phút 
sau bắt đầu phẫu thuật và khi kết thúc phẫu 
thuật tất cả các trường hợp ở nhóm D và nhóm S 
đều đạt đủ độ mê. Có 12 trường hợp ở nhóm D 
và 7 trường hợp ở nhóm S không có dữ liệu 
PRST ở thời điểm 30 phút sau bắt đầu phẫu 
thuật do thời gian phẫu thuật dưới 30 phút. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 118 
Thời gian đào thải thuốc mê hô hấp 
Thời gian đào thải thuốc mê hô hấp trung 
bình ở nhóm duy trì mê với desflurane ngắn hơn 
so với nhóm duy trì mê với sevoflurane (421,6 ± 
45,1 so với 799,8 ± 138,7 giây). Sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p <0,001. 
Thời gian tỉnh mê 
Thời gian tỉnh mê trung bình của nhóm D 
ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm S 
(423,7 ± 59,9 giây so với 811,8 ± 139,5; p <0,001). 
Hình 2: Đường cong Kaplan-Meier thời gian tỉnh mê 
giữa nhóm desflurane và nhóm sevoflurane. 
Đối với nhóm D, sau khi ngưng cung cấp 
thuốc mê hô hấp, thời gian sớm nhất để các 
trường hợp tỉnh mê là 230 giây. Trong khi đó, 
thời gian sớm nhất để các trường hợp được duy 
trì mê của nhóm S tỉnh mê sau khi ngưng cung 
cấp thuốc mê hô hấp là 450 giây. Sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê với p <0,001 (Hình 2). 
Thời gian tỉnh mê giữa nhóm được duy trì 
mê bằng desflurane ngắn hơn so với nhóm được 
duy trì mê bằng sevofluarane. Sự khác biệt này 
có ý nghĩa thống kê (p <0,001 với phép kiểm log-
rank). Vậy, duy trì mê bằng desflurane đã rút 
ngắn được 47,8% thời gian tỉnh mê so với 
sevoflurane. 
Chất lượng tỉnh mê 
Nhóm D có chất lượng tỉnh mê tốt hơn so 
với nhóm S với thời gian rút được mặt nạ thanh 
quản nhanh hơn có ý nghĩa thống kê so với 
sevoflurane (p <0,001), tỉ lệ đạt đủ 10 điểm 
Aldrete lúc nhập hồi tỉnh và 30 phút sau nhập 
hồi tỉnh cao hơn so với nhóm S (p lần lượt là 
0,003 và <0,001) và không khác biệt về tỉ lệ kích 
thích sau tỉnh mê (Bảng 2). 
Bảng 3: So sánh chất lượng tỉnh mê giữa hai nhóm 
 Nhóm D (n = 30) Nhóm S (n = 30) Giá trị p 
Thời gian rút được mặt nạ thanh quản (giây)
*
 445,6 ± 42,9 824,3 ± 142,2 <0,001 
Tỉ lệ kích thích sau tỉnh mê† 1 (3,3) 4 (13,3) 0,35 
Điểm Aldrete khi nhập hồi tỉnh† 
10 điểm 
<10 điểm 
16 (53,3) 
14 (46,7) 
5 (16,7) 
25 (83,3) 
0,003 
Điểm Aldrete 30 phút sau nhập hồi tỉnh† 
10 điểm 
<10 điểm 
28 (93,3) 
2 (6,7) 
15 (50) 
15 (50) 
<0,001 
Điểm Aldrete 60 phút sau nhập hồi tỉnh† 
10 điểm 
<10 điểm 
30 (100) 
0 
29 (96,7) 
1 (3,3) 
1 
Điểm Aldrete 120 phút sau nhập hồi tỉnh† 
10 điểm 
<10 điểm 
30 (100) 
0 
30 (100) 
0 
*Trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn †Trình bày dưới dạng tần số (phần trăm) 
Tác dụng phụ của thuốc mê 
Có 5 trường hợp tụt huyết áp ở nhóm D và 4 
trường hợp ở nhóm S. Có 1 trường hợp ho sau 
tỉnh mê ở nhóm D. Không có trường hợp nào bị 
buồn nôn và nôn sau mổ. Các tác dụng phụ do 
thuốc mê không có sự khác biệt ở cả hai nhóm. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 119 
BÀN LUẬN 
Kết quả đã chứng minh được duy trì mê 
bằng desflurane đã rút ngắn được 47,8% thời 
gian tỉnh mê so với sevoflurane. Thời gian tỉnh 
mê trung bình là 423,7 ± 59,9 giây ở nhóm D và 
811,8 ± 139,5 giây ở nhóm S (p <0,001). Các 
trường hợp được duy trì mê bằng desflurane 
tỉnh mê sớm hơn so với các trường hợp được 
duy trì mê bằng sevoflurane và sự khác biệt này 
có ý nghĩa thống kê với p <0,001. Vậy, duy trì mê 
bằng desflurane đã rút ngắn được 47,8% thời 
gian tỉnh mê so với sevoflurane. Đối với nhóm 
D, thời gian sớm nhất để các trường hợp tỉnh mê 
sau khi ngưng cung cấp thuốc mê hô hấp là 230 
giây. Trong khi đó, thời gian này ở nhóm S là 450 
giây. Sự khác biệt ở hai nhóm có ý nghĩ thống kê 
với p <0,001. Sau 422 giây, nhóm được duy trì 
mê bằng desflurane có 50% trường hợp tỉnh mê. 
Trong khi đó, ở nhóm sevoflurane, 50% trường 
hợp tỉnh mê sau 800 giây. Kết quả này tương tự 
với kết quả của nhiều nghiên cứu trên thế giới(1,6). 
Tuy nhiên thời gian tỉnh mê ở nhóm 
desflurane ở nghiên cứu của Nghiêm Thanh 
Tú(7) dài hơn so với thời gian tỉnh mê của 
desflurane trong nghiên cứu của chúng tôi (khác 
biệt có ý nghĩa thống kê). Sự khác biệt có thể do 
nghiên cứu của tác giả này được thực hiện trên 
các trường hợp gây mê toàn diện qua nội khí 
quản. Do đó cần sử dụng giãn cơ và có thể có lập 
lại giãn cơ và thuốc phiện trong lúc mổ. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, do thực hiện trên các 
trường hợp tán sỏi niệu quản nội soi. Đây là loại 
phẫu thuật không cần giãn cơ và không đau 
nhiều do đó chúng tôi không sử dụng giãn cơ 
cũng như không có trường hợp nào cần lập lại 
liều thuốc phiện trong mổ. 
Chất lượng tỉnh mê 
Thời gian rút được mặt nạ thanh quản ở 
nhóm D và nhóm S lần lượt là 445,6 ± 42,9 giây 
và 824 ± 142,2 giây. Ở nhóm D, các trường hợp 
nhanh chóng đạt đủ điều kiện rút mặt nạ thanh 
quản hơn so với nhóm S. Sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê với p <0,001. Do thời gian đào 
thải thuốc mê hô hấp và tỉnh mê ở nhóm D ngắn 
hơn so với nhóm S nên kết quả thời gian rút 
được mặt nạ thanh quản ở nhóm D ngắn hơn 
nhóm S là hợp lí. Khi so sánh với các nghiên cứu 
khác được thực hiện trên các trường hợp được 
gây mê toàn diện qua nội khí quản hoặc mặt nạ 
thanh quản đều cho kết quả tương tự với thời 
gian rút nội khí quản hoặc mặt nạ thanh quản ở 
nhóm được duy trì mê bằng desflurane ngắn 
hơn so với sevoflurane(1,3,4,8,9). 
Tỉ lệ kích thích sau tỉnh mê ở nhóm 
desflurane và sevoflurane lần lượt là 3,3% và 
13,3%. Sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý 
nghĩa thống kê (p=0,35). Các trường hợp kích 
thích ở cả hai nhóm đều có điểm Aono là 3 điểm 
(kích thích dù đã thường xuyên trấn an bằng lời 
nói). Không ghi nhận có trường hợp nào ở cả hai 
nhóm có điểm Aono 4 điểm (kích động, kích 
thích, mất định hướng và rất cần các biện pháp 
kiềm giữ vật lý). Kết quả này có khác biệt so với 
nghiên cứu của tác giả Choi GJ(8). Trong nghiên 
cứu này tác giả ghi nhận tỉ lệ kích thích sau tỉnh 
mê ở nhóm desflurane là 24% và ở nhóm 
sevoflurane là 71%. Khác biệt có ý nghĩa thống 
kê với p <0,001. Trong các trường hợp kích thích 
sau tỉnh mê, số trường hợp có điểm Aono là 3 
điểm ở nhóm desflurane là 14% và ở nhóm 
sevoflurane là 47%, số trường hợp có điểm Aono 
là 4 điểm ở nhóm desflurane là 10% và ở nhóm 
sevoflurane là 24%. Sự khác biệt này có ý nghĩa 
thống kê (p <0,001). Sự khác biệt có thể do tác giả 
tiến hành trên các trường hợp cần gây mê toàn 
diện đặt nội khí quản qua đường mũi để phẫu 
thuật chỉnh hàm. Do đó các trường hợp có thể bị 
kích thích sau tỉnh mê do ống nội khí quản đặt 
qua đường mũi. Bên cạnh đó, giảm đau sau mổ 
gồm 1 μg/kg fentanyl, do đó các trường hợp còn 
có thể bị kích thích do kiểm soát đau chưa đầy 
đủ. Ngoài ra trong nghiên cứu, tác giả có tiền mê 
bằng glycopyrrolate 0,2 mg tiêm bắp 30 phút 
trước khởi mê đặt nội khí quản. 
Tất cả các trường hợp ở hai nhóm khi nhập 
hồi tỉnh, 30 phút sau nhập hồi tỉnh, 60 phút sau 
nhập hồi tỉnh đều đạt điểm Aldrete >8 điểm. Sau 
120 phút, tất cả các trường hợp ở cả hai nhóm 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 120 
đều đạt Aldrete 10 điểm. Như vậy, nếu chỉ dựa 
trên thang điểm Aldrete, các trường hợp ở cả hai 
nhóm đều đủ tiêu chuẩn rời phòng hồi tỉnh 
(Aldrete >8 điểm) tại thời điểm nhập hồi tỉnh. 
Kết quả về điểm Aldrete sau tỉnh mê cho thấy sự 
tương đồng giữa nghiên cứu của chúng tôi và 
các nghiên cứu trên thế giới với kết quả tỉ lệ 
điểm Aldrete >8 (đủ tiêu chuẩn rời phòng hồi 
tỉnh) ở cả hai nhóm đều không khác biệt có ý 
nghĩa thống kê(3,6). 
Mặc dù cả hai nhóm trong nghiên cứu đều 
đạt đủ tiêu chuẩn điểm Aldrete để rời phòng hồi 
tỉnh, nhưng khi so sánh về tỉ lệ đạt được Aldrete 
10 điểm ở thời điểm nhập hồi tỉnh và 30 phút 
sau đó, kết quả cho thấy ở nhóm được duy trì 
mê bằng desflurane có tỉ lệ đạt được 10 điểm cao 
hơn so với nhóm được duy trì mê bằng 
sevoflurane ở cả hai thời điểm lúc nhập hồi tỉnh 
và 30 phút sau đó. Kết quả này phù hợp với 
nghiên cứu của Dogru K(9). 
Tác dụng phụ do thuốc mê hô hấp 
Tỉ lê tụt huyết áp, ho trong nghiên cứu này 
cũng không có khác biệt so với các báo của các 
tác giả khác trên thế giới và Việt Nam(6,9). 
Mặt khác, kết quả nghiên cứu không có 
trường hợp nào buồn nôn hay nôn sau mổ nào ở 
cả hai nhóm. Trong khi, một số tác giả khác báo 
cáo có buồn nôn và nôn sau mổ(8,9). Nguyên nhân 
là các nghiên cứu trên không có dự phòng nôn 
sau mổ vào giai đoạn cuối mổ. Tuy nhiên khi so 
sánh giữa nhóm duy trì mê trong mổ bằng 
desflurane và nhóm duy trì mê trong mổ bằng 
sevoflurane, các tác giả đều ghi nhận không có 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ buồn 
nôn và nôn sau mổ giữa hai nhóm (p >0,05). 
Nghiên cứu này đã chứng minh được 
desflurane có chất lượng tỉnh mê tốt hơn 
sevoflurane trong gây mê toàn diện qua mặt 
thanh quản để nội soi tán sỏi niệu quản. 
Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ so sánh chất 
lượng tỉnh mê trong giai đoạn sớm và giai 
đoạn trung gian mà chưa nghiên cứu ở giai 
đoạn lâu dài. Vì vậy, đây có thể là câu hỏi cho 
các nghiên cứu tương lai về đánh giá chất 
lượng hồi tỉnh của desflurane và sevflurane 
trong giai đoạn lâu dài. 
KẾT LUẬN 
Việc duy trì mê bằng desflurane trong gây 
mê toàn diện qua mặt thanh quản để nội soi tán 
sỏi niệu quản có chất lượng tỉnh mê tốt hơn 
sevoflurane, rút ngắn được khoảng 48% thời 
gian thức tỉnh sau gây mê. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Pakpirom J, Kraithep J, Pattaravit N (2016). Length of 
postanesthetic care unit stay in elderly patients after general 
anesthesia: a randomized controlled trial comparing 
desflurane and sevoflurane. J Clin Anesth, 32:294-9. 
2. Phùng Văn Việt, Nghiêm Thanh Tú (2012). Gây mê bằng 
desflurane trong phẫu thuật nội soi viêm ruột thừa cấp. Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2):59-62. 
3. Werner JG, Castellon-Larios K, Thongrong C, et al (2015). 
Desflurane Allows for a Faster Emergence When Compared to 
Sevoflurane without Affecting the Baseline Cognitive Recovery 
Time. Front Med, 2:75. 
4. La Colla L, Albertin A, La Colla G, et al (2007). Faster wash-out 
and recovery for desflurane vs sevoflurane in morbidly obese 
patients when no premedication is used. Br J Anaesth, 
99(3):353-8. 
5. Green MS, Green P, Neubert L, et al (2015). Recovery following 
desflurane versus sevoflurane anesthesia for outpatient 
urologic surgery in elderly females. Anesth Pain Med, 
5(1):e22271. 
6. Kaur A, Jain AK, Sehgal R, et al (2013). Hemodynamics and 
early recovery characteristics of desflurane versus sevoflurane 
in bariatric surgery. J Anaesthesiol Clin Pharmacol, 29(1):36-40. 
7. Nghiêm Thanh Tú, Phạm Thị Thanh Vân (2016). So sánh hiệu 
quả duy trì mê và chất lượng hồi tỉnh của desflurane với 
sevoflurane và propofol trong phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa. 
Y học Quân sự, 315:32-37. 
8. Choi GJ, Baek CW, Kang H, et al (2015). Emergence agitation 
after orthognathic surgery: a randomised controlled 
comparison between sevoflurane and desflurane. Acta 
Anaesthesiol Scand, 59(2):224-31. 
9. Dogru K, Yildiz K, Madenoglu H, et al (2003). Early recovery 
properties of sevoflurane and desflurane in patients 
undergoing total hip replacement surgery. Curr Ther Res Clin 
Exp, 64(5):301-9. 
Ngày nhận bài báo: 10/07/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_chat_luong_tinh_me_cua_desflurane_va_sevoflurane_tro.pdf