Sàng lọc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam
Đặt vấn đề và mục tiêu. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về trầm
cảm sau sinh (TCSS) ở phụ nữ nhiễm HIV và các yếu tố liên quan. Tại
Việt Nam, chưa có báo cáo về tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. Nghiên
cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu:” Xác định tỉ lệ và một số yếu tố
liên quan đến TCSS ở các phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam”.
Vật liệu và Phương pháp. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện tại
miền Đông Nam Bộ. Việt Nam, từ 30/11/2012 đến 30/4/2015. Tất cả
152 phụ nữ nhiễm HIV và 460 phụ nữ không nhiễm HIV, đồng ý và
tham gia đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, đã được sàng lọc TCSS
bằng cách sử dụng thang Edinburgh (EPDS) từ khi nhập viện sinh đến
6 tuần sau khi sinh. TCSS được đánh giá ở tất cả các lần, các EPDS có
điểm cắt ≥ 13 được sử dụng để xác định trầm cảm có thể xảy ra. Mẫu
có EPDS ≥ 13 ở thời điểm nhập viện được loại khỏi nghiên cứu. Phiếu
thu thập số liệu được sử dụng để thu thập các đặc điểm của tất cả các
mẫu nghiên cứu. Các phụ nữ có điểm sàng lọc EPDS ≥ 13 ở thời điểm
6 tuần sau sinh được giới thiệu khám chuyên khoa tâm thần chẩn đoán
xác định TCSS
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sàng lọc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam
NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 100 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Nguyễn Mạnh Hoan(1), Cao Ngọc Thành(2) (1) Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Đồng Nai, (2) Trường Đại học Y Dược Huế SÀNG LỌC TRẦM CẢM SAU SINH Ở PHỤ NỮ NHIỄM HIV TẠI VIỆT NAM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Mạnh Hoan, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/7/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/8/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 31/8/2017 Tóm tắt Đặt vấn đề và mục tiêu. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về trầm cảm sau sinh (TCSS) ở phụ nữ nhiễm HIV và các yếu tố liên quan. Tại Việt Nam, chưa có báo cáo về tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu:” Xác định tỉ lệ và một số yếu tố liên quan đến TCSS ở các phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam”. Vật liệu và Phương pháp. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện tại miền Đông Nam Bộ. Việt Nam, từ 30/11/2012 đến 30/4/2015. Tất cả 152 phụ nữ nhiễm HIV và 460 phụ nữ không nhiễm HIV, đồng ý và tham gia đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, đã được sàng lọc TCSS bằng cách sử dụng thang Edinburgh (EPDS) từ khi nhập viện sinh đến 6 tuần sau khi sinh. TCSS được đánh giá ở tất cả các lần, các EPDS có điểm cắt ≥ 13 được sử dụng để xác định trầm cảm có thể xảy ra. Mẫu có EPDS ≥ 13 ở thời điểm nhập viện được loại khỏi nghiên cứu. Phiếu thu thập số liệu được sử dụng để thu thập các đặc điểm của tất cả các mẫu nghiên cứu. Các phụ nữ có điểm sàng lọc EPDS ≥ 13 ở thời điểm 6 tuần sau sinh được giới thiệu khám chuyên khoa tâm thần chẩn đoán xác định TCSS Kết quả. Tỉ lệ TCSS tại thời điểm 6 tuần ở phụ nữ nhiễm HIV là 61,8% so với tỉ lệ 12,6% ở phụ nữ không nhiễm (p < 0,001). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa 2 nhóm ở một số đặc điểm: học vấn, nghề nghiệp, ổn định nghề nghiệp, tiền sử trầm cảm, hôn nhân, sức khỏe con. Phân tích đơn biến xác định các yếu tố: phát hiện nhiễm HIV trong chuyển dạ, con bị nhiễm HIV, mặc cảm mang bệnh HIV và mặc cảm có lỗi với gia đình có liên quan đến TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. Phân tích đa biến xác định có sự liên quan giữa TCSS với các yếu tố: nhiễm HIV (RR=4,49; KTC 95%:3,76 - 6,43); mẹ lớn tuổi (RR=1,96; KTC 95%:1,12 - 3,44); nhập cư (RR 0,67; KTC 95%:0,53- 0,86); không ổn định nghề nghiệp (RR=1,25;KTC 95%:0,99 - 1,59); tình trạng sức khỏe con (RR=1,78; KTC 95%: 1,23 - 2,58); và không nuôi con (RR=1,42; KTC 95%:1,92-1,97. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 100 - 108, 2017 101 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 Kết luận. Tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV là 62%. Phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ bị TCSS cao gần gấp 5 lần phụ nữ không nhiễm HIV với p<0,001. Một số yếu tố kết hợp với TCSS: phụ nữ 35 tuổi hoặc hơn tăng nguy cơ gấp 2; nhập cư tăng nguy cơ 0,67 lần; không ổn định nghề nghiệp tăng nguy cơ 1,25 lần; sinh con yếu hoặc chết tăng nguy cơ 1,75 lần; và không tự nuôi con sau sinh tăng nguy cơ 1,42 lần. 1. Đặt vấn đề Tình trạng nhiễm HIV có liên quan đến sự phát triển của trầm cảm và sự hiện diện của trầm cảm đã gắn liền với chất lượng kém của cuộc sống, tiến triển của bệnh HIV và không tuân thủ điều trị ARV. Người phụ nữ nhiễm HIV khi sinh sẽ có hai nguy cơ bị trầm cảm là trầm cảm liên quan HIV và trầm cảm sau sinh trong dân số. Mặc dù điều trị chống trầm cảm đã chứng minh hiệu quả về cải thiện các triệu chứng lâm sàng và tăng cường sự tuân thủ ARV, nhưng TCSS thường xuyên không được phát hiện và điều trị. Trên thế giới, tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV, qua các nghiên cứu, từ 22% đến 74,1% [11],[12],[13]. Nghiên cứu của chúng tôi đánh giá sự phổ biến của TCSS và các yếu tố có liên quan, ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam. 2. Mục tiêu cụ thể Xác định tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. Xác định một số yếu tố liên quan đến TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. 3. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu: đoàn hệ tiến cứu Đối tượng nghiên cứu: - Đối tượng mục tiêu: phụ nữ trong thời kỳ thai sản, - Đối tượng nghiên cứu: phụ nữ sinh tại hai tỉnh Đồng Nai và Bình Dương từ 30/11/2012 đến 30/4/2015. - Tiêu chuẩn chọn: phụ nữ đồng ý tham gia và thực hiện các yêu cầu của nghiên cứu. - Tiêu chuẩn loại: khi phụ nữ có một trong các yếu tố sau: đang mắc bệnh mãn tính hoặc đang có các biểu hiện rối loạn tâm thần, nhất là trầm cảm (đã được bác sĩ chuyên khoa xác định) hoặc sàng lọc trầm cảm theo thang EPD khi vào viện có điểm cắt ≥ 13; hoặc thai kỳ lần này có nguy cơ cao; hoặc bị tai biến sản khoa trong lần sinh này hoặc lâm sàng giai đoạn AIDS. Cỡ mẫu: thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu thuần tập theo chiều dọc, so sánh tỉ lệ TCSS giữa 2 nhóm nhiễm HIV và không nhiễm HIV. Giả thuyết của nghiên cứu: nguy cơ TCSS ở nhóm nhiễm HIV gấp 2 lần ở nhóm không nhiễm HIV (RR = 2). Tỉ lệ TCSS ở nhóm không nhiễm HIV là 0,15 (Nguyễn Mai Hạnh) [3], suy ra tỉ lệ TCSS ở nhóm nhiễm HIV là 0,30. Lấy mẫu theo tỉ số không nhiễm HIV/nhiễm HIV = 3 : 1. Mẫu còn lại sau khi mất dấu (bao gồm có yếu tố loại trừ hoặc mất liên lạc) của nhóm nhiễm HIV là 152 và nhóm không nhiễm HIV là 460. Thu thập và xử lý số liệu: - Nhóm nhiễm HIV: gồm các sản phụ đã biết nhiễm HIV trước nhập viện và các sản phụ biết nhiễm HIV sau khi nhập viện. - Nhóm không nhiễm HIV: gồm các sản phụ có xét nghiệm HIV(-) khi nhập viện. Cách lấy mẫu: cứ một sản phụ nhóm nhiễm HIV nhập viện thì sẽ lấy ngẫu nhiên đơn 3 sản phụ nhóm không nhiễm HIV nhập viện ngay sau sản phụ nhiễm HIV. - Tên của các sản phụ sẽ được mã hoá trong phiếu thu thập số liệu và thang sàng lọc EPDS. Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên điểm EPDS: < 9 - không có rối loạn tâm thần; ≥ 13 - rất có thể TCSS. - Tiến hành: mỗi sản phụ được thực hiện EPDS 2 lần. Lần đầu: khi vào viện, mục đích loại các ca có NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 102 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H điểm EPDS ≥ 13. Lần 2: sau sinh 6 tuần, mục đích tìm tỉ lệ mắc TCSS. Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Epi Info, phép kiểm chi bình phương và Fisher, phân tích hồi qui đơn biến và hồi qui đa biến. Vấn đề y đức: Sản phụ tự nguyện tham gia nghiên cứu được dấu tên và bí mật thông tin. Các sản phụ sàng lọc có nguy cơ TCSS sẽ được giới thiệu đến BV Tâm thần TW2 để chẩn đoán xác định và có hướng điều trị. 4. Kết quả 4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 4.1.1 Đặc điểm chung của hai nhóm Tuổi: phân bố nhóm tuổi không có khác biệt giữa 2 nhóm, Cư trú: phân bố dân số trong và ngoài tỉnh không có khác biệt giữa hai nhóm. Học vấn: học vấn ở nhóm nhiễm thấp hơn ờ nhóm không nhiễm, với p= 0,000. Đặc điểm kinh tế: nhóm nhiễm có tỉ lệ thất nghiệp và kinh tế khó khăn cao hơn nhóm không nhiễm, với các p < 0,001. Tìền sử trầm cảm: ở nhóm nhiễm cao hơn ở nhóm không nhiễm, p < 0,05. Tình trạng hôn nhân tỉ lệ vợ chồng không còn chung sống ở nhóm nhiễm cao hơn nhóm không nhiễm, p = 0,000¢. Vấn đề “Quan hệ” ngoài Đặc điểm Mẫu chung N = 612 Không HIV n = 460 Nhiễm HIV n = 152 Giá trị P Tuổi < 20 20 – < 35 ≥ 35 Tuổi trung bình Tuổi nhỏ nhất - lớn nhất 43 (7,0) 513 (83,8) 56 (9,2) 27 sd 6 16 - 47 31 (6,7) 388 (84,4) 41 (8,9) 27; sd 6 16 - 47 12 (7,9) 125 (82,2) 15 (9,9) 27; sd 5 17 - 43 0,822 Cư trú Ngoài tỉnh Trong tỉnh 228 (37,3) 384 (62,7) 164 (35,7) 296 (64,3) 64 (42,1) 88 (57,9) 0,154 Học vấn < THPT THPT > THPT 371 (60,6) 187 (30,5) 54 (8,9) 257 (55,9) 154 (33,5) 49 (10,6) 114 (75,0) 33 (21,7) 5 (3,3) 0,000 Nghề nghiệp Không nghề/nội trợ Có nghề 143 (23,4) 469 (76,6) 9 1 (19,8) 369 (80,2) 52 (34,2) 100 (65,8) 0,000 Nghề ổn định Không Có 178 (29,2) 432 (70,8) n= 459 104 (22,7) 355 (77,3) n=151 74 (49,0) 77 (51,0) 0,000 Báng 1. Đặc điểm dịch tễ của hai nhóm Đặc điểm Mẫu chung N = 612 Không HIV n = 460 Nhiễm HIV n = 152 P Tiền sử trầm cảm Có Không Không biết 24 (3,9) 533 (87,4) 53 (8,7) 13 (2,8) 412 (89,6) 35 (7,6) 11 (7,2) 123 (80,9) 18 (11,9) 0.011 Tình trạng hôn nhân Đơn thân Chung sống 19 (3,1) 593 (96,9) 5 (1,1) 455 (98,9) 14 (9,2) 138 (90,8) 0.000¢ “Quan hệ” ngoài chồng Không Có 537 (87,8) 75 (12,2) 444 (96,5) 16 (3,5) 93 (61,2) 59 (38,8) 0, 000 Phương thức sinh Sinh ngã dưới Sinh mổ 406 (66,3) 206 (33,7) 300 (65,2) 160 (34,8) 106 (69,7) 46 (30,3) 0,307 Sức khỏe của con Khoẻ Yếu hoặc chết 577 (94,3) 35 (5,7) 440 (95,6) 20 (4,4) 137 (90,1) 15 (9,9) 0,011 Nuôi con sau sinh Tự nuôi Không tự nuôi N = 611 551 (90,2) 60 (9,8) n=459 420 (91,5) 39 (8,5) 131 (86,2) 21 (13,8) 0.056 ¢: phép kiểm Fisher chính xác Bảng 2. Đặc điểm tiền căn - hôn nhân – sản khoa chồng: có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm với p = 0,000. Đặc điểm sản khoa: không có sự khác biệt về phương thức sinh giữa 2 nhóm (p=0,736) nhưng có khác biệt về tình trạng sức khỏe của con: tỉ lệ con yếu hoặc chết ở nhóm nhiễm cao hơn không nhiễm (p = 0,034) và tỉ lệ không cho con bú ở nhóm nhiễm (91,4%), cao hơn 6 lần nhóm không nhiễm (1,5%) (p = 0,034). 4.1.2 Đặc điểm riêng của nhóm nhiễm HIV Thời điểm biết nhiễm HIV: Khoảng 38,8% Đặc điểm Nhiễm HIV (N=152) Tần số (n) Tỉ lệ ( %) Thời điểm biết nhiễm HIV Trước có thai Mang thai Chuyển dạ và sau sinh 59 11 82 38,8 7,2 54,0 Dự phòng ARV cho mẹ Có Không 145 7 95,4 4,6 Dự phòng ARV cho con Có Không 129 23 84,9 15,1 CD4 máu mẹ < 350/mL ≥ 350/mL Không biết 31 60 61 20,4 39,5 40,1 PCR 1 của con PCR 1 (-) PCR 1 (+) Không biết 96 10 46 63,2 6,6 30,3 Bảng 3. Đặc điểm sinh học và dự phòng lây truyền mẹ - con TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 100 - 108, 2017 103 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 (59/152) sản phụ nhiễm H được XN HIV lần đầu khi chuyển dạ, Dự phòng ARV: tỉ lệ ARV cho mẹ hơn 95% trong khi tỉ lệ ARV cho con chỉ khoảng gần 85%. Nồng độ tế bào TCD4: gần 40% sản phụ có lượng TCD4 từ 350/mL trở lên. Có đến 40% sản phụ không biết số lượng TCD4 của mình! Kết quả PCR1 của con. Tỉ lệ PCR1 (+) khoảng 6,6%. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 70% trẻ được biết kết quả xét nghiệm PCR1. Tiết lộ bệnh: tỉ lệ sản phụ bộc lộ bệnh khoảng 84,2%. Trong đó, phần lớn thổ lộ với chồng và người thân trong gia đình, tỉ lệ bộc lộ với bạn tình rất thấp (1,5%). Mặc cảm về căn bệnh đang mang: tỉ lệ sản phụ nhiễm HIV có tâm trạng mặc cảm rất cao, gần 77,7%. Mặc cảm có lỗi với gia đình: gần 80% sản phụ nhiễm HIV cảm thấy có lỗi với gia đình. 4.2 Tỉ lệ trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV so với nhóm không nhiễm HIV Tỉ lệ TCSS, theo điểm cắt EPDS, ở thời điểm sinh được 6 tuần ở nhóm nhiễm HIV cao hơn ở nhóm không nhiễm HIV, với p < 0,001. Tỉ lệ TCSS ở mẫu chung, tổng mẫu 2 nhóm, là 24,8%. Đặc điểm Nhiễm HIV (N=152) Tần số (n) Tỉ lệ ( %) Tiết lộ bệnh Có Không 128 24 84,2 15,8 Người đã được bộc lộ Chồng Cha mẹ Anh chị em Bạn thân Bạn tình Người khác 118 61 28 5 2 3 90,8 46,9 21,5 3,8 1,5 2,3 Mặc cảm mang bệnh HIV Có Không 115 37 75,7 24,3 Mặc cảm có lỗi với gia đình Có Không 121 31 79,6 20,4 Bảng 4. Đặc điểm tâm lý xã hội của các sản phụ bị nhiễm HIV Yếu tố Nhiễm HIV P Không Có TCSS ở mỗi nhóm Không Có n = 460 402 (87,4) 58 (12,6) n = 152 58 (38,2) 94 (61,8) 0,000 TCSS ở mẫu chung Không Có N = 612 460 (75,2) 152 (24,8) Bảng 5. Tỉ lệ mắc TCSS, theo điểm cắt EPDS, ở thời điểm sau sinh 6 tuần 4.3 Liên quan giữa trầm cảm sau sinh và các đặc điểm của hai nhóm 4.3.1 Liên quan giữa trầm cảm sau sinh và các đặc điểm chung của hai nhóm Liên quan (Lq) giữa nhóm tuổi và TCSS: Không có liên quan giữa TCSS với yếu tố nhóm tuổi. Lq nơi cư trú-TCSS: sản phụ nhập cư dễ bị TCSS hơn, p = 0,001. Lq trình độ học vấn-TCSS: phụ nữ có trình độ học vấn trên THPT ít nguy cơ TCSS, với p = 0,009; Lq nghề nghiệp-TCSS: có liên quan giữa tình trạng thất nghiệp và TCSS, p < 0,05. Lq nghề ổn định – TCSS: phụ nữ có thu nhập gia đình thấp tăng nguy cơ TCSS, p = 0,02. TCSS RR (KTC 95%) PKhông Có Nhóm tuổi < 20 20 – < 35 ≥ 35. 34 (79,1) 390 (76,0) 36 (64,3) 9 (20,9) 123 (24,0) 20 (35,7) 1 1,15 (0,63-2,09) 1,71 (0,86-3,37) 0,658 0,123 Nơi cư trú Ngoài tỉnh Trong tỉnh 155 (68,0) 305 (79,4) 73 (32,0) 79 (20,6) 0,64 (0,49-0,84) 0,001 Trình độ học vấn < THPT THPT >THPT 267 (72,0) 144 (77,0) 49 (90,7) 106 (27,4) 104 (28,0) 43 (23,0) 1 0,82 (0,60-1,12) 0,33 (0,14-0,77) 0,209 0,011 Nghề nghiệp Ko nghề - nội trợ Có nghề 95 (66,4) 365 (77,8) 48 (33,6) 104 (22,2) 0,66 (0,50-0,88) 0,006 Nghề ổn định Không Có 123 (69,1) 335 (77,5) 55 (30,9) 55 (30,9) 0,73 (0,55-0,96) 0,028 Bảng 6. Liên quan giữa TCSS và đặc điểm dịch tễ của hai nhóm Đặc điểm TCSS RR (KTC 95%) PKhông Có Tiền sử trầm cảm Có Không-không biết 13 (54,2) 447 (76,0) 11 (45.8) 141 (24,0) 1,91 (1,21-3,02) 0,015 Tình trạng hôn nhân Không chung sống Chung sống 8 (42,1) 452 (76,2) 11 (57,9) 141 (23,8) 0,41 (0,27-0,62) 0,001 “Quan hệ” ngoài chồng Không Có 422 (78,6) 38 (50,7) 115 (21,4) 37 (49,3) 2,30 (1,74-3.05 0,000 Phương thức sinh Sinh ngã dưới Sinh mổ 298 (73,4) 162 (78,6) 108 (26,6) 44 (21,4) 0,80 (0,59-1,09) 0,156 Sức khỏe của con Khoẻ Yếu hoặc chết 445 (77,1) 15 (42,9) 132 (22,9) 20 (57,1) 2,50 (1,81-3,45) 0,000 Nuôi con sau sinh Tự nuôi Không tự nuôi 422 (76,6) 38 (63,3) n=151 129 (23,4) 22 (36,7 1,57 (1,09-2,26) 0,024 Bảng7. Liên quan giữa TCSS và đặc điểm tiền căn - hôn nhân - sản khoa NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 104 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Lq tiền sử trầm cảm-TCSS: có sự liên quan giữa tiền căn trầm cảm với TCSS, p = 0,02. Lq đăng ký kết hôn-TCSS: sản phụ không kết hôn tăng nguy cơ TCSS với p < 0,001. Lq tình trạng hôn nhân-TCSS: phụ nữ sống đơn thân gia tăng nguy cơ TCSS với p = 0,001. Lq giữa “quan hệ” ngoài chồng-TCSS: quan hệ ngoài hôn nhân tăng nguy cơ TCSS, p < 0,001. Lq phương thức sinh - TCSS: không có mối liên quan giữa TCSS và phương thức sinh, p = 0,24. Lq tình trạng sơ sinh - TCSS: có liên quan giữa TCSS và tình trạng sức khỏe của con, p = 0,00 Sau khi kiểm soát các biến số nơi tuổi mẹ, cư trú, ổn định nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe của con; người nhiễm HIV có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh cao gấp 5 lần người không nhiễm HIV, với p < 0,001. 4.3.2 Liên quan giữa các đặc điểm riêng của nhóm nhiễm H với TCSS Lq thời điểm phát hiện nhiễm HIV – TCSS: có liên quan giữa TCSS và thời điểm phát hiện nhiễm HIV, p = 0,01. TCSS RR KTC 95% P Nhiễm HIV 4,92 3,76 - 6,43 0,000 Tuổi mẹ 20 - < 35≥ 35 1,40 1,96 0,84 - 2,33 1,12 - 3,44 0,200 0,018 Nhập cư 0,67 0,53 - 0,86 0,001 Nghề không ổn định 1,25 0,99 - 1,59 0,064 Sức khỏe con yếu/chết 1,78 1,23 - 2,58 0,002 Không nuôi con 1,42 1,02 - 1,9 ... ú ở nhóm nhiễm cao hơn 4 lần ở nhóm không nhiễm với p < 0.001. Tình trạng hôn nhân. Vợ chồng không còn chung sống ở nhóm nhiễm cao gấp 9 lần (9.2%) so với không nhiễm (1,1%). “Quan hệ” ngoài chồng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các “quan hệ” ngoài chồng xảy ra trước hôn nhân lần này và đa phần là với chồng trước. Đặc điểm sản khoa. Không có sự khác biệt về phương thức sinh giữa 2 nhóm (p=0,307) nhưng có khác biệt về tình trạng sức khỏe của con; tỉ lệ con yếu hoặc chết ở nhóm nhiễm cao hơn không nhiễm (p = 0,011). Tỉ lệ không tự nuôi con ở nhóm nhiễm (12,8%) cao hơn so với nhóm không nhiễm (8,5%) nhưng không có ý nghĩa với p = 0,056. 5.1.2 Đặc điểm riêng của nhóm nhiễm HIV Đặc điểm sinh học và dự phòng lây truyền mẹ - con Thời điểm phát hiện nhiễm HIV. Sản phụ biết nhiễm HIV muộn vào giai đoạn chuyển dạ đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu sẽ làm tăng nguy cơ TCSS [7]. Thưc vậy, lúc đó họ phải chịu đồng thời hai stress: nhiễm HIV và lo âu đau đớn khi chuyển dạ sinh. Tại VN và một số nước trên thế giới, chủ yếu là các nước châu Phi, tỉ lệ phát hiện muộn từ 30 - 50%. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 46% sản phụ đã biết nhiễm HIV trước khi nhập viện sinh! Dự phòng ARV. Dự phòng ARV là một thành tựu của y học khi ngăn ngừa được sự lây truyền H từ mẹ sang con từ 30-40% xuống còn 2%. Tuy nhiên, nếu dự phòng muộn thì tỉ lệ lây còn cao > 5% [14], hơn nữa sản phụ sẽ hoang mang khi dùng thuốc trong giai đoạn chuyển dạ, dễ suy sụp, rối loạn trầm cảm. Tỉ lệ ARV cho mẹ, của nghiên cứu, khoảng 95% trong khi tỉ lệ ARV cho con chỉ khoảng 85% phần lớn do các bà mẹ sợ thuốc có ảnh hưởng đến con. Nồng độ tế bào TCD4. Khoảng 40% sản phụ có lượng TCD4 từ 350/mL trở lên, nồng độ CD4 cao là tín hiệu lạc quan đối với người bệnh. Có đến 40% sản phụ không biết lượng TCD4 của mình nên sẽ khó khăn trong chăm sóc, điều trị và tiên lượng bệnh. Kết quả PCR1 của con. Tỉ lệ PCR1(+) khoảng 6,6% tương đương với tỉ lệ trong nước năm 2012 là 7%. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 60% trẻ được làm XN; số trẻ không XN là do cha mẹ sợ con còn yếu hoặc vì chưa có kết quả XN vào thời điểm kết thúc nghiên cứu (trẻ được làm XN trễ). Đặc diểm tâm lý xã hội của các sản phụ bị nhiễm H Tiết lộ bệnh với người khác. Tiết lộ bệnh với người khác không phải là dễ, nhất là bệnh HIV. Nguyên nhân là do các sai lầm khi mới phát hiện HIV, người ta cho rằng HIV/AIDS là căn bệnh của người có hành vi nguy cơ cao (ma túy, mại dâm, tình dục không an toàn). Trong nghiên cứu này tỉ lệ tiết lộ bệnh khoảng 84%. Trong số này, phần lớn là với chồng (91%) và người thân trong gia đình (cha mẹ 47%, anh chị em ruột 21%). Tỉ lệ bộc lộ với bạn tình rất thấp so với nhiều nghiên cứu khác (1,5%); vì phần lớn số người mà sản phụ có “quan hệ” ngoài chồng là chồng trước. Mặc cảm về căn bệnh đang mang. Số phụ nữ có mặc cảm trong nghiên cứu rất cao gần 76%. Đây là một yếu tố nguy cơ mạnh gây TCSS [20], [21]. Cảm thấy có lỗi với gia đình. Tỉ lệ phụ nữ nhiễm HIV không có hôn thú khoảng 33% (phần lớn ngoài sự đồng ý của gia đình), tỉ lệ tan vỡ hôn nhân cũng như tỉ lệ lây nhiễm HIV từ người chồng trước cũng NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 106 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H cao (khoảng 44%, vì vậy có đến 80% các sản phụ luôn có mặc cảm có lỗi với gia đình của họ! 5.2 Tỉ lệ mắc TCSS theo điểm cắt EPDS ở phụ nữ nhiễm HIV, so với phụ nữ không nhiễm. Tỉ lệ TCSS mắc TCSS ở nhóm nhiễm HIV là 61,8% cao gần gấp 5 lần nhóm không nhiễm HIV là 12,6%, với p < 0.001. Qua các NC tại VN, tỉ lệ TCSS trong cộng đồng khoảng từ 5,1% - 15%. Tỉ lệ TCSS của mẫu nghiên cứu (tổng mẫu 2 nhóm) là 24,8%. 5.3 Liên quan giữa các đặc điểm của hai nhóm với TCSS 5.3.1 Liên quan giữa các đặc điểm chung của hai nhóm với TCSS Liên quan giữa TCSS và đặc điểm dịch tễ của hai nhóm Liên quan (Lq) giữa tuổi và TCSS. Trong cộng đồng, phụ nữ lứa tuổi từ 25 - 44 có tỉ lệ bị trầm cảm cao nhất. Tuy nhiên, trong y văn, tỉ lệ trầm cảm ở phụ nữ sau sinh không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi [1], [3], [8]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tương tự. Lq nơi cư trú - TCSS . Cuộc sống của các sản phụ đến nhập cư gặp nhiều bất lợi hơn các sản phụ ở địa phương, nên họ có nhiều nguy cơ TCSS (RR=0,64; KTC 95%: 0,49-0,84). Tương tự NC của Ng Mai Hạnh [3], Ng thi Ngọc Trang [5], Hartley M & cs, Eastwood JG & cs [17], [18]. Lq trình độ học vấn - TCSS. Phụ nữ có trình độ học vấn cao ít nguy cơ TCSS hơn phụ nữ có học vấn thấp (RR=0,33; KTC 95%: 0,14-0,77); tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phong, Grussu P [6], [16]. Lq nghề nghiệp - TCSS. Chúng tôi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng thất nghiệp và TCSS (RR=0,66; KTC 95%:0,50-0,88). Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thi Thu Phong, Hartley M & cs, Eastwood JG & cs [6], [17], [18]. Lq nghề nghiệp ổn định - TCSS. Phụ nữ có nghề không ổn định có nguy cơ TCSS cao gấp 0,73 lần (KTC 95%:0,55-0,96) so với phụ nữ có thu nhập khá; tương tự nghiên cứu của Đinh Thị Tố Trinh, Blaney NT, Grussu P [2], [10], [16]. Liên quan giữa TCSS và đặc điểm tiền căn - hôn nhân - sản khoa Lq tình tiền căn trầm cảm - TCSS. Tiền căn trầm cảm đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ TCSS. NC của chúng tôi thấy sản phụ có tiền căn trầm cảm có nguy cơ TCSS cao gần gấp 2 lần sản phụ không có tiền căn này (RR=1,91; KTC 95%: 1,21- 3,02). Lq tình trạng hôn nhân - TCSS. Sản phụ không còn chung sống với chồng sau sinh có nguy cơ TCSS gấp 2 lần sản phụ có gia đình ổn dịnh (RR=0,41; KTC 95%: 0,27-0,62), khác với kết quả NC của Nguyễn thị Ngọc Trang [5], Kosinska Kaczynska (2008) không thấy có mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với TCSS. Lq “quan hệ” ngoài chồng - TCSS. NC ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng quan hệ ngoài hôn nhân với TCSS (RR=2,30; KTC 95%: 1,74-3.05). Lq phương thức sinh-TCSS. Đã có nhiều nghiên cứu về mối liên quan này nhưng còn tranh cãi do có kết quả khác nhau. O Neill T và cs, Edwards và cs, Cup RE cho rằng có mối liên quan giữa phương thức sinh và TCSS. nghiên cứu của chúng tôi thấy mối liên quan này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05); tương tự 2 nghiên cứu của Tammentie và Winsner KL (2002), Nguyễn T Thu Phong (2007). Lq tình trạng sơ sinh – TCSS. Có sự liên quan giữa TCSS và tình trạng sơ sinh (p < 0,001). Mẹ có con sức khỏe yếu hoặc chết có nguy cơ TCSS cao gấp 2 lần mẹ có con khỏe mạnh. Tương tự nghiên cứu của Ng. T. Thu Phong, Nguyễn Mai Hạnh, Glasser và cs. Lq nuôi con sau sinh – TCSS. Kết quả của chúng tôi cho thấy sản phụ không tự nuôi con sau sinh sẽ gia tăng nguy cơ TCSS (RR=1,57; KTC 95%: 1,09 - 2,26). Mối liên quan giữa nhiễm HIV và TCSS trong mô hình hồi qui đa biến Sau khi kiểm soát các biến số: tuổi, nơi cư trú, nghề nghiệp ổn định, sức khỏe của con, và nuôi con sau sinh, người nhiễm HIV có nguy cơ bị TCSS cao gấp 5 lần người không nhiễm HIV, với p < 0,001. 5.3.2 Liên quan giữa các đặc điểm riêng của nhóm nhiễm HIV với TCSS Liên quan giữa TCSS và đặc điểm sinh học. dự phòng lây truyền mẹ - con Lq thời điểm sản phụ phát hiện nhiễm HIV. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 100 - 108, 2017 107 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 Thời điểm phát hiện nhiễm HIV và ARV trước hoặc khi mang thai sẽ giảm được nguy cơ lây truyền mẹ-con và vì vậy tỉ lệ trầm cảm ở nhóm sản phụ này sẽ thấp hơn ở nhóm được phát hiện nhiễm HIV trong chuyển dạ - sau sinh [17], [19]. nghiên cứu của chúng tôi thấy có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TCSS với thời điểm phát hiện nhiễm HIV (RR=1,44; KTC 95%: 1,08-1,91). Lq dự phòng ARV-TCSS. Nghiên cứu không thấy có mối liên quan giữa dự phòng ARV cho mẹ hoặc cho con với TCSS (p > 0,05), tuy nhiên nếu không dự phòng ARV sẽ tăng nguy cơ lây truyền mẹ - con và giảm khả năng tuân thủ điều trị của bà mẹ sau này do người mẹ không nhận thức được tầm quan trong của việc phòng ngừa và điều trị bệnh HIV bằng ARV. Lq nồng độ tế bào TCD4. Nồng độ TCD4=350/mL là mốc quyết định điều trị ARV ở nhiều quốc gia, phụ nữ nhiễm HIV chưa phải điều trị ARV sẽ có tâm lý tốt hơn và là yếu tố bảo vệ TCSS. Chen YQ và cs nghiên cứu tại Saharan châu Phi (7/2010) cho thấy sản phụ có nồng độ tế bào CD4< 200/mL có nguy cơ TCSS gấp 3,1 lần các sản phụ có CD4>500/mL. NC của chúng tôi không thấy có liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ TCD4 và TCSS (p > 0,05). Lq giữa tình trạng nhiễm HIV của con với TCSS. Chúng tôi thấy có mối liên quan giữa tình trạng con bị nhiễm H (PCR1(+)) và TCSS: sản phụ có con bị nhiễm HIV có nguy cơ trầm cảm cao hơn sản phụ có con không nhiễm HIV (RR=1,15; KTC 95%: 1,35- 1,83). Trong nghiên cứu, có đến 77% sản phụ có thai là do mong muốn, vì vậy khi sinh ra con gặp bất hạnh nhiễm HIV chắc chắn người mẹ có nguy cơ cao bị trầm cảm. nghiên cứu của Grussu P và Ozbasaran F cũng cho kết quả tương tự [19]. Liên quan giữa TCSS và đặc điểm tâm lý xã hội của các sản phụ nhiễm H [19] của chúng tôi không thấy có mối liên quan giữa TCSS với sự tiết lộ bệnh của sản phụ nhiễm HIV (p > 0,05)), khác với nguy cơ tăng gấp 3 lần trong nghiên cứu ở Malawi (OR=3.05; KTC 95%: 1,39-7,24) [13]. Tuy nhiên, sản phụ nhiễm HIV sẽ tăng nguy cơ TCSS nếu có mặc cảm về bệnh của mình (RR=2,43, KTC 95%:1,46-4,04) hoặc mặc cảm có lỗi với gia đình (RR=1,93; KTC 95%:1,18-3,15), tương tự nghiên cứu ở Malawi (OR =3,44; KTC 95% 1,34-9,75). 6. Kết luận Từ kết quả nghiên cứu 152 sản phụ nhiễm HIV và 460 sản phụ sản phụ không nhiễm HIV sinh tại Đồng Nai và Bình Dương từ 31/11/2012 đến 30/4/2015. Chúng tôi có kết luận như sau: 1. Tỉ lệ trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV là 61,8%. 2. Nhiễm HIV có liên quan đến trầm cảm sau sinh: phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ bị TCSS cao gấp 5 lần phụ nữ không nhiễm HIV (RR=4,92; KTV 95%: 3,76 - 6,43; p < 0,001). 3. Một số đặc điểm chung ở hai nhóm có liên quan có ý nghĩa thống kê với TCSS, làm gia tăng nguy cơ trầm cảm: mẹ lớn tuổi tăng nguy cơ 1,96 lần (KTC 95%: 1,12-3,44); nhập cư tăng nguy cơ 0,67 lần; (KTC 95%: 0,53-0,86); không ổn định nghề nghiệp tăng nguy cơ 1,25 lần (KTC 95%: 0,99-1,59); sinh con yếu hoặc chết tăng nguy cơ 1,75 lần (KTC 95%: 0,96-3,18); và không nuôi con tăng nguy cơ 1,42 lần (KTC 95%: 1,92-1,97). 4. Một số đặc điểm ở nhóm nhiễm HIV là các yếu tố nguy cơ TCSS: thời điểm phát hiện nhiễm HIV trong chuyển dạ-sau sinh (p < 0,05); con bị nhiễm HIV (p < 0,001); Mặc cảm mang bệnh HIV (p < 0,001); Mặc cảm có lỗi với gia đình (p = 0,001). NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 108 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Tài liệu tham khảo 1. Đinh Thị Tố Trinh (2003), Tỉ lệ trầm cảm sau sinh và các yếu tố liên quan. Luận án tốt nghiệp chuyên khoa cấp II. Trường ĐHYD TP.HCM, tr 20-50. 2. Nguyễn Mạnh Hoan, Đặc điễm dịch tễ và tâm lý xã hội ở phụ nữ nhiễm HIV trầm cảm sai sinh. Tạp chí Phụ Sản, 07-2014, 12 (03): 58-63 (ISSN: 1859-3844). 3. Nguyễn Mai Hạnh (2005), yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh, Luận án chuyên khoa cấp II. Trường ĐHYD TP.HCM, tr 33-90. 4. Nguyễn Mạnh Hoan, Tình hình chuyển dạ và dự phòng lây truyền HIV của sản phụ có chẩn đoán sàng lọc HIV(+) sinh tại BVĐK tỉnh Đồng Nai 2005-2010. Tạp chí Phụ Sản, 2012; 10 (1): 31-36 (ISSN: 1859-3844). 5. Nguyễn Thị Ngọc Trang (2001), So sánh tỉ lệ tcss giữa nhóm thai kì nguy cơ và hai kì bình thường tại BVTD. Luận án tốt nghiệp CK II ĐHYD TP HCM, tr 51, 58. 6. Nguyễn Thi Thu Phong (2007), Nghiên cứu tình hình buồn, trầm cảm sau sinh và một số yếu tố liên quan. Luận văn thac sĩ Y học, ĐHYD Huế, tr 34, 54. 7. Trần Thị Lợi (2004), Tình hình phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con taï Việt Nam, NTLT: Lây truyền HIV từ me sang con. Bộ môn Phụ sản – ÑHYD kỳ 19, tr 3. 8. Appleby L, Gregoire A, Platz C, Prince M, Kumar R (1994), Screening women for high risk of postnatal depression, J Psychosom Res, 38 (6): 539-45. 9. Brugha, TS, Sharp, HM, Cooper, SA, et al. (1998), The Leicester 500 Project. Social support and the development of postnatal depressive symptoms, a prospective cohort survey. Psychol Med, 28:63.Callahan JL, Hynan MT(2002), Postpartum psychiatric illness, Sep: 7191-3:169-80. 10. Blaney NT; Fernandez MI; Psychosocial and behavioral correlates of depression among HIV-infected pregnant women. AIDS Patient Care STDS. 2004; 18(7):405-15 (ISSN: 1087-2914) 11. Psaros C; Geller PA; Aaron E The importance of identifying and treating depression in HIV infected, pregnant women: a review. J Psychosom Obstet Gynaecol. 2009; 30(4):275-81 (ISSN: 1743-8942) 12. Ross R; Sawatphanit W, Depressive symptoms among HIV-positive postpartum women in Thailand. Arch Psychiatr Nurs. 2011; 25(1):36-42 (ISSN: 1532-8228) 13. Dow A; Dube Q; Pence BW, Postpartum Depression and HIV Infection Among Women in Malawi. J Acquir Immune Defic Syndr. 2014; 65(3):359-65 (ISSN: 1944-7884) 14. Rochat TJ; Tomlinson M; Newell ML Detection of antenatal depression in rural HIV-affected populations with short and ultrashort versions of the Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS). Arch Womens Ment Health. 2013; 16(5):401-10 (ISSN: 1435-1102) 15. Refugee, asylum seeker, immigrant women and postnatal depression: rates and risk factors Postnatal depression (PND) Arch Womens Ment Health, February 2011 16. Grussu P; Quatraro RM, Prevalence and risk factors for a high level of postnatal depression symptomatology in Italian women: a sample drawn from ante-natal classes. Eur Psychiatry. 2009; 24(5):327-33 (ISSN: 0924-9338) 17. Hartley M; Tomlinson M; Depressed mood in pregnancy: Prevalence and correlates in two Cape Town peri-urban settlements....home-based intervention for preventing and managing illnesses related to HIV, TB, alcohol use and malnutrition in pregnant mothers and their infants. Reprod Health. 2011; 8:9 (ISSN: 1742-4755) 18. Eastwood JG; Phung H; Barnett Postnatal depression and socio- demographic risk: factors associated with Edinburgh Depression Scale scores in a metropolitan area of New South Wales, Australia. Aust N Z J Psychiatry. 2011; 45(12):1040-6 (ISSN: 1440-1614) 19. Ozbaşaran F; Coban A; Kucuk M, Prevalence and risk factors concerning postpartum depression among women within early postnatal periods in Turkey. Arch Gynecol Obstet. 2011; 283(3):483-90 (ISSN: 1432-0711). 20. Piacentini D; Leveni, Prevalence and risk factors of postnatal depression among women attending antenatal courses] Epidemiol Psichiatr Soc. 2009; 18(3):214-20 (ISSN: 1121-189X) 21. Gausia K; Fisher C; Ali M; Oosthuizen J,Magnitude and contributory factors of postnatal depression: a community-based cohort study from a rural subdistrict of Bangladesh. Psychol Med. 2009; 39(6):999-1007 (ISSN: 1469-8978).
File đính kèm:
sang_loc_tram_cam_sau_sinh_o_phu_nu_nhiem_hiv_tai_viet_nam.pdf

