Sàng lọc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam

Đặt vấn đề và mục tiêu. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về trầm

cảm sau sinh (TCSS) ở phụ nữ nhiễm HIV và các yếu tố liên quan. Tại

Việt Nam, chưa có báo cáo về tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. Nghiên

cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu:” Xác định tỉ lệ và một số yếu tố

liên quan đến TCSS ở các phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam”.

Vật liệu và Phương pháp. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện tại

miền Đông Nam Bộ. Việt Nam, từ 30/11/2012 đến 30/4/2015. Tất cả

152 phụ nữ nhiễm HIV và 460 phụ nữ không nhiễm HIV, đồng ý và

tham gia đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, đã được sàng lọc TCSS

bằng cách sử dụng thang Edinburgh (EPDS) từ khi nhập viện sinh đến

6 tuần sau khi sinh. TCSS được đánh giá ở tất cả các lần, các EPDS có

điểm cắt ≥ 13 được sử dụng để xác định trầm cảm có thể xảy ra. Mẫu

có EPDS ≥ 13 ở thời điểm nhập viện được loại khỏi nghiên cứu. Phiếu

thu thập số liệu được sử dụng để thu thập các đặc điểm của tất cả các

mẫu nghiên cứu. Các phụ nữ có điểm sàng lọc EPDS ≥ 13 ở thời điểm

6 tuần sau sinh được giới thiệu khám chuyên khoa tâm thần chẩn đoán

xác định TCSS

pdf 9 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Sàng lọc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sàng lọc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam

Sàng lọc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam
NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 
100
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Mạnh Hoan(1), Cao Ngọc Thành(2) 
(1) Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Đồng Nai, (2) Trường Đại học Y Dược Huế
SÀNG LỌC TRẦM CẢM SAU SINH
Ở PHỤ NỮ NHIỄM HIV TẠI VIỆT NAM 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Mạnh Hoan, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Đặt vấn đề và mục tiêu. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về trầm 
cảm sau sinh (TCSS) ở phụ nữ nhiễm HIV và các yếu tố liên quan. Tại 
Việt Nam, chưa có báo cáo về tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. Nghiên 
cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu:” Xác định tỉ lệ và một số yếu tố 
liên quan đến TCSS ở các phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam”. 
Vật liệu và Phương pháp. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện tại 
miền Đông Nam Bộ. Việt Nam, từ 30/11/2012 đến 30/4/2015. Tất cả 
152 phụ nữ nhiễm HIV và 460 phụ nữ không nhiễm HIV, đồng ý và 
tham gia đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, đã được sàng lọc TCSS 
bằng cách sử dụng thang Edinburgh (EPDS) từ khi nhập viện sinh đến 
6 tuần sau khi sinh. TCSS được đánh giá ở tất cả các lần, các EPDS có 
điểm cắt ≥ 13 được sử dụng để xác định trầm cảm có thể xảy ra. Mẫu 
có EPDS ≥ 13 ở thời điểm nhập viện được loại khỏi nghiên cứu. Phiếu 
thu thập số liệu được sử dụng để thu thập các đặc điểm của tất cả các 
mẫu nghiên cứu. Các phụ nữ có điểm sàng lọc EPDS ≥ 13 ở thời điểm 
6 tuần sau sinh được giới thiệu khám chuyên khoa tâm thần chẩn đoán 
xác định TCSS 
Kết quả. Tỉ lệ TCSS tại thời điểm 6 tuần ở phụ nữ nhiễm HIV là 
61,8% so với tỉ lệ 12,6% ở phụ nữ không nhiễm (p < 0,001). Có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa 2 nhóm ở một số đặc điểm: 
học vấn, nghề nghiệp, ổn định nghề nghiệp, tiền sử trầm cảm, hôn 
nhân, sức khỏe con. Phân tích đơn biến xác định các yếu tố: phát hiện 
nhiễm HIV trong chuyển dạ, con bị nhiễm HIV, mặc cảm mang bệnh 
HIV và mặc cảm có lỗi với gia đình có liên quan đến TCSS ở phụ nữ 
nhiễm HIV. Phân tích đa biến xác định có sự liên quan giữa TCSS với 
các yếu tố: nhiễm HIV (RR=4,49; KTC 95%:3,76 - 6,43); mẹ lớn tuổi 
(RR=1,96; KTC 95%:1,12 - 3,44); nhập cư (RR 0,67; KTC 95%:0,53-
0,86); không ổn định nghề nghiệp (RR=1,25;KTC 95%:0,99 - 1,59); tình 
trạng sức khỏe con (RR=1,78; KTC 95%: 1,23 - 2,58); và không nuôi 
con (RR=1,42; KTC 95%:1,92-1,97. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 100 - 108, 2017
101
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Kết luận. Tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV là 62%. Phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ bị TCSS cao gần 
gấp 5 lần phụ nữ không nhiễm HIV với p<0,001. Một số yếu tố kết hợp với TCSS: phụ nữ 35 tuổi 
hoặc hơn tăng nguy cơ gấp 2; nhập cư tăng nguy cơ 0,67 lần; không ổn định nghề nghiệp tăng nguy 
cơ 1,25 lần; sinh con yếu hoặc chết tăng nguy cơ 1,75 lần; và không tự nuôi con sau sinh tăng nguy 
cơ 1,42 lần. 
1. Đặt vấn đề
Tình trạng nhiễm HIV có liên quan đến sự phát 
triển của trầm cảm và sự hiện diện của trầm cảm 
đã gắn liền với chất lượng kém của cuộc sống, tiến 
triển của bệnh HIV và không tuân thủ điều trị ARV. 
Người phụ nữ nhiễm HIV khi sinh sẽ có hai nguy 
cơ bị trầm cảm là trầm cảm liên quan HIV và trầm 
cảm sau sinh trong dân số. Mặc dù điều trị chống 
trầm cảm đã chứng minh hiệu quả về cải thiện các 
triệu chứng lâm sàng và tăng cường sự tuân thủ 
ARV, nhưng TCSS thường xuyên không được phát 
hiện và điều trị. Trên thế giới, tỉ lệ TCSS ở phụ nữ 
nhiễm HIV, qua các nghiên cứu, từ 22% đến 74,1% 
[11],[12],[13]. Nghiên cứu của chúng tôi đánh 
giá sự phổ biến của TCSS và các yếu tố có liên 
quan, ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam.
2. Mục tiêu cụ thể 
Xác định tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV. 
Xác định một số yếu tố liên quan đến TCSS ở 
phụ nữ nhiễm HIV. 
3. Đối tượng và Phương 
pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: đoàn hệ tiến cứu 
Đối tượng nghiên cứu: 
- Đối tượng mục tiêu: phụ nữ trong thời kỳ thai sản,
- Đối tượng nghiên cứu: phụ nữ sinh tại hai tỉnh 
Đồng Nai và Bình Dương từ 30/11/2012 đến 
30/4/2015.
- Tiêu chuẩn chọn: phụ nữ đồng ý tham gia và 
thực hiện các yêu cầu của nghiên cứu. 
- Tiêu chuẩn loại: khi phụ nữ có một trong các 
yếu tố sau: đang mắc bệnh mãn tính hoặc đang có 
các biểu hiện rối loạn tâm thần, nhất là trầm cảm 
(đã được bác sĩ chuyên khoa xác định) hoặc sàng 
lọc trầm cảm theo thang EPD khi vào viện có điểm 
cắt ≥ 13; hoặc thai kỳ lần này có nguy cơ cao; 
hoặc bị tai biến sản khoa trong lần sinh này hoặc 
lâm sàng giai đoạn AIDS. 
Cỡ mẫu: thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu thuần 
tập theo chiều dọc, so sánh tỉ lệ TCSS giữa 2 nhóm 
nhiễm HIV và không nhiễm HIV. Giả thuyết của 
nghiên cứu: nguy cơ TCSS ở nhóm nhiễm HIV gấp 2 
lần ở nhóm không nhiễm HIV (RR = 2). Tỉ lệ TCSS ở 
nhóm không nhiễm HIV là 0,15 (Nguyễn Mai Hạnh) 
[3], suy ra tỉ lệ TCSS ở nhóm nhiễm HIV là 0,30. Lấy 
mẫu theo tỉ số không nhiễm HIV/nhiễm HIV = 3 : 1. 
Mẫu còn lại sau khi mất dấu (bao gồm có yếu tố loại 
trừ hoặc mất liên lạc) của nhóm nhiễm HIV là 152 và 
nhóm không nhiễm HIV là 460.
Thu thập và xử lý số liệu: 
- Nhóm nhiễm HIV: gồm các sản phụ đã biết 
nhiễm HIV trước nhập viện và các sản phụ biết 
nhiễm HIV sau khi nhập viện. 
- Nhóm không nhiễm HIV: gồm các sản phụ có 
xét nghiệm HIV(-) khi nhập viện. Cách lấy mẫu: cứ 
một sản phụ nhóm nhiễm HIV nhập viện thì sẽ lấy 
ngẫu nhiên đơn 3 sản phụ nhóm không nhiễm HIV 
nhập viện ngay sau sản phụ nhiễm HIV. 
- Tên của các sản phụ sẽ được mã hoá trong 
phiếu thu thập số liệu và thang sàng lọc EPDS. 
 Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên điểm EPDS: < 9 - 
không có rối loạn tâm thần; ≥ 13 - rất có thể TCSS. 
- Tiến hành: mỗi sản phụ được thực hiện EPDS 2 
lần. Lần đầu: khi vào viện, mục đích loại các ca có 
NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 
102
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
điểm EPDS ≥ 13. Lần 2: sau sinh 6 tuần, mục đích 
tìm tỉ lệ mắc TCSS. 
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Epi Info, 
phép kiểm chi bình phương và Fisher, phân tích hồi 
qui đơn biến và hồi qui đa biến. 
Vấn đề y đức: Sản phụ tự nguyện tham gia 
nghiên cứu được dấu tên và bí mật thông tin. Các 
sản phụ sàng lọc có nguy cơ TCSS sẽ được giới 
thiệu đến BV Tâm thần TW2 để chẩn đoán xác 
định và có hướng điều trị. 
4. Kết quả 
4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm chung của hai nhóm 
Tuổi: phân bố nhóm tuổi không có khác biệt 
giữa 2 nhóm, 
Cư trú: phân bố dân số trong và ngoài tỉnh 
không có khác biệt giữa hai nhóm.
Học vấn: học vấn ở nhóm nhiễm thấp hơn ờ 
nhóm không nhiễm, với p= 0,000. 
Đặc điểm kinh tế: nhóm nhiễm có tỉ lệ thất 
nghiệp và kinh tế khó khăn cao hơn nhóm không 
nhiễm, với các p < 0,001.
Tìền sử trầm cảm: ở nhóm nhiễm cao hơn ở 
nhóm không nhiễm, p < 0,05. 
Tình trạng hôn nhân tỉ lệ vợ chồng không còn 
chung sống ở nhóm nhiễm cao hơn nhóm không 
nhiễm, p = 0,000¢. Vấn đề “Quan hệ” ngoài 
Đặc điểm Mẫu chung N = 612
Không HIV 
n = 460
Nhiễm HIV 
n = 152 Giá trị P
Tuổi 
 < 20 
20 – < 35
 ≥ 35
Tuổi trung bình 
Tuổi nhỏ nhất - lớn nhất
43 (7,0)
513 (83,8)
56 (9,2)
27 sd 6
16 - 47
31 (6,7) 
388 (84,4)
41 (8,9)
27; sd 6
16 - 47
12 (7,9)
125 (82,2)
15 (9,9)
27; sd 5 
17 - 43
0,822
Cư trú
Ngoài tỉnh 
Trong tỉnh
228 (37,3)
384 (62,7)
164 (35,7)
296 (64,3)
64 (42,1)
88 (57,9)
0,154
Học vấn
< THPT
 THPT
> THPT
371 (60,6)
187 (30,5)
54 (8,9)
257 (55,9)
154 (33,5)
49 (10,6)
114 (75,0)
33 (21,7)
5 (3,3)
0,000
Nghề nghiệp
Không nghề/nội trợ 
Có nghề 
143 (23,4)
469 (76,6)
9 1 (19,8)
369 (80,2)
52 (34,2)
100 (65,8)
0,000
Nghề ổn định
Không 
Có
178 (29,2)
432 (70,8)
n= 459
104 (22,7)
355 (77,3)
n=151
74 (49,0)
77 (51,0)
0,000
Báng 1. Đặc điểm dịch tễ của hai nhóm 
Đặc điểm Mẫu chung N = 612
Không HIV 
n = 460
Nhiễm HIV 
n = 152 P
Tiền sử trầm cảm
Có
Không
Không biết
24 (3,9)
533 (87,4)
53 (8,7)
13 (2,8)
412 (89,6)
35 (7,6)
11 (7,2)
123 (80,9)
18 (11,9)
0.011
Tình trạng hôn nhân 
Đơn thân
Chung sống 
19 (3,1)
593 (96,9)
5 (1,1)
455 (98,9)
14 (9,2)
138 (90,8)
0.000¢
“Quan hệ” ngoài chồng
Không 
Có 
537 (87,8)
75 (12,2)
444 (96,5)
16 (3,5)
93 (61,2)
59 (38,8)
0, 000
Phương thức sinh
Sinh ngã dưới 
Sinh mổ 
406 (66,3)
206 (33,7)
300 (65,2)
160 (34,8)
106 (69,7)
46 (30,3)
0,307
Sức khỏe của con
Khoẻ 
Yếu hoặc chết
577 (94,3)
35 (5,7)
440 (95,6)
20 (4,4)
137 (90,1)
15 (9,9)
0,011
Nuôi con sau sinh
Tự nuôi
Không tự nuôi
N = 611
551 (90,2)
60 (9,8)
n=459 
420 (91,5)
39 (8,5)
131 (86,2)
 21 (13,8)
0.056
¢: phép kiểm Fisher chính xác
Bảng 2. Đặc điểm tiền căn - hôn nhân – sản khoa 
chồng: có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 
nhóm với p = 0,000.
Đặc điểm sản khoa: không có sự khác biệt về 
phương thức sinh giữa 2 nhóm (p=0,736) nhưng 
có khác biệt về tình trạng sức khỏe của con: tỉ lệ 
con yếu hoặc chết ở nhóm nhiễm cao hơn không 
nhiễm (p = 0,034) và tỉ lệ không cho con bú ở 
nhóm nhiễm (91,4%), cao hơn 6 lần nhóm không 
nhiễm (1,5%) (p = 0,034). 
4.1.2 Đặc điểm riêng của nhóm nhiễm HIV
Thời điểm biết nhiễm HIV: Khoảng 38,8% 
Đặc điểm
Nhiễm HIV (N=152)
 Tần số (n) Tỉ lệ ( %)
Thời điểm biết nhiễm HIV
Trước có thai
Mang thai
Chuyển dạ và sau sinh
59
11
82
38,8
7,2
54,0
Dự phòng ARV cho mẹ
Có 
Không
145
7
95,4
4,6
Dự phòng ARV cho con
Có 
Không
129
23
84,9
15,1
CD4 máu mẹ
< 350/mL
≥ 350/mL
Không biết
31
60
61
20,4
39,5
40,1
PCR
1
 của con
PCR
1
 (-)
PCR
1
 (+)
Không biết
96
10
46
63,2
6,6
30,3
Bảng 3. Đặc điểm sinh học và dự phòng lây truyền mẹ - con 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 100 - 108, 2017
103
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
(59/152) sản phụ nhiễm H được XN HIV lần đầu 
khi chuyển dạ, 
Dự phòng ARV: tỉ lệ ARV cho mẹ hơn 95% trong 
khi tỉ lệ ARV cho con chỉ khoảng gần 85%. 
Nồng độ tế bào TCD4: gần 40% sản phụ có 
lượng TCD4 từ 350/mL trở lên. Có đến 40% sản 
phụ không biết số lượng TCD4 của mình! 
Kết quả PCR1 của con. Tỉ lệ PCR1 (+) khoảng 
6,6%. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 70% trẻ được biết 
kết quả xét nghiệm PCR1. 
Tiết lộ bệnh: tỉ lệ sản phụ bộc lộ bệnh khoảng 
84,2%. Trong đó, phần lớn thổ lộ với chồng và 
người thân trong gia đình, tỉ lệ bộc lộ với bạn tình 
rất thấp (1,5%). 
Mặc cảm về căn bệnh đang mang: tỉ lệ sản phụ 
nhiễm HIV có tâm trạng mặc cảm rất cao, gần 77,7%. 
Mặc cảm có lỗi với gia đình: gần 80% sản phụ 
nhiễm HIV cảm thấy có lỗi với gia đình. 
4.2 Tỉ lệ trầm cảm sau sinh ở phụ nữ 
nhiễm HIV so với nhóm không nhiễm HIV
Tỉ lệ TCSS, theo điểm cắt EPDS, ở thời điểm sinh 
được 6 tuần ở nhóm nhiễm HIV cao hơn ở nhóm 
không nhiễm HIV, với p < 0,001. 
Tỉ lệ TCSS ở mẫu chung, tổng mẫu 2 nhóm, là 24,8%.
Đặc điểm
 Nhiễm HIV (N=152)
 Tần số (n) Tỉ lệ ( %)
Tiết lộ bệnh 
Có
Không
128
24
84,2
15,8
Người đã được bộc lộ
Chồng
Cha mẹ
Anh chị em
Bạn thân
Bạn tình
Người khác
118 
61
28
5
2 
3 
90,8
46,9
21,5
3,8
1,5
2,3
Mặc cảm mang bệnh HIV
Có
Không
115
37
75,7
24,3
Mặc cảm có lỗi với gia đình
Có
Không
121
31
79,6
20,4
Bảng 4. Đặc điểm tâm lý xã hội của các sản phụ bị nhiễm HIV
Yếu tố
Nhiễm HIV P
Không Có 
TCSS ở mỗi nhóm
Không
Có
n = 460
402 (87,4)
58 (12,6)
n = 152
58 (38,2)
94 (61,8)
0,000
TCSS ở mẫu chung
Không
Có
N = 612
460 (75,2)
152 (24,8)
Bảng 5. Tỉ lệ mắc TCSS, theo điểm cắt EPDS, ở thời điểm sau sinh 6 tuần 
4.3 Liên quan giữa trầm cảm sau sinh 
và các đặc điểm của hai nhóm 
4.3.1 Liên quan giữa trầm cảm sau sinh và các 
đặc điểm chung của hai nhóm 
Liên quan (Lq) giữa nhóm tuổi và TCSS: Không 
có liên quan giữa TCSS với yếu tố nhóm tuổi. 
Lq nơi cư trú-TCSS: sản phụ nhập cư dễ bị TCSS 
hơn, p = 0,001. Lq trình độ học vấn-TCSS: phụ nữ 
có trình độ học vấn trên THPT ít nguy cơ TCSS, với 
p = 0,009;
Lq nghề nghiệp-TCSS: có liên quan giữa tình 
trạng thất nghiệp và TCSS, p < 0,05.
Lq nghề ổn định – TCSS: phụ nữ có thu nhập 
gia đình thấp tăng nguy cơ TCSS, p = 0,02.
TCSS RR
(KTC 95%) PKhông Có
Nhóm tuổi
 < 20 
20 – < 35 
≥ 35.
34 (79,1)
390 (76,0)
 36 (64,3)
 9 (20,9)
123 (24,0) 
 20 (35,7)
 1
1,15 (0,63-2,09)
1,71 (0,86-3,37)
0,658
0,123
Nơi cư trú
Ngoài tỉnh
Trong tỉnh
155 (68,0)
305 (79,4)
73 (32,0)
79 (20,6)
0,64 (0,49-0,84)
0,001
Trình độ học vấn
< THPT 
THPT 
>THPT
267 (72,0)
144 (77,0)
 49 (90,7)
106 (27,4)
104 (28,0)
 43 (23,0)
 1
0,82 (0,60-1,12)
0,33 (0,14-0,77)
0,209
0,011
Nghề nghiệp
Ko nghề - nội trợ 
Có nghề 
95 (66,4)
365 (77,8)
48 (33,6)
104 (22,2)
0,66 (0,50-0,88)
0,006 
Nghề ổn định
Không
Có
123 (69,1)
335 (77,5)
55 (30,9)
55 (30,9) 0,73 (0,55-0,96) 0,028 
Bảng 6. Liên quan giữa TCSS và đặc điểm dịch tễ của hai nhóm
Đặc điểm
TCSS RR
(KTC 95%) PKhông Có
Tiền sử trầm cảm 
Có 
Không-không biết
13 (54,2)
447 (76,0)
11 (45.8)
141 (24,0)
1,91 (1,21-3,02)
0,015
Tình trạng hôn nhân
Không chung sống
Chung sống
8 (42,1)
452 (76,2)
11 (57,9)
141 (23,8)
0,41 (0,27-0,62)
0,001
“Quan hệ” ngoài chồng
Không
Có
422 (78,6) 
38 (50,7) 
115 (21,4) 
37 (49,3) 
2,30 (1,74-3.05
0,000
Phương thức sinh
Sinh ngã dưới
Sinh mổ
298 (73,4)
162 (78,6)
108 (26,6)
44 (21,4)
0,80 (0,59-1,09)
0,156
Sức khỏe của con
Khoẻ
Yếu hoặc chết
445 (77,1)
15 (42,9)
132 (22,9)
 20 (57,1)
2,50 (1,81-3,45)
0,000
Nuôi con sau sinh
Tự nuôi
Không tự nuôi
422 (76,6)
38 (63,3)
n=151
129 (23,4)
22 (36,7
1,57 (1,09-2,26)
0,024
Bảng7. Liên quan giữa TCSS và đặc điểm tiền căn - hôn nhân - sản khoa 
NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 
104
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Lq tiền sử trầm cảm-TCSS: có sự liên quan giữa 
tiền căn trầm cảm với TCSS, p = 0,02.
Lq đăng ký kết hôn-TCSS: sản phụ không kết 
hôn tăng nguy cơ TCSS với p < 0,001.
Lq tình trạng hôn nhân-TCSS: phụ nữ sống đơn 
thân gia tăng nguy cơ TCSS với p = 0,001.
Lq giữa “quan hệ” ngoài chồng-TCSS: quan hệ 
ngoài hôn nhân tăng nguy cơ TCSS, p < 0,001.
Lq phương thức sinh - TCSS: không có mối liên 
quan giữa TCSS và phương thức sinh, p = 0,24.
Lq tình trạng sơ sinh - TCSS: có liên quan giữa 
TCSS và tình trạng sức khỏe của con, p = 0,00
Sau khi kiểm soát các biến số nơi tuổi mẹ, cư trú, 
ổn định nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe của con; 
người nhiễm HIV có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh 
cao gấp 5 lần người không nhiễm HIV, với p < 0,001.
4.3.2 Liên quan giữa các đặc điểm riêng của 
nhóm nhiễm H với TCSS
Lq thời điểm phát hiện nhiễm HIV – TCSS: có 
liên quan giữa TCSS và thời điểm phát hiện nhiễm 
HIV, p = 0,01. 
TCSS RR KTC 95% P
Nhiễm HIV 4,92 3,76 - 6,43 0,000
Tuổi mẹ 20 - < 35≥ 35
1,40
1,96
0,84 - 2,33
1,12 - 3,44
0,200
0,018
Nhập cư 0,67 0,53 - 0,86 0,001
Nghề không ổn định 1,25 0,99 - 1,59 0,064
Sức khỏe con yếu/chết 1,78 1,23 - 2,58 0,002
Không nuôi con 1,42 1,02 - 1,9 ... ú ở 
nhóm nhiễm cao hơn 4 lần ở nhóm không nhiễm 
với p < 0.001.
Tình trạng hôn nhân. Vợ chồng không còn 
chung sống ở nhóm nhiễm cao gấp 9 lần (9.2%) 
so với không nhiễm (1,1%). 
“Quan hệ” ngoài chồng. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, hầu hết các “quan hệ” ngoài 
chồng xảy ra trước hôn nhân lần này và đa 
phần là với chồng trước.
Đặc điểm sản khoa. Không có sự khác biệt về 
phương thức sinh giữa 2 nhóm (p=0,307) nhưng 
có khác biệt về tình trạng sức khỏe của con; tỉ 
lệ con yếu hoặc chết ở nhóm nhiễm cao hơn 
không nhiễm (p = 0,011). Tỉ lệ không tự nuôi 
con ở nhóm nhiễm (12,8%) cao hơn so với nhóm 
không nhiễm (8,5%) nhưng không có ý nghĩa với 
p = 0,056.
5.1.2 Đặc điểm riêng của nhóm nhiễm HIV
Đặc điểm sinh học và dự phòng lây truyền 
mẹ - con
Thời điểm phát hiện nhiễm HIV. Sản phụ biết 
nhiễm HIV muộn vào giai đoạn chuyển dạ đã 
được chứng minh qua nhiều nghiên cứu sẽ làm 
tăng nguy cơ TCSS [7]. Thưc vậy, lúc đó họ phải 
chịu đồng thời hai stress: nhiễm HIV và lo âu 
đau đớn khi chuyển dạ sinh. Tại VN và một số 
nước trên thế giới, chủ yếu là các nước châu Phi, 
tỉ lệ phát hiện muộn từ 30 - 50%. Nghiên cứu của 
chúng tôi chỉ có 46% sản phụ đã biết nhiễm HIV 
trước khi nhập viện sinh!
Dự phòng ARV. Dự phòng ARV là một thành 
tựu của y học khi ngăn ngừa được sự lây truyền 
H từ mẹ sang con từ 30-40% xuống còn 2%. Tuy 
nhiên, nếu dự phòng muộn thì tỉ lệ lây còn cao 
> 5% [14], hơn nữa sản phụ sẽ hoang mang khi 
dùng thuốc trong giai đoạn chuyển dạ, dễ suy 
sụp, rối loạn trầm cảm. Tỉ lệ ARV cho mẹ, của 
nghiên cứu, khoảng 95% trong khi tỉ lệ ARV cho 
con chỉ khoảng 85% phần lớn do các bà mẹ sợ 
thuốc có ảnh hưởng đến con.
Nồng độ tế bào TCD4. Khoảng 40% sản phụ 
có lượng TCD4 từ 350/mL trở lên, nồng độ CD4 
cao là tín hiệu lạc quan đối với người bệnh. Có 
đến 40% sản phụ không biết lượng TCD4 của 
mình nên sẽ khó khăn trong chăm sóc, điều trị và 
tiên lượng bệnh.
Kết quả PCR1 của con. Tỉ lệ PCR1(+) khoảng 
6,6% tương đương với tỉ lệ trong nước năm 2012 
là 7%. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 60% trẻ được 
làm XN; số trẻ không XN là do cha mẹ sợ con 
còn yếu hoặc vì chưa có kết quả XN vào thời 
điểm kết thúc nghiên cứu (trẻ được làm XN trễ). 
Đặc diểm tâm lý xã hội của các sản phụ bị 
nhiễm H
Tiết lộ bệnh với người khác. Tiết lộ bệnh với 
người khác không phải là dễ, nhất là bệnh HIV. 
Nguyên nhân là do các sai lầm khi mới phát 
hiện HIV, người ta cho rằng HIV/AIDS là căn 
bệnh của người có hành vi nguy cơ cao (ma túy, 
mại dâm, tình dục không an toàn). Trong nghiên 
cứu này tỉ lệ tiết lộ bệnh khoảng 84%. Trong số 
này, phần lớn là với chồng (91%) và người thân 
trong gia đình (cha mẹ 47%, anh chị em ruột 
21%). Tỉ lệ bộc lộ với bạn tình rất thấp so với 
nhiều nghiên cứu khác (1,5%); vì phần lớn số 
người mà sản phụ có “quan hệ” ngoài chồng là 
chồng trước.
Mặc cảm về căn bệnh đang mang. Số phụ 
nữ có mặc cảm trong nghiên cứu rất cao gần 
76%. Đây là một yếu tố nguy cơ mạnh gây TCSS 
[20], [21]. 
Cảm thấy có lỗi với gia đình. Tỉ lệ phụ nữ nhiễm 
HIV không có hôn thú khoảng 33% (phần lớn ngoài 
sự đồng ý của gia đình), tỉ lệ tan vỡ hôn nhân cũng 
như tỉ lệ lây nhiễm HIV từ người chồng trước cũng 
NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 
106
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
cao (khoảng 44%, vì vậy có đến 80% các sản phụ 
luôn có mặc cảm có lỗi với gia đình của họ! 
5.2 Tỉ lệ mắc TCSS theo điểm cắt EPDS 
ở phụ nữ nhiễm HIV, so với phụ nữ 
không nhiễm.
Tỉ lệ TCSS mắc TCSS ở nhóm nhiễm HIV là 
61,8% cao gần gấp 5 lần nhóm không nhiễm 
HIV là 12,6%, với p < 0.001. Qua các NC tại 
VN, tỉ lệ TCSS trong cộng đồng khoảng từ 5,1% 
- 15%. Tỉ lệ TCSS của mẫu nghiên cứu (tổng mẫu 
2 nhóm) là 24,8%.
5.3 Liên quan giữa các đặc điểm của 
hai nhóm với TCSS
5.3.1 Liên quan giữa các đặc điểm chung của 
hai nhóm với TCSS
Liên quan giữa TCSS và đặc điểm dịch tễ của 
hai nhóm
Liên quan (Lq) giữa tuổi và TCSS. Trong cộng 
đồng, phụ nữ lứa tuổi từ 25 - 44 có tỉ lệ bị trầm 
cảm cao nhất. Tuy nhiên, trong y văn, tỉ lệ trầm 
cảm ở phụ nữ sau sinh không có sự khác biệt 
giữa các nhóm tuổi [1], [3], [8]. Nghiên cứu của 
chúng tôi cũng cho kết quả tương tự.
Lq nơi cư trú - TCSS . Cuộc sống của các sản 
phụ đến nhập cư gặp nhiều bất lợi hơn các sản 
phụ ở địa phương, nên họ có nhiều nguy cơ 
TCSS (RR=0,64; KTC 95%: 0,49-0,84). Tương tự 
NC của Ng Mai Hạnh [3], Ng thi Ngọc Trang 
[5], Hartley M & cs, Eastwood JG & cs [17], [18]. 
Lq trình độ học vấn - TCSS. Phụ nữ có trình 
độ học vấn cao ít nguy cơ TCSS hơn phụ nữ có 
học vấn thấp (RR=0,33; KTC 95%: 0,14-0,77); 
tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phong, 
Grussu P [6], [16]. 
Lq nghề nghiệp - TCSS. Chúng tôi thấy có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng thất 
nghiệp và TCSS (RR=0,66; KTC 95%:0,50-0,88). 
Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thi Thu Phong, 
Hartley M & cs, Eastwood JG & cs [6], [17], [18]. 
Lq nghề nghiệp ổn định - TCSS. Phụ nữ có 
nghề không ổn định có nguy cơ TCSS cao gấp 
0,73 lần (KTC 95%:0,55-0,96) so với phụ nữ có 
thu nhập khá; tương tự nghiên cứu của Đinh Thị 
Tố Trinh, Blaney NT, Grussu P [2], [10], [16]. 
Liên quan giữa TCSS và đặc điểm tiền căn - 
hôn nhân - sản khoa 
Lq tình tiền căn trầm cảm - TCSS. Tiền căn 
trầm cảm đã được chứng minh là yếu tố nguy 
cơ TCSS. NC của chúng tôi thấy sản phụ có tiền 
căn trầm cảm có nguy cơ TCSS cao gần gấp 2 
lần sản phụ không có tiền căn này (RR=1,91; 
KTC 95%: 1,21- 3,02). 
Lq tình trạng hôn nhân - TCSS. Sản phụ 
không còn chung sống với chồng sau sinh có 
nguy cơ TCSS gấp 2 lần sản phụ có gia đình 
ổn dịnh (RR=0,41; KTC 95%: 0,27-0,62), khác 
với kết quả NC của Nguyễn thị Ngọc Trang [5], 
Kosinska Kaczynska (2008) không thấy có mối 
liên quan giữa tình trạng hôn nhân với TCSS. 
Lq “quan hệ” ngoài chồng - TCSS. NC ghi 
nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
tình trạng quan hệ ngoài hôn nhân với TCSS 
(RR=2,30; KTC 95%: 1,74-3.05).
Lq phương thức sinh-TCSS. Đã có nhiều 
nghiên cứu về mối liên quan này nhưng còn 
tranh cãi do có kết quả khác nhau. O Neill T và 
cs, Edwards và cs, Cup RE cho rằng có mối liên 
quan giữa phương thức sinh và TCSS. nghiên cứu 
của chúng tôi thấy mối liên quan này không có ý 
nghĩa thống kê (p > 0,05); tương tự 2 nghiên cứu 
của Tammentie và Winsner KL (2002), Nguyễn T 
Thu Phong (2007).
Lq tình trạng sơ sinh – TCSS. Có sự liên quan 
giữa TCSS và tình trạng sơ sinh (p < 0,001). Mẹ 
có con sức khỏe yếu hoặc chết có nguy cơ TCSS 
cao gấp 2 lần mẹ có con khỏe mạnh. Tương tự 
nghiên cứu của Ng. T. Thu Phong, Nguyễn Mai 
Hạnh, Glasser và cs. 
Lq nuôi con sau sinh – TCSS. Kết quả của 
chúng tôi cho thấy sản phụ không tự nuôi con 
sau sinh sẽ gia tăng nguy cơ TCSS (RR=1,57; 
KTC 95%: 1,09 - 2,26).
Mối liên quan giữa nhiễm HIV và TCSS trong 
mô hình hồi qui đa biến
Sau khi kiểm soát các biến số: tuổi, nơi cư 
trú, nghề nghiệp ổn định, sức khỏe của con, và 
nuôi con sau sinh, người nhiễm HIV có nguy cơ 
bị TCSS cao gấp 5 lần người không nhiễm HIV, 
với p < 0,001.
5.3.2 Liên quan giữa các đặc điểm riêng của 
nhóm nhiễm HIV với TCSS
Liên quan giữa TCSS và đặc điểm sinh học. dự 
phòng lây truyền mẹ - con
Lq thời điểm sản phụ phát hiện nhiễm HIV. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 100 - 108, 2017
107
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Thời điểm phát hiện nhiễm HIV và ARV trước 
hoặc khi mang thai sẽ giảm được nguy cơ lây 
truyền mẹ-con và vì vậy tỉ lệ trầm cảm ở nhóm 
sản phụ này sẽ thấp hơn ở nhóm được phát hiện 
nhiễm HIV trong chuyển dạ - sau sinh [17], [19]. 
nghiên cứu của chúng tôi thấy có sự liên quan có 
ý nghĩa thống kê giữa TCSS với thời điểm phát 
hiện nhiễm HIV (RR=1,44; KTC 95%: 1,08-1,91).
Lq dự phòng ARV-TCSS. Nghiên cứu không 
thấy có mối liên quan giữa dự phòng ARV cho 
mẹ hoặc cho con với TCSS (p > 0,05), tuy nhiên 
nếu không dự phòng ARV sẽ tăng nguy cơ lây 
truyền mẹ - con và giảm khả năng tuân thủ điều 
trị của bà mẹ sau này do người mẹ không nhận 
thức được tầm quan trong của việc phòng ngừa 
và điều trị bệnh HIV bằng ARV. 
Lq nồng độ tế bào TCD4. Nồng độ 
TCD4=350/mL là mốc quyết định điều trị ARV 
ở nhiều quốc gia, phụ nữ nhiễm HIV chưa phải 
điều trị ARV sẽ có tâm lý tốt hơn và là yếu tố bảo 
vệ TCSS. Chen YQ và cs nghiên cứu tại Saharan 
châu Phi (7/2010) cho thấy sản phụ có nồng độ 
tế bào CD4< 200/mL có nguy cơ TCSS gấp 3,1 
lần các sản phụ có CD4>500/mL. NC của chúng 
tôi không thấy có liên quan có ý nghĩa thống kê 
giữa nồng độ TCD4 và TCSS (p > 0,05). 
Lq giữa tình trạng nhiễm HIV của con với TCSS. 
Chúng tôi thấy có mối liên quan giữa tình trạng con 
bị nhiễm H (PCR1(+)) và TCSS: sản phụ có con bị 
nhiễm HIV có nguy cơ trầm cảm cao hơn sản phụ 
có con không nhiễm HIV (RR=1,15; KTC 95%: 1,35-
1,83). Trong nghiên cứu, có đến 77% sản phụ có 
thai là do mong muốn, vì vậy khi sinh ra con gặp 
bất hạnh nhiễm HIV chắc chắn người mẹ có nguy 
cơ cao bị trầm cảm. nghiên cứu của Grussu P và 
Ozbasaran F cũng cho kết quả tương tự [19]. 
Liên quan giữa TCSS và đặc điểm tâm lý xã hội 
của các sản phụ nhiễm H
[19] của chúng tôi không thấy có mối liên 
quan giữa TCSS với sự tiết lộ bệnh của sản phụ 
nhiễm HIV (p > 0,05)), khác với nguy cơ tăng gấp 
3 lần trong nghiên cứu ở Malawi (OR=3.05; KTC 
95%: 1,39-7,24) [13]. Tuy nhiên, sản phụ nhiễm 
HIV sẽ tăng nguy cơ TCSS nếu có mặc cảm về 
bệnh của mình (RR=2,43, KTC 95%:1,46-4,04) 
hoặc mặc cảm có lỗi với gia đình (RR=1,93; KTC 
95%:1,18-3,15), tương tự nghiên cứu ở Malawi 
(OR =3,44; KTC 95% 1,34-9,75).
6. Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu 152 sản phụ nhiễm HIV 
và 460 sản phụ sản phụ không nhiễm HIV sinh 
tại Đồng Nai và Bình Dương từ 31/11/2012 
đến 30/4/2015. Chúng tôi có kết luận như sau: 
1. Tỉ lệ trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV 
là 61,8%. 
2. Nhiễm HIV có liên quan đến trầm cảm sau 
sinh: phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ bị TCSS cao 
gấp 5 lần phụ nữ không nhiễm HIV (RR=4,92; 
KTV 95%: 3,76 - 6,43; p < 0,001).
3. Một số đặc điểm chung ở hai nhóm có liên 
quan có ý nghĩa thống kê với TCSS, làm gia tăng 
nguy cơ trầm cảm: mẹ lớn tuổi tăng nguy cơ 1,96 
lần (KTC 95%: 1,12-3,44); nhập cư tăng nguy cơ 
0,67 lần; (KTC 95%: 0,53-0,86); không ổn định 
nghề nghiệp tăng nguy cơ 1,25 lần (KTC 95%: 
0,99-1,59); sinh con yếu hoặc chết tăng nguy cơ 
1,75 lần (KTC 95%: 0,96-3,18); và không nuôi 
con tăng nguy cơ 1,42 lần (KTC 95%: 1,92-1,97).
4. Một số đặc điểm ở nhóm nhiễm HIV là các 
yếu tố nguy cơ TCSS: thời điểm phát hiện nhiễm 
HIV trong chuyển dạ-sau sinh (p < 0,05); con 
bị nhiễm HIV (p < 0,001); Mặc cảm mang bệnh 
HIV (p < 0,001); Mặc cảm có lỗi với gia đình (p 
= 0,001). 
NGUYỄN MẠNH HOAN, CAO NGỌC THÀNH 
108
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
1. Đinh Thị Tố Trinh (2003), Tỉ lệ trầm cảm sau sinh và các yếu 
tố liên quan. Luận án tốt nghiệp chuyên khoa cấp II. Trường ĐHYD 
TP.HCM, tr 20-50.
2. Nguyễn Mạnh Hoan, Đặc điễm dịch tễ và tâm lý xã hội ở phụ nữ 
nhiễm HIV trầm cảm sai sinh. Tạp chí Phụ Sản, 07-2014, 12 (03): 58-63 
(ISSN: 1859-3844).
3. Nguyễn Mai Hạnh (2005), yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh, 
Luận án chuyên khoa cấp II. Trường ĐHYD TP.HCM, tr 33-90.
4. Nguyễn Mạnh Hoan, Tình hình chuyển dạ và dự phòng lây truyền 
HIV của sản phụ có chẩn đoán sàng lọc HIV(+) sinh tại BVĐK tỉnh 
Đồng Nai 2005-2010. Tạp chí Phụ Sản, 2012; 10 (1): 31-36 (ISSN: 
1859-3844).
5. Nguyễn Thị Ngọc Trang (2001), So sánh tỉ lệ tcss giữa nhóm thai kì 
nguy cơ và hai kì bình thường tại BVTD. Luận án tốt nghiệp CK II ĐHYD 
TP HCM, tr 51, 58.
6. Nguyễn Thi Thu Phong (2007), Nghiên cứu tình hình buồn, trầm cảm 
sau sinh và một số yếu tố liên quan. Luận văn thac sĩ Y học, ĐHYD 
Huế, tr 34, 54.
7. Trần Thị Lợi (2004), Tình hình phòng chống lây truyền HIV từ mẹ 
sang con taï Việt Nam, NTLT: Lây truyền HIV từ me sang con. Bộ môn 
Phụ sản – ÑHYD kỳ 19, tr 3. 
8. Appleby L, Gregoire A, Platz C, Prince M, Kumar R (1994), Screening 
women for high risk of postnatal depression, J Psychosom Res, 38 
(6): 539-45.
9. Brugha, TS, Sharp, HM, Cooper, SA, et al. (1998), The Leicester 500 
Project. Social support and the development of postnatal depressive 
symptoms, a prospective cohort survey. Psychol Med, 28:63.Callahan 
JL, Hynan MT(2002), Postpartum psychiatric illness, Sep: 7191-3:169-80.
10. Blaney NT; Fernandez MI; Psychosocial and behavioral correlates 
of depression among HIV-infected pregnant women. AIDS Patient Care 
STDS. 2004; 18(7):405-15 (ISSN: 1087-2914)
11. Psaros C; Geller PA; Aaron E The importance of identifying and 
treating depression in HIV infected, pregnant women: a review. J 
Psychosom Obstet Gynaecol. 2009; 30(4):275-81 (ISSN: 1743-8942)
12. Ross R; Sawatphanit W, Depressive symptoms among HIV-positive 
postpartum women in Thailand. Arch Psychiatr Nurs. 2011; 25(1):36-42 
(ISSN: 1532-8228)
13. Dow A; Dube Q; Pence BW, Postpartum Depression and HIV 
Infection Among Women in Malawi. J Acquir Immune Defic Syndr. 2014; 
65(3):359-65 (ISSN: 1944-7884)
14. Rochat TJ; Tomlinson M; Newell ML Detection of antenatal depression 
in rural HIV-affected populations with short and ultrashort versions of the 
Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS). Arch Womens Ment 
Health. 2013; 16(5):401-10 (ISSN: 1435-1102)
15. Refugee, asylum seeker, immigrant women and postnatal depression: 
rates and risk factors Postnatal depression (PND) Arch Womens Ment 
Health, February 2011
16. Grussu P; Quatraro RM, Prevalence and risk factors for a high level 
of postnatal depression symptomatology in Italian women: a sample 
drawn from ante-natal classes. Eur Psychiatry. 2009; 24(5):327-33 
(ISSN: 0924-9338)
17. Hartley M; Tomlinson M; Depressed mood in pregnancy: Prevalence 
and correlates in two Cape Town peri-urban settlements....home-based 
intervention for preventing and managing illnesses related to HIV, TB, 
alcohol use and malnutrition in pregnant mothers and their infants. Reprod 
Health. 2011; 8:9 (ISSN: 1742-4755)
18. Eastwood JG; Phung H; Barnett Postnatal depression and socio-
demographic risk: factors associated with Edinburgh Depression Scale 
scores in a metropolitan area of New South Wales, Australia. Aust N Z J 
Psychiatry. 2011; 45(12):1040-6 (ISSN: 1440-1614)
19. Ozbaşaran F; Coban A; Kucuk M, Prevalence and risk factors 
concerning postpartum depression among women within early postnatal 
periods in Turkey. Arch Gynecol Obstet. 2011; 283(3):483-90 (ISSN: 
1432-0711).
20. Piacentini D; Leveni, Prevalence and risk factors of postnatal 
depression among women attending antenatal courses] Epidemiol 
Psichiatr Soc. 2009; 18(3):214-20 (ISSN: 1121-189X)
21. Gausia K; Fisher C; Ali M; Oosthuizen J,Magnitude and contributory 
factors of postnatal depression: a community-based cohort study from 
a rural subdistrict of Bangladesh. Psychol Med. 2009; 39(6):999-1007 
(ISSN: 1469-8978).

File đính kèm:

  • pdfsang_loc_tram_cam_sau_sinh_o_phu_nu_nhiem_hiv_tai_viet_nam.pdf