Sàng lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung

Mục tiêu: Đề tài này nhằm xác định tỷ lệ bất thường và giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế bào cổ tử cung trong sàng lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung.

Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang trên 1.139 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở 11 xã/ phương thuộc 3 huyện thị đại diện cho 3 vùng địa lý gồm Huyện Phú Vang, Huyện Nam Đông và Thành phố Huế trong thời gian từ tháng 03 năm 2011 đến tháng 08 năm 2012. Những trường hợp có kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường sẽ được mời tái khám tại Bệnh viện để soi cổ tử cung và sinh thiết nếu có chỉ định. Các thông số nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ bất thường tế bào và giá trị chẩn đoán của tế bào học.

Kết quả: Tuổi trung bình của phụ nữ được khám sàng lọc là 37,3±7,4. Nguy cơ tế bào học dương tính tăng dần theo tuổi đời và số lần mang thai. Kết quả VIA ghi nhận 88 trường hợp (chiếm 7,7%) tổn thương cổ tử cung bất thường và nghi ngờ ung thư. Tỷ lệ tỷ lệ phát hiện tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung qua xét nghiệm tế bào cổ tử cung là 5,44%, trong đó chẩn đoán ASCUS/H: 3,07%, AGUS: 0,96%, LSIL: 1,14% và HSIL: 0,26%. Giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế bào cổ tử cung có độ nhạy 72,7%; độ đặc hiệu 71,4%; độ chính xác 72,2%; giá trị tiên đoán dương 80,0% và giá trị tiên đoán âm 62,5%

pdf 10 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Sàng lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sàng lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung

Sàng lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung
NguyễN Vũ QuốC huy, Lê MiNh TâM, TrươNg QuaNg ViNh, ĐặNg CôNg ThuậN, Cao NgọC ThàNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
50
SÀNG LỌC TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ 
VÀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 
BẰNG XÉT NGHIỆM TẾ BÀO CỔ TỬ CUNG
tóm tắt
mục tiêu: Đề tài này nhằm xác định tỷ lệ bất 
thường và giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế 
bào cổ tử cung trong sàng lọc tổn thương tiền 
ung thư và ung thư cổ tử cung.
Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang 
trên 1.139 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở 11 xã/
phương thuộc 3 huyện thị đại diện cho 3 vùng 
địa lý gồm Huyện Phú Vang, Huyện Nam Đông và 
Thành phố Huế trong thời gian từ tháng 03 năm 
2011 đến tháng 08 năm 2012. Những trường hợp 
có kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường sẽ 
được mời tái khám tại Bệnh viện để soi cổ tử cung 
và sinh thiết nếu có chỉ định. Các thông số nghiên 
cứu liên quan đến tỷ lệ bất thường tế bào và giá 
trị chẩn đoán của tế bào học.
Kết quả: Tuổi trung bình của phụ nữ được 
khám sàng lọc là 37,3±7,4. Nguy cơ tế bào 
học dương tính tăng dần theo tuổi đời và số 
lần mang thai. Kết quả VIA ghi nhận 88 trường 
hợp (chiếm 7,7%) tổn thương cổ tử cung bất 
thường và nghi ngờ ung thư. Tỷ lệ tỷ lệ phát 
hiện tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ 
tử cung qua xét nghiệm tế bào cổ tử cung là 
5,44%, trong đó chẩn đoán ASCUS/H: 3,07%, 
AGUS: 0,96%, LSIL: 1,14% và HSIL: 0,26%. Giá trị 
chẩn đoán của xét nghiệm tế bào cổ tử cung 
có độ nhạy 72,7%; độ đặc hiệu 71,4%; độ chính 
xác 72,2%; giá trị tiên đoán dương 80,0% và giá 
trị tiên đoán âm 62,5%. 
Kết luận: Xét nghiệm tế bào học trong việc 
phát hiện các tổn thương tiền ung thư và ung 
thư cổ tử cung có độ nhạy và độ đặc hiệu khá 
cao nên có thể áp dụng trong sàng lọc trên 
diện rộng cộng đồng, cũng như ở các phòng 
khám chuyên khoa. Tuy nhiên tỷ lệ âm tính giả 
còn cao nên cần phối hợp nhiều biện pháp 
khác nhau và có thể chỉ định lặp lại xét nghiệm 
tế bào học để tăng hiệu quả sàng lọc nếu các 
phương pháp sàng lọc khác không có sẵn.
abStract: 
scREEning oF cERVicaL pRE-inVasiVE LEsions and 
inVasiVE cancER by pap-smEaR.
objectives: This study aims to determine 
the abnormal rate and the diagnostic value of 
Pap-smear in screening of cervical pre-invasive 
lesions and invasive cancer.
Subjects and methods: cross-sectional 
description on 1139 reproductive-age women 
in 11 communes/wards in three districts 
representing three geographic regions, 
including Phu Vang district, Nam Dong district 
and the Hue city during the time from March 
2011 to August, 2012. Women whose pap-
smears appeared abnormal will be invited for 
re-examination at the Hospital for colposcopy 
and biopsy if indicated. The study parameters 
include the abnormal rate of pap-smear and 
the diagnostic value of cytology.
results: The mean age of screened 
women was 37.3 ± 7.4. Risk of positive pap-
smear increases with age and number of 
pregnancies in history. Abnormal VIA results 
recorded in 88 cases (7.7%). Detection rate of 
cervical pre-cancerous lesions by pap-smear 
was 5.44%, in which the diagnosis of ASCUS 
/ H was 3.07%, AGUS 0.96%, LSIL 1.14% and 
HSIL 0.26%. Diagnostic value of cervical pap-
smear had a sensitivity of 72.7%; specificity of 
Nguyễn Vũ Quốc huy*, Lê Minh Tâm*, Trương Quang Vinh*, Đặng Công Thuận**, Cao Ngọc Thành*
* Khoa Phụ Sản, ** Khoa Giải phẫu bệnh Bệnh viện Đại học Y Dược Huế
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
51
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 50-59, 2013
71.4%; accuracy of 72.2%; positive predictive 
value 80.0% and the negative predictive 
value 62.5%.
conclusion: The pap-smear in the detection 
of pre-cancerous lesions and cervical cancer 
has high sensitivity and specificity which can 
be applied in routine screening in community, 
as well as in the clinic. However, false-negative 
rate is still high so that screening method 
should be a combination of different measures 
and repetitions of pap-smear to increase the 
efficiency of screening if the different screening 
methods are not available.
i. ĐẶt vấn Đề
Tổ chức Y tế thế giới ước tính hàng năm có 
khoảng 520.000 phụ nữ mắc mới ung thư cổ tử 
cung và trên 274.000 ca tử vong. Đây là bệnh lý 
ác tính đứng hang thứ hai trong số các ung thư 
thường gặp ở nữ giới, với trên 90% trường hợp 
được phát hiện ở những nước đang phát triển 
trong đó có Việt Nam [10], [14].
Tổn thương cổ tử cung thường phát triển từ 
ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ. 
Quá trình sinh bệnh học thường kéo dài và trải 
qua các mức độ trầm trọng tăng dần từ tân sinh 
trong biểu mô thành ung thư tại chỗ, trước khi 
xuất hiện ung thư vi xâm lấn rồi xâm lấn. Thông 
thường tiến trình này kéo dài 10 đến 20 năm 
[3], [18], [20].
Xét nghiệm tế bào học cổ tử cung từ lâu 
được xem là một phương tiện đắc lực trong 
chương trình tầm soát tổn thương ác tính cổ 
tử cung. Nhiều nghiên cứu cho biết, tế bào 
học có độ nhạy từ 37- 90% và độ đặc hiệu 
từ 74 - 94% [6], [8], [17]. Sau hơn 40 năm 
tiến hành chương trình này ở các nước công 
nghiệp phát triển, tỷ lệ ung thư cổ tử cung 
xâm lấn đã giảm một cách rõ rệt. Điều đó cho 
thấy, hiệu quả của chương trình sàng lọc rất 
có ý nghĩa, ung thư cổ tử cung có thể phòng 
ngừa và điều trị khỏi dựa vào việc áp dụng tế 
bào học trong sàng lọc.
Ở Việt nam, tuy đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh 
vực tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử cung 
bằng xét nghiệm sàng lọc tế bào học thường 
quy, nhưng tỷ lệ phụ nữ được làm xét nghiệm 
tế bào học còn thấp, khả năng tiếp cận dịch vụ 
y tế còn hạn chế. Chúng tôi thực hiện đề tài: 
“Sàng lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư 
cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung” 
nhằm xác định tỷ lệ, giá trị chẩn đoán của xét 
nghiệm tế bào cổ tử cung trong sàng lọc tổn 
thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung.
ii. ĐỐi tƯỢng và phƯơng phÁp 
nghiÊn cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 1.139 phụ nữ 
trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi), đã quan hệ tình 
dục, đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được 
cung cấp thông tin. Loại khỏi nghiên cứu những 
trường hợp đã cắt tử cung toàn phần, đang hành 
kinh, đang mang thai, đang trong thời kỳ hậu sản, 
đặt thuốc âm đạo hoặc thụt rửa âm đạo trong 24 
giờ trước đó, đã phát hiện thương tổn tiền ác tính 
- ác tính và được điều trị trước đó hay tiền sử điều 
trị bằng tia xạ vùng bụng-chậu.
Cỡ mẫu được tính theo công thức dành cho 
nghiên cứu mô tả ước lượng tỷ lệ:
high sensitivity and specificity which can be applied in routine screening in community, as well 
as in the clinic. However, false-negative rate is still high so that screening method should be a 
combination of different measures and repetitions of pap-smear to increase the efficiency of 
screening if the different screening methods are not available. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tổ chức Y tế thế giới ước tính hàng năm có khoảng 520.000 phụ nữ mắc mới ung thư cổ 
tử cung và trên 274.000 ca tử vong. Đây là bệnh lý ác tính đứng hang thứ hai trong số các ung thư 
thường gặp ở nữ giới, với trên 90% trường hợp được phát hiện ở những nước đang phát triển 
trong đó có Việt Nam [10], [14]. 
Tổn thương cổ tử cung thường phát triển từ ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô 
trụ. Quá trình sinh bệnh học thường kéo dài và trải qua các mức độ trầm trọng tăng dần từ tân 
sinh trong biểu mô thành ung thư tại chỗ, trước khi xuất hiện ung thư vi xâm lấn rồi xâm lấn. 
Thông thường tiến trình này kéo dài 10 đến 20 năm [3], [18], [20]. 
Xét nghiệm tế bào học cổ tử cung từ lâu được xem là một phương tiện đắc lực trong chương 
trình tầm soát tổn thương ác tính cổ tử cung. Nhiều nghiên cứu cho biết, tế bào học có độ nhạy từ 37- 
90% và độ đặc hiệu từ 74 - 94% [6], [8], [17]. Sau hơn 40 năm tiến hành chương trình này ở các 
nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ ung thư cổ tử cung xâm lấn đã giảm một cách rõ rệt. Điều đó cho 
thấy, hiệu quả của chương trình sàng lọc rất có ý nghĩa, un thư cổ tử cung có thể phòng ngừa và 
điều trị khỏi dựa vào việc áp dụng tế bào học trong sàng lọc. 
Ở Việt nam, tuy đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử 
cung bằ g xét nghiệm sàng lọc tế bào học thường quy, nhưng tỷ lệ phụ nữ được làm xét nghiệm 
tế bào học còn t ấp, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế. Chúng tôi thực hiện đề tài: “Sàng 
lọc tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung” nhằm xác 
định tỷ lệ, giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế bào cổ tử cung trong sàng lọc tổn thương tiền ung 
thư và ung thư cổ tử cung. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 1.139 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi), đã quan hệ 
tình dục, đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được cung cấp thông tin. Loại khỏi nghiên cứu 
những trường hợp đã cắt tử cung toàn phần, đang hành kinh, đang mang thai, đang trong thời kỳ 
hậu sản, đặt thuốc âm đạo hoặc thụt rửa âm đạo trong 24 giờ trước đó, đã phát hiện thương tổn 
tiền ác tính - ác tính và được điều trị trước đó hay tiền sử điều trị bằng tia xạ vùng bụng-chậu. 
Cỡ mẫu được tính theo công thức dành cho nghiên cứu mô tả ước lượng tỷ lệ: 
2
2
α/2
Δ
p)(1 p
Ζn −=
Với tỷ lệ bệnh tại cộng đồng p = 12%, Δ = 0,02, α = 0,05, = 1,96, theo công thức 
trê ta tí h được ỡ mẫu tối thiểu cần thiết là: n = 1.015 đối tượng. Chúng tôi chọn cỡ mẫu 1.100 
đối tượng. 
Đề tài được triển khai trên địa bàn 3 huyện thị đại diện cho 3 vùng địa lý-kinh tế-xã hội 
của Tỉnh Thừa Thiên Huế là Huyện Nam Đông (Thị trấn Khe Tre, Hương Lộc, Hương Hữu), 
Thành phố Huế (An Hoà, An Cựu, An Đông, Phường Đúc) và Huyện Phú Vang (Phú Mậu, Vinh 
Hà, Phú Diên, Vinh Thanh). Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn 100 đối tượng/xã, khám bệnh, lấy mẫu 
nghiệm để xét nghiệm HPV. Sau khi loại khỏi nghiên cứu các trường hợp không đạt tiêu chuẩn, 
đề tài đánh giá trên tổng số 1.139 người. Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 07 năm 
2/αΖVới tỷ lệ bệnh tại cộng đồng p = 12%, Δ = 0,02, 
α = 0,05, 
high sensitivity and specificity which can be applied in routine screening in community, as well 
as in the clinic. However, false-negative rate is still high so that screening method should be a 
combination of different measures and repetitions of pap-smear to increase the efficiency of 
screening if the different screening methods are not available. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tổ chức Y tế thế giới ước tính hàng năm có khoảng 520.000 phụ nữ mắc mới ung thư cổ 
tử cung và trên 274.000 ca tử vong. Đây là bệnh lý ác tính đứng hang thứ hai trong số các ung thư 
thường gặp ở nữ iới, với trên 90% trường hợp được phát hiện ở những nước đang phát triển 
trong đó có Việt Nam [10], [14]. 
Tổn thương cổ tử cung thường phát triển từ ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô 
trụ. Quá trình sinh bệnh học t ường kéo dài và trải qua các mức độ trầm trọng tăng dần từ tân 
sinh trong biểu mô thành ung thư tại chỗ, trước khi xuất hiện ung thư vi xâm lấn rồi xâm lấn. 
Thông thường tiến trình này kéo dài 10 đến 20 năm [3], [18], [20]. 
Xét nghiệm tế bào học cổ tử cung từ lâu được xem là một phương tiện đắc lực trong chương 
trình tầm soát tổn thương ác tính ổ tử cung. Nhiều nghiên cứu cho biết, tế bào học có độ nhạy từ 37- 
90% và độ đặc hiệu từ 74 - 94% [6], [8], [17]. Sau hơn 40 năm tiến hành chương trình này ở các 
nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ ung thư cổ tử cung xâm lấn đã giảm một cách rõ rệt. Điều đó cho 
thấy, hiệu quả của c ương trì h sàng lọ rất có ý nghĩa, ung thư cổ tử cung có thể phòn ngừa và 
điều trị khỏi dựa vào việc áp dụ tế bào học rong sàn lọc. 
Ở Việt nam, tuy đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử 
cung bằng xét nghiệm sàng lọc tế bào học thường quy, nhưng tỷ lệ phụ nữ được làm xét nghiệm 
tế bào học còn thấp, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế. Chúng tôi thực hiện đề tài: “Sà g 
lọc tổn thương tiền u g thư và ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung” nhằm xác 
định tỷ lệ, giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế bào cổ tử cung trong sàng lọc tổn thương tiền ung 
thư và ung thư cổ tử cung. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả ắt ngang 1.139 p ụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi), đã quan hệ 
tình dục, đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được cung cấp thông tin. Loại khỏi nghiên cứu 
những trường hợp đã cắt tử cung toàn phần, đang hành kinh, đang mang thai, đang trong thời kỳ 
hậu sản, đặt thuốc âm đạo hoặc thụt rửa âm đạo trong 24 giờ trước đó, đã phát hiện thương tổn 
tiền ác tính - ác tính và được điều trị trước đó hay tiền sử điều trị bằng tia xạ vùng bụng-chậu. 
Cỡ mẫu được tính theo công thức dành cho nghiên cứu mô tả ước lượng tỷ lệ: 
2
2
α/2
Δ
p)(1 p
Ζn −=
Với tỷ lệ bệnh tại cộng đồng p = 12%, Δ = 0,02, α = 0,05, = 1,96, theo công thức 
trên ta tính được cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là: n = 1.015 đối tượng. Chúng tôi chọn cỡ mẫu 1.100 
đối tượng. 
Đề tài được triển khai trên địa bàn 3 huyện thị đại diện cho 3 vùng địa lý-kinh tế-xã hội 
của Tỉn Thừa Thiên Huế là Huyện Nam Đông (Thị trấn Khe Tre, Hương Lộc, Hương Hữu), 
Thành phố Huế (An Hoà, An Cựu, An Đông, Phường Đúc) và Huyện Phú Vang (P ú Mậu, Vinh 
Hà, Phú Diên, Vinh Thanh). Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn 100 đối tượng/xã, khám bệnh, lấy mẫu 
nghiệm để xét nghiệm HPV. Sau khi loại khỏi nghiên cứu các trường hợp không đạt tiêu chuẩn, 
đề tài đánh giá trên tổng số 1.139 người. Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 07 năm 
2/αΖ = 1,96, theo công thức trên ta tính 
được cỡ mẫu tối t iểu cần thiết là: n = 1.015 đối 
tượng. Chúng tôi chọn cỡ mẫu 1.100 đối tượng.
Đề tài được triển khai trên địa bàn 3 huyện 
thị đại diện cho 3 vùng địa lý - kinh tế - xã hội 
của Tỉnh Thừa Thiên Huế là Huyện Nam Đông 
(Thị trấn Khe Tre, Hương Lộc, Hương Hữu), 
Thành phố Huế (An Hoà, An Cựu, An Đông, 
Phường Đúc) và Huyện Phú Vang (Phú Mậu, 
Vinh Hà, Phú Diên, Vinh Thanh). Chọn mẫu 
ngẫu nhiên đơn 100 đối tượng/xã, khám bệnh, 
lấy mẫu nghiệm để xét nghiệm HPV. Sau khi 
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
52
loại khỏi nghiên cứu các trường hợp không đạt 
tiêu chuẩn, đề tài đánh giá trên tổng số 1.139 
người. Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ 
tháng 07 năm 2011 đến tháng 08 năm 2012.
Tất cả các trường hợp sẽ được phỏng vấn các 
thông tin hành chính, khám phụ khoa hàng loạt, 
lấy bệnh phẩm tế bào cổ tử cung và thực hiện 
đọc tế bào tại phòng xét nghiệm Tế bào, Bệnh 
viện Trường Đại học Y Dược Huế. Quy ước lam âm 
tính gồm kết quả tế bào là bình thường, tế bào 
biến đổi phản ứng; lam dương tính gồm kết quả 
tế bào là ASCUS/H, AGUS, LSIL, HSIL, ung thư.
Những phụ nữ trong lần khám sàng lọc lần 1 
có kết quả lâm sàng nghi ngờ hoặc có kết quả tế 
bào học dương tính sẽ được mời khám lần 2 tại 
Bệnh viện Đại học Y Dược Huế để soi cổ tử cung 
và nếu có tổn thương nghi ngờ thuộc nhóm II, III 
theo danh pháp IFCPC 2002 thì bấm sinh thiết. 
Kết quả mô bệnh học được đánh giá theo phân 
loại của WHO [23]. Dựa vào kết quả đánh giá sau 
lần khám 2 để theo dõi và điều trị thích hợp.
Để thuận lợi việc đánh giá kết quả, chú ... tổn thương biểu mô cổ tử 
cung. Như vậy, kết quả của chúng tôi tương tự 
với đa số kết quả khác và phù hợp với y văn.
NguyễN Vũ QuốC huy, Lê MiNh TâM, TrươNg QuaNg ViNh, ĐặNg CôNg ThuậN, Cao NgọC ThàNh
iv. bàn luận
4.1. Đặc Điểm Đối tượng ngHiên cứu
4.1.1. Độ tuổi và sự liên quan với tổn thương 
biểu mô
Về phân bố các tổn thương theo nhóm 
tuổi, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số 
các trường hợp có tế bào học bất thường gặp 
nhiều ở phụ nữ trên 41 tuổi. Tỷ lệ LSIL gặp 
cao nhất ở nhóm tuổi 41-50 là 1,4%, HSIL chỉ 
thấy ở phụ nữ tuổi trên 31. Tuổi trung bình có 
tổn thương dựa trên chẩn đoán tế bào học là 
39,4 (bảng 3.7). Kết quả này khá phù hợp với 
kết quả của tác giả Bùi Thị Chi [4] và Nguyễn 
Thị Thơm [15]. 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
55
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 50-59, 2013
4.2. kết quả tế bào Học
4.2.1. Đánh giá chung các bất thường tế 
bào học và VIA
Dựa trên kết quả tế bào học của 1.139 phụ 
nữ được khám sàng lọc, chúng tôi phát hiện 
62 trường hợp có tổn thương tiền ung thư, 
không có trường hợp ung thư xâm lấn được 
ghi nhận. Tỷ lệ phát hiện tiền ung thư và ung 
thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào học 
của nghiên cứu chúng tôi là 5,44%, trong đó 
ASCUS/H có tỷ lệ là 3,07%, AGUS: 0,96%, LSIL: 
1,14%, HSIL: 0,26%.
Như vậy, có sự khác nhau về tỷ lệ tế bào học 
bất thường giữa các tác giả do sự khác nhau 
trong lựa chọn đối tượng nghiên cứu. Kết quả 
của chúng tôi là 5,44%, nằm trong khoảng dao 
động giữa các tác giả. Cả 2 nghiên cứu của 
chúng tôi và của Nguyễn Thị Thơm đều có đối 
tượng nghiên cứu là phụ nữ được khám sàng 
lọc trong cộng đồng. Do đó, tỷ lệ xét nghiệm 
tế bào học dương tính gần tương đương nhau 
là hợp lý.
Kết quả đánh giá trên lâm sàng với VIA cũng 
ghi nhận 88 trường hợp (chiếm 7,7%) có tổn 
thương bất thường hoặc nghi ngờ ung thư cổ 
tử cung. Tỷ lệ này có cao hơn so với kết quả tế 
bào học và một số trường hợp (1%) được nhận 
định nghi ngờ ung thư cổ tử cung (Bảng 3.3).
4.2.2. Đánh giá các tổn thương của kết quả tế 
bào học
Theo bảng 3.2, kết quả chẩn đoán tế bào 
học là ASCUS/H chiếm tỷ lệ cao nhất 3,07%. 
Tỷ lệ tổn thương LSIL là 1,14% và 0,26% là tỷ lệ 
của tổn thương HSIL trong tổng số l.139 phụ nữ 
được xét nghiệm tế bào. 
Tỷ số giữa tổn thương ASCUS/H và SIL (bao 
gồm LSIL và HSIL) là 2,1 (3,07%/1,4%). Hay 
nói cách khác, trên phương diện tế bào học 
cứ có 1 ca được chẩn đoán là SIL thì có hơn 
2 ca được chẩn đoán là ASCUS/H. Nhiều tác 
giả nhận định, tế bào lát không điển hình ý 
nghĩa không xác định (ASCUS) là một khoảng 
xám khó chịu giữa tổn thương sửa chữa lành 
tính và tân sinh trong biểu mô (SIL). Như vậy, 
trong nghiên cứu của chúng tôi, có gấp đôi 
số trường hợp chưa xác định chắc chắn có 
tổn thương tế bào lát hay không so với tổn 
thương thực sự.
Theo tác giả Trương Quang Vinh và Cao 
Ngọc Thành (năm 2010) trong một nghiên cứu 
271 phụ nữ có kết quả tế bào cổ tử cung bất 
thường, tỷ số giữa ASCUS và SIL là 0,35 (24,0%/
(46,5%+20,7%)) [19].
Theo nghiên cứu của tác Nguyễn Vũ Quốc 
Huy vào năm 2008, tỷ số giữa ASCUS và SIL là 
1,39 (8,8%/(2,7%+3,6%) [12].
STT Tác giả Năm Địa điểm Cỡ mẫu Tỷ lệ bất thường tế bào
1 Nguyễn Thị Trúc Hà [7] 2002 Bệnh viện 1.050 7,05%
2 Trần Thị Lợi [13] 2004 Cộng đồng 1.615 1,9%
3 Trần Thị Vân Anh [1] 2004 Bệnh viện 24.700 0,69%
4 Phạm Việt Thanh 2005 Bệnh viện 123.588 1,3%
5 Nguyễn Vũ Quốc Huy [12] 2008 Bệnh viện 1.125 17,6%
6 Bùi Thị Chi [4] 2008 Cộng đồng 8.627 2,1%
7 Nguyễn Thị Thơm [15] 2008 Cộng đồng 1.117 6,79%
8 Nghiên cứu này 2012 Cộng đồng 1.139 5,44%
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
56
Nghiên cứu của tác giả Trần Vân Anh cho 
biết, tỷ số giữa ASCUS và SIL là 0,57 [1] và theo 
Nguyễn Thị Thơm tỷ số này là 0,91 [15].
DeMay R dẫn số liệu từ kết quả điều tra của 
759 phòng xét nghiệm ở Mỹ cho thấy tỷ số giữa 
ASCUS và SIL là 1,55 [22].
Như vậy, có sự khác nhau của tỷ số ASCUS và 
SIL giữa các tác giả trong và ngoài nước. Theo 
phân loại hệ thống Bethesda 1991, tần suất các 
chẩn đoán ASCUS của tế bào học không nên 
vượt quá 2-3 lần các tổn thương nội biểu mô 
lát [24]. Kết quả của các tác giả khác đều không 
vượt quá khoảng giới hạn trên và kết quả của 
chúng tôi về tần suất chẩn đoán ASCUS/H gấp 
2,1 lần chẩn đoán SIL cũng được xem là chấp 
nhận được.
4.2.3. Đánh giá tỷ lệ phát hiện tổn thương trong 
biểu mô
Trong số 1.139 phụ nữ được khám sàng 
lọc, chúng tôi phát hiện có 16 trường hợp 
có tổn thương biểu mô lát SIL, chiếm tỷ lệ 
1,4%; trong đó LSIL là 1,14% và HSIL là 0,26% 
(bảng 3.5).
So sánh tỷ lệ phát hiện các tổn thương nội 
biểu mô và mức độ tổn thương của các tác giả 
trong và ngoài nước thể hiện ở bảng sau đây:
Tác giả Năm n SIL (%) LSIL (%) HSIL (%)
Trịnh Quang Diện [6] 1998 925 3,03 2,42 0,92
Nguyễn Thị Trúc Hà [7] 2002 1.050 4,57 2,19 2,10
Dương Thị Minh Diễm [5] 2005 525 1,14 0,76 0,38
Nguyễn Thị Thơm [15] 2008 1.117 3,13 2,33 0,81
Nguyễn Văn Bằng [2] 2009 17.272 1,43 1,05 0,38
Nguyễn Vũ Quốc Huy [12] 2008 1.125 6,3 2,7 3,6
Nghiên cứu này 2012 1.137 1,4 1,14 0,26
Bảng 4.1. Tỷ lệ phát hiện siL của nghiên cứu trong và ngoài nước
Qua bảng trên cho thấy, tỷ lệ phát hiện 
tổn thương SIL dao động từ 1,14% đến 
6,3%, tùy thuộc thời điểm và địa bàn nghiên 
cứu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu của 
người đọc. 
Kết quả của nghiên cứu này thấp hơn kết 
quả của tác giả Nguyễn Vũ Quốc Huy [12], 
Nguyễn Thị Trúc Hà [7]. Điều này cũng dễ 
hiểu bởi đối tượng khảo sát chúng tôi là phụ 
nữ trên cộng đồng được khám sàng lọc một 
cách ngẫu nhiên, còn đối tượng khảo sát của 
2 nghiên cứu này là phụ nữ đến khám phụ 
khoa tại bệnh viện. 
Xét về mặt tương đồng của thiết kế nghiên 
cứu, kết quả của chúng tôi có sự khác biệt 
1,73% về tỷ lệ phát hiện SIL, có ý nghĩa thông 
kê so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm 
(95%CI: 0,45% - 3,03%, p= 0,0087). Điều này có 
thể được lý giải là ở các vùng địa lý khác nhau, 
tần suất xuất hiện tổn thương SIL không giống 
nhau, ngay cả trong một nước. Mặt khác, do 
tập quán, lối sống, tình trạng kinh tế xã hội, ý 
thức và mức độ tự do tình dục của mỗi vùng 
cũng khác nhau. Hơn nữa, phương pháp lấy 
bệnh bệnh phẩm có thể chưa thống nhất giữa 
các tác giả. Tất cả những yếu tố trên đã ảnh 
hưởng đến tỷ lệ phát hiện bệnh.
NguyễN Vũ QuốC huy, Lê MiNh TâM, TrươNg QuaNg ViNh, ĐặNg CôNg ThuậN, Cao NgọC ThàNh
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
57
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 50-59, 2013
Trong nghiên cứu này, chúng tôi không 
gặp trường hợp nào là ung thư xâm lấn có 
thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn để có thể phát 
hiện được ung thư. Theo khảo sát của tác 
giả Nguyễn Văn Bằng [2] có 0,02% trường 
hợp ung thư được phát hiện trên 17.272 đối 
tượng nghiên cứu hay theo tác giả Nguyễn 
Vượng là 0,029% ở cộng đồng miền Bắc và 
0,06% ở cộng đồng miền Nam (Cần Thơ). 
Do đó, với cỡ mẫu của chúng tôi là 1.139 
người thì việc chưa phát hiện được trường 
hợp nào ung thư cổ tử cung cũng là điều 
phù hợp.
4.3. giá tRị cHẩn Đoán của tế bào Học
4.3.1. sự phù hợp giữa tế bào học và mô 
bệnh học
Xét nghiệm tế bào học được xem là 
phương tiện chủ yếu tầm soát bệnh lý ác tính 
cổ tử cung. Khi bệnh nhân được điều trị dựa 
trên cơ sở chẩn đoán của mô bệnh học thì 
tế bào học được dùng để theo dõi tiến triển 
bệnh. Mô bệnh học được xem là tiêu chuẩn 
vàng khẳng định chẩn đoán, từ đó có hướng 
điều trị thích hợp cho bệnh nhân. 
Qua bảng 3.5 cho thấy, tỷ lệ phù hợp 
chung của chẩn đoán tế bào học dương 
tính so với chẩn đoán mô bệnh học là 80% 
(16/20), trong đó chẩn đoán SIL có tỷ lệ phù 
hợp là 100%. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ sinh 
thiết 36 trường hợp trong số 62 trường hợp 
có kết quả tế bào học dương tính được tái 
khám do quyết định sinh thiết dựa vào bất 
thường qua khám lâm sàng và soi cổ tử 
cung ở lần khám thứ 2. So với một số nghiên 
cứu khác, tỷ lệ phù hợp trong chẩn đoán tế 
bào thay đổi từ 86,2% (56/65) [12], 77,1% 
(47/61) [7], 90,47% (760/840) [17], hay phân 
biệt rõ tỷ lệ phù hợp trong phát hiện ung 
thư tế bào lát là 95%, ung thư tế bào tuyến 
là 93%, HSIL là 80%, LSIL là 40% [9].
4.3.2. giá trị chẩn đoán của tế bào học
Theo y văn, mô bệnh học là tiêu chuẩn 
vàng để chẩn đoán xác định bệnh. Từ bảng 
3.6, giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế bào 
học của nghiên cứu chúng tôi gồm độ nhạy 
72,7%, độ đặc hiệu 71,4%; độ chính xác 
72,2%; giá trị tiên đoán dương 80,0% và giá 
trị tiên đoán âm 62,5%
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Trúc Hà ghi 
nhận độ nhạy của tế bào học là 93,6% và giá 
trị dự báo dương là 72,1% [7]. Nghiên cứu 
của Trang Trung Trực có độ nhạy là 92,01%, 
độ đặc hiệu là 84,31% và tỷ lệ âm tính giả 
là 13,31% [17]. So với 2 kết quả trên, kết 
quả của chúng tôi có độ nhạy thấp hơn, tuy 
nhiên giá trị tiên đoán dương cao hơn kết 
quả của Nguyễn Thị Trúc Hà.
Giá trị của xét nghiệm tế bào bị ảnh 
hưởng bởi các yếu tố kỹ thuật lấy mẫu, xử 
lý và bảo quản mẫu, kinh nghiệm của người 
đọc tế bào. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ âm 
tính giả của tế bào học là 37,5% (6/16), một 
tỷ lệ hơi cao so với tỷ lệ âm tính giả tốt 
nhất ở trong giới hạn 5-10%. Chính vì vậy 
nên phối hợp nhiều kỹ thuật sàng lọc cùng 
nhau và cần lặp lại xét nghiệm tế bào học 
để giảm bớt các trường hợp âm tính giả. 
Khoảng thời gian giữa các lần xét nghiệm 
càng ngắn thì tỷ lệ ung thư càng giảm đi. 
Thống kê của IARC (International Agency 
for Reseach on Cancer) cho thấy, nếu thời 
gian giữa hai lần xét nghiệm tế bào cách 
nhau một năm giảm tỷ lệ ung thư cổ tử 
cung cộng dồn đạt đến 93,5%. Vì vậy, các 
tác giả khuyến cáo khoảng cách hai lần xét 
nghiệm là từ 6-12 tháng [12].
v. Kết luận
Xét nghiệm tế bào học trong việc phát 
hiện các tổn thương tiền ung thư và ung 
thư cổ tử cung có độ nhạy và độ đặc hiệu 
khá cao nên có thể áp dụng trong sàng lọc 
trên diện rộng cộng đồng, cũng như ở các 
phòng khám chuyên khoa. Tuy nhiên tỷ lệ 
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
58
âm tính giả còn cao do nhiều yếu tố ảnh 
hưởng nên cần phối hợp nhiều biện pháp 
khác nhau và có thể chỉ định lặp lại xét 
nghiệm tế bào học để tăng hiệu quả sàng 
lọc nếu các phương pháp sàng lọc khác 
không có sẵn.
Lời cảm ơn:
Đây là kết quả của đề tài khoa học công 
nghệ cấp Tỉnh, mã số TTH.2010-KC.12, được 
ngân sách nhà nước Tỉnh Thừa Thiên Huế 
đầu tư. 
Tài liệu Tham khảo
1. Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Vạn 
Thông (2005), “Đặc điểm tế bào - giải 
phẫu bệnh của các tổn thương cổ tử 
cung”,Y học Tp Hồ Chí Minh, 9(1), pp. 
176 – 178.
2. Nguyễn Văn Bằng (2009), Vai trò 
của nữ hộ sinh trong chương trình phát 
hiện sớm ung thư cổ tử cung tại cộng 
đồng, available from: 
org.vn/index.php?c at_id=86&id=49, 
ngày truy cập 12/10/2012.
3. Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược 
Tp Hồ Chí Minh (2007), “Ung thư cổ tử 
cung”, Sản phụ khoa Tập 2, pp. 803-810.
4. Bùi Thị Chi, Nguyễn Dung, Nguyễn 
Vũ Quốc Huy,và cs (2010), “Đánh giá kết 
quả tầm soát ung thư cổ tử cung tại cộng 
đồng 19 xã 2 huyện Phú Vang và Hương 
Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế”,Tập san Hội 
nghị phòng chống ung thư phụ khoa lần 
V, năm 2010, pp. 61-79.
5. Dương Thị Minh Diễm, Nguyễn Vũ 
Quốc Huy, Tôn Nữ Minh Quang (2005), 
“Giá trị chẩn đoán của phương pháp 
quan sát cổ tử cung sau bôi acid axêtic 
trong các thương tổn lành tính và ác 
tính cổ tử cung”,Y học thực hành, 522, 
pp. 582-588.
6. Trịnh Quang Diện, Lê Trung Thọ, 
Nguyễn Thúy Hương (1999), “Sàng lọc tế 
bào học phát hiện sớm các tân sản nội 
biểu mô và ung thư cổ tử cung ở cộng 
đồng”,Y học Việt Nam, Chuyên đề Giải 
phẫu bệnh Y pháp, pp. 20-23.
7. Nguyễn Thị Trúc Hà (2002), Góp 
phần phát hiện tổn thương tiền ung thư 
và ung thư cổ tử cung tại Khoa Phụ Sản 
Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn 
Thạc sĩ y học, Đại học Y Dược Huế.
8. Đặng Lê DungHạnh (2004), “Giá 
trị của phết tế bào âm đạo/cổ tử cung, 
soi cổ tử cung và sinh thiết cổ tử cung 
qua soi trong chẩn đoán bệnh lý cổ tử 
cung”,Tạp chí Thời sự Y Dược Học.
9. Nguyễn Chấn Hùng, Eric Suba, cs 
(2000), “Chương trình Việt-Mỹ thí điểm 
phòng chống ung thư cổ tử cung: Những 
kết quả và kinh nghiệm”,Y học TP. Hồ 
Chí Minh, 4(4), pp. 20-30.
10. Nguyễn Vũ QuốcHuy (2010), “Dự 
phòng ung thư cổ tử cung dựa trên bằng 
chứng cập nhật 2010”,Tạp chí phụ sản, 
8(2,3), pp. 31-39.
11. Nguyễn Vũ QuốcHuy (2006), 
“Tiếp cận phòng chống ung thư cổ tử 
cung theo hướng cộng đồng”,Y học 
thực hành 550, pp. 33-44.
12. Nguyễn Vũ Quốc Huy (2008), 
“Phát hiện thương tổn tiền ung thư và 
ung thư cổ tử cung bằng phương pháp 
quan sát cổ tử cung sau bôi acetic acid 
“,Tạp chí Phụ Sản, 7(2), pp. 58-65.
13. Trần Thị Lợi, Bùi Thị Hồng Nhu 
(2004), “Tầm soát ung thư cổ tử cung ở 
phụ nữ quanh tuổi mãn kinh tại Tp Hồ 
Chí Minh”,Y học Tp Hồ Chí Minh, 8(1), 
pp. 116-119.
14. PATH (2007), “Thông tin cập nhật 
về sàng lọc ung thư cổ tử cung”,Outlook, 
23(1), pp. 3.
15. Nguyễn Thị Thơm (2008), Nghiên 
cứu tỷ lệ tổn thương nội biểu mô cổ tử 
cung qua sàng lọc tế bào phụ khoa tại 
NguyễN Vũ QuốC huy, Lê MiNh TâM, TrươNg QuaNg ViNh, ĐặNg CôNg ThuậN, Cao NgọC ThàNh
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
59
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 50-59, 2013
một số cộng đồng, Luận văn Thạc sĩ y 
khoa, Đại học Y Hà Nội.
16. Nguyễn QuốcTrực, Nguyễn Văn 
Thành, Trần Thị Diễm Trang, cs (2004), 
“Chẩn đoán và điều trị các tổn thương 
tiền ung thư”,Y học Tp Hồ Chí Minh, 
7(4), pp. 424-433.
17. Trang Trung Trực, Nguyễn Thị 
Loan Anh, Nguyễn Thị Kim Hoa, cs 
(2004), “Độ chính xác của phết tế bào 
cổ tử cung tại bệnh viện Từ Dũ năm 
2003”,Nội san Sản Phụ Khoa, Hội nghị 
Sản Phụ Khoa năm 2004, pp. 341-346.
18. Nguyễn SàoTrung, Hứa Thị Ngọc 
Hà (2008), “Ung thư cổ tử cung: phát 
hiện và phòng ngừa”,Y học Tp Hồ Chí 
Minh, 12(2), pp. 68-69.
19. Trương QuangVinh, Cao Ngọc 
Thành (2010), “Nghiên cứu đặc điểm 
lâm sàng và cận lâm sàng ở các phụ nữ 
có tổn thương tiền ung thư và ung thư 
cổ tử cung”,Tạp chí Phụ Sản, 8(4/2010), 
pp. 60-68.
20. Addis B.I., Hatch D.K., Berek 
S.J. (2007), “Intraepithelial Disease of 
the Cervix, Vagina, and Vulva”, Berek 
& Novak’s Gynecology 14th edition, 
Jonathan S. Berek, Lippincott William & 
Wilkins, pp. 562 – 592.
21. Bidus A.M., Elkas C.J. (2007), 
“Cervical and Vaginal Cancer”, Novak’s 
Gynecology 14th edition, Jonathan S. 
Berek, Lippincontt William & Wilkins, 
pp. 1403-1456.
22. DeMay M.R. (2005), “An overview 
of Bethesda System”, The Pap Test: 
Exfoliative Gynecologic Cytology, 
Chicago: ASCP Press, pp. 235-244.
23. Kufe D.W, Pollock R.E, 
Weichselbaum R.R, et al.Histologic 
classification of epithelial tumors [cited 
2012 21/10]; avaible from:
ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK12450/
24. Sherman E.M, Abdul-Karim 
W.F, Berek S.J, et al (2004), “Atipycal 
Squamous Cells”, The Bethesda Sytem 
for Reporting Cervical Cytology, Diane 
Solomon and Ritu Nayar, Spinger, pp. 
67-89.
25. WHO (2006), “Screening for 
cervical cancer”, Comprehensive 
cervical cancer control. A Guide to 
Essential Practice, World Health 
Organization 2006, pp. 79-105.

File đính kèm:

  • pdfsang_loc_ton_thuong_tien_ung_thu_va_ung_thu_co_tu_cung_bang.pdf