Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019
Đặt vấn đề: Trầm cảm sẽ là một trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu. Người cao tuổi mang nhiều
yếu tố nguy cơ của rối loạn trầm cảm và có khoảng 15% người cao tuổi trong cộng đồng bị rối loạn trầm cảm.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân
Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên toàn bộ 242 người cao tuổi tại xã
Tân Hưng, Đồng Phú, Bình Phước từ tháng 10/2018 đến tháng 6/2019. Tất cả đối tượng thỏa tiêu chí và đồng ý
tham gia nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng câu hỏi soạn sẵn. Thang đo GDS-15 dùng để đánh
giá rối loạn trầm cảm.
Bạn đang xem tài liệu "Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019

Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 55 RỐI LOẠN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ TÂN HƯNG, HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC NĂM 2019 Lục Sơn Hải*, Kim Xuân Loan* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Trầm cảm sẽ là một trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu. Người cao tuổi mang nhiều yếu tố nguy cơ của rối loạn trầm cảm và có khoảng 15% người cao tuổi trong cộng đồng bị rối loạn trầm cảm. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên toàn bộ 242 người cao tuổi tại xã Tân Hưng, Đồng Phú, Bình Phước từ tháng 10/2018 đến tháng 6/2019. Tất cả đối tượng thỏa tiêu chí và đồng ý tham gia nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng câu hỏi soạn sẵn. Thang đo GDS-15 dùng để đánh giá rối loạn trầm cảm. Kết quả: Kết quả phân tích trên 217 đối tượng thỏa tiêu chí đưa vào, tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi là 20,7%. Các yếu tố được tìm thấy trong mô hình đa biến có liên quan đến tỷ lệ rối loạn trầm cảm là: có xung đột với những người thân trong gia đình, người dân tộc thiểu số, có lo lắng về vấn đề người chăm sóc khi bệnh, có giới hạn vận động và chất lượng cuộc sống. Kết luận: Gia đình, chính quyền địa phương cần có những hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc nhiều hơn đối với những người cao tuổi, đặc biệt là những người cao tuổi dân tộc thiểu số hoặc có kèm theo các yếu tố liên quan được tìm thấy bởi vì họ là những đối tượng có nguy cơ bị rối loạn trầm cảm cao. Từ khóa: trầm cảm, người cao tuổi, GDS-15 ABSTRACT DEPRESSION AND ASSOCIATED FACTORS IN ELDERLY PEOPLE IN TAN HUNG COMMUNE, DONG PHU DISTRICT, BINH PHUOC PROVINCE IN 2019 Luc Son Hai, Kim Xuan Loan * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 55 - 63 Background: Depression will be one of the most common global illnesses. Elderly people have many risk factors for depression and about 15% of the elderly in the community are depressed. Objectives: To determine the prevalence of depressive disorders and related factors in the elderly in Tan Hung commune, Dong Phu district, Binh Phuoc province in 2019. Methods: A cross-sectional study was conducted in all 242 elderly people in Tan Hung commune, Dong Phu district, Binh Phuoc province from October 2018 to June 2019. All subjects who met the criteria and agreed to participate in the study were interviewed directly based on a prepared questionnaire. The GDS-15 scale was used to assess depressive disorders. Results: From the analysis on 217 subjects who met the inclusion criteria, the rate of depressive disorder in the elderly was 20.7%. Factors found in the multivariate model that were associated with depression rates were: conflict with family members, ethnic minorities, and anxiety about caregivers when having illness, limitation of *Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Lục Sơn Hải ĐT: 0984975407 Email: lsonhaibp94@gmail.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 56 activeness and quality of life. Conclusion: Families and local authorities should provide more support, attention and care for the elderly, especially the ethnic minorities or with relevant factors found, because they are subjects at high risk for depression disorders. Key words: depression, elderly, GDS-15 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự già hóa dân số đang ngày càng gia tăng trên các quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển(1). Trên thế giới một năm trung bình cứ chín người có một người từ 60 tuổi trở lên(2). Tại Việt Nam, năm 2017 những người 60 tuổi trở lên chính thức đạt tỷ lệ 10% trên tổng dân số và từ đó Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa(3). Tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng, sẽ làm gia tăng gánh nặng về kinh tế, xã hội và đặc biệt là ngành y tế để duy trì ổn định cuộc sống khỏe mạnh cho nhóm người cao tuổi(4). Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), dự đoán đến năm 2020 trầm cảm sẽ là một trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu người mắc bệnh, cụ thể hơn, có 1 trong 10 người từng trải qua giai đoạn trầm cảm trong suốt cuộc đời(5). Tại Việt Nam theo báo cáo của Viện Sức khỏe tâm Thần cho thấy có 30% dân số Việt Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%. Theo một nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam năm 2008, trầm cảm đứng thứ 2 trong nhóm 10 nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật, chỉ đứng sau đột quỵ(6). Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, được đặc trưng bởi nỗi buồn dai dẳng và mất hứng thú(7), một số nghiên cứu trong nước cũng cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi vào những năm 2016-2017 là khoảng 17,3-22,4%(8,9). Theo bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 15% người cao tuổi trong cộng đồng bị rối loạn trầm cảm(10). Xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 40,8%, trong đó tổng số người cao tuổi chiếm 7,1%. Đây là một xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, kinh tế còn khó khăn nên khả năng tiếp cận thông tin cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở đối tượng người cao tuổi rất dễ bị bỏ qua các vấn đề sức khỏe khi không có được điều kiện chăm sóc đầy đủ. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về trầm cảm trên người cao tuổi nhưng chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm ở người cao tuổi tại những vùng có nhiều người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn cho đến thời điểm hiện tại. Do vậy nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại đây, với mong muốn kết quả sẽ góp phần cơ sở dữ liệu, giúp nâng cao sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại đây. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Những người cao tuổi (≥60 tuổi) đang sống và cư trú tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đồng ý tham gia vào nghiên cứu từ tháng 10/2018 đến tháng 06/2019. Tiêu chuẩn loại trừ Các đối tượng không thể nghe nói hoặc có các rối loạn tâm thần thực thể đã được chẩn đoán bởi nhân viên y tế trước đó được loại ra khỏi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang. Phương pháp chọn mẫu Chọn mẫu toàn bộ người cao tuổi, dựa theo danh sách 242 người cao tuổi từ Hội người cao tuổi xã Tân Hưng, có 6 đối tượng không đạt tiêu chuẩn tham gia, 19 đối tượng không còn sinh sống ở địa phương vì vậy tổng số mẫu thu thập sau cùng là 217 người. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 57 Thu thập dữ liệu Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt bằng bộ hỏi câu phỏng vấn có cấu trúc được soạn sẵn. Công cụ thu thập là bộ câu hỏi gồm 4 phần: thông tin cơ bản, tình trạng sức khỏe, mối quan hệ gia đình – kinh tế, thang đo trầm cảm GDS – 15. Thang đo trầm cảm GDS – 15 Thang đo đánh giá trầm cảm GDS – short form (Geriatric Depression Scale - short form) là thang đo sàng lọc tốt đối với rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi, nhiều nghiên cứu đánh giá tính hợp lệ và độ tin cậy của thang đo GDS – 15 trên đối tượng người cao tuổi cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu cao đến 95-97%, hệ số Cronbach alpha cho tổng thang đo là 0,92(11,11). Thang GDS – 15 bao gồm 15 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 2 câu trả lời “Có” (1 điểm) hoặc “Không” (0 điểm). Đối với các câu 1 (nhìn chung ông/bà có hài lòng với cuộc sống của mình không?); Câu 5 (ông/bà có thường xuyên cảm thấy tinh thần thoải mái không?); Câu 7 (ông/bà có thường xuyên cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc không); Câu 11 (ông/bà có cảm thấy hiện tại được sống là tuyệt diệu không); Câu 13 (ông/bà có cảm thấy khỏe mạnh, nhiều sinh lực không?) cần được đảo ngược số điểm trước khi tính tổng điểm vì những câu này đánh giá triệu chứng tích cực. Một cá nhân được cho là có trầm cảm nếu tổng điểm số của 15 câu trả lời ≥6(13). Các biến số về gia đình bao gồm nhu cầu cần hỗ trợ (có-không); loại nhu cầu hỗ trợ (vật chất: tiền, thuốc, đồ dùng sinh hoạt; tinh thần: chia sẻ, động viên; chăm sóc: tắm rửa, nấu ăn; khác), xung đột trong gia đình (có-không); vấn đề xung đột (bất đồng ý kiến, cãi vã, bạo lực gia đình). Để kiểm soát các sai lệch, nghiên cứu viên dựa vào danh sách người cao tuổi địa phương quản lý cung cấp và đến đúng nhà theo sự dẫn đường của người tại địa phương. Nghiên cứu viên trình bày về nội dung cuộc khảo sát và nói to rõ để tránh nghe không rõ, luôn có người phiên dịch hỗ trợ đi cùng nghiên cứu viên cho đối tượng là người dân tộc thiểu số có hạn chế về nghe hiểu tiếng Kinh. Cuộc phỏng vấn kết thúc sau khi được kiểm tra tính hoàn tất của dữ liệu. Phân tích dữ liệu Mô tả bằng tần số với tỉ lệ % các biến định tính hoặc danh định gồm biến số nền; biến số về mối quan hệ trong gia đình; biến số về tình trạng sức khỏe; biến số về rối loạn trầm cảm. Sử dụng kiểm định chi bình phương để xét mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm và các đặc điểm của dân số mẫu, các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe của đối tượng, và các yếu tố có liên quan đến tình trạng gia đình của đối tượng. Nếu trên 20% tổng số các ô có vọng trị nhỏ hơn 5 hoặc có 1 ô giá trị < 1 thì kiểm định Fisher được chọn để thay thế cho kiểm định chi bình phương. Kiểm định chi bình phương khuynh hướng cũng được sử dụng để xét mối liên quan giữa các biến độc lập (thứ tự) mang tính khuynh hướng với rối loạn trầm cảm. Tỷ số tỷ lệ hiện mắc PR (Prevalance Ratio) và khoảng tin cậy 95% được sử dụng để xác định độ lớn của các mối liên quan được khảo sát. Hồi quy tuyến tính tổng quát (Poisson) để tìm các yếu tố thực sự có liên quan đến rối loạn trầm cảm. Y đức Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới số: 133/ĐHYD-HĐĐĐ ngày 26/3/2019. KẾT QUẢ Nghiên cứu được thực hiện trên người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Số mẫu thu thập được thỏa tiêu chí đưa vào là 217 mẫu. Kết quả phân tích sau cùng được trình bày với 217 đối tượng. Kết quả Bảng 1 cho thấy tỷ lệ nữ trong nghiên cứu là 58,9%. Phần lớn các đối tượng nghiên cứu nằm trong nhóm tuổi từ 60-69. Gần 1/2 các đối tượng tham gia nghiên cứu là người dân tộc thiểu số, các đối tượng chưa hoàn thành tiểu học chiếm hơn 50%. Phần lớn đã kết hôn (70,5%). Nghề nghiệp chiếm đa số là nghề làm Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 58 nông (56,2%). Hầu hết các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đang sống với gia đình (92,6%). Tỷ lệ các đối tượng có nhu cầu cần được hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình chiếm tương đối cao 60,8%, trong đó nhu cầu hỗ trợ về mặt tinh thần (tâm sự, chia sẻ, động viên) chiếm đa số (96,2%). Tỷ lệ các đối tượng có xung đột với người thân chiếm 18,4%. Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=217) Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%) Giới tính (Nữ) 128 58,9 Mắc bệnh mạn tính (Có) 157 72,4 Nhóm tuổi Đang uống thuốc điều trị (n=157) (Có) 114 72,6 60-69 149 68,6 Lo lắng bệnh (n=157) (Có) 67 42,7 70-79 54 24,9 Nguyên nhân lo lắng (n=67) ≥80 14 6,5 Sợ bệnh nặng 51 76,1 Dân tộc (Kinh) 116 53,4 Lo lắng về tiền chữa bệnh 40 59,7 Trình độ học vấn Lo lắng về người chăm sóc 30 44,8 Mù chữ 26 12,0 Sợ chết 8 12 Tiểu học 95 43,8 Bệnh mạn tính đi kèm (Có) THCS 70 32,3 Tim mạch 97 44,7 THPT 23 10,6 Cơ xương khớp 94 43,3 TC/CĐ/ĐH 3 1,3 Tiêu hóa 28 12,9 Tình trạng hôn nhân Thần kinh – não bộ 22 10,1 Đã kết hôn 153 70,5 Tiểu đường 22 10,1 Góa chồng/vợ 59 27,2 Hô hấp 9 4,2 Ly dị/ly thân 5 2,3 Gan mật tụy 7 3,2 Thu nhập cá nhân (Có) 169 77,9 Thận 6 2,8 Tình trạng nghề nghiệp Bệnh khác* 14 6,5 Làm nông 122 56,2 Mất ngủ (Có) 118 54,4 Không làm gì 72 33,2 Tần suất mất ngủ (n=118) Nghề khác 23 10,6 Thỉnh thoảng 66 55,9 Tự đánh giá kinh tế Thường xuyên 39 33,1 Khá giả 25 11,5 Mỗi ngày 13 11,0 Đủ sống 162 74,7 Đánh giá sức khỏe Khó khăn 30 13,8 Rất không hài lòng 2 0,9 Người đang sống cùng Không hài lòng 37 17,1 Sống một mình 16 7,4 Bình thường 91 41,9 Sống với gia đình 201 92,6 Hài lòng 84 38,7 Nhu cầu cần hỗ trợ (Có) 132 60,8 Rất hài lòng 3 1,4 Nhu cầu cần hỗ trợ Đánh giá chất lượng cuộc sống Tinh thần 127 96,2 Rất kém 3 1,4 Vật chất 113 85,6 Kém 32 14,8 Chăm sóc 68 51,5 Bình thường 98 45,2 Nhận được hỗ trợ (Có) 150 69,1 Tốt 83 38,2 Xảy ra xung đột (Có) 40 18,4 Rất tốt 1 0,4 Vấn đề xung đột (n=40) Giới hạn vận động Bất đồng ý kiến 37 92,5 Không có khó khăn 158 72,8 Cãi vã 20 50 Thỉnh thoảng khó khăn 36 16,6 Không đi lại được nhiều 21 9,7 Có rối loạn trầm cảm (≥6) 45 20,7 Hoàn toàn không đi lại được 2 0,9 Hơn 70% các đối tượng đang mắc ít nhất một loại bệnh mạn tính. Bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ mắc cao nhất là bệnh tim mạch (44,7%). Có 42,7% đối tượng có tình trạng lo lắng về bệnh tật của mình. Sợ bệnh nặng là nguyên nhân lo lắng chiếm đa số (76,1%), tiếp đến là lo lắng về tiền chữa bệnh (59,7%) và lo lắng về người chăm sóc khi bệnh (44,8%). Phần lớn các đối tượng tham Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 59 gia không có khó khăn trong đi lại, sinh hoạt. Dựa vào thang đo GDS – 15, trong 217 người tham gia nghiên cứu, với ngưỡng cắt là 6 thì có 45 đối tượng được xác định là có rối loạn trầm cảm, chiếm 20,7%. Các yếu tố về đặc tính dân số có liên quan đến rối loạn trầm cảm được trình bày ở Bảng 2. Cụ thể, những người cao tuổi là nữ, dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, li dị/li thân/góa, kinh tế ở mức thấp, không hài lòng về sức khỏe và có chất lượng cuộc sống thấp có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn. Bảng 2: Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan đến đặc tính dân số (n=217) Đặc tính Rối loạn trầm cảm Giá trị p PR (KTC=95%) Có Tần số (%) n=45 Không Tần số (%) n=172 Giới tính Nữ 36 (28,1) 92 (71,9) 1 Nam 9 (10,1) 80 (89,9) 0,001 0,36 (0,18-0,71) Dân tộc Kinh 15 (12,9) 101 (87,1) 1 Dân tộc thiểu số* 30 (29,7) 71 (70,3) 0,002 2,29 (1,31-4,02) Trình độ học vấn Dưới THCS 36 (29,7) 85 (70,3) 1 Từ THCS trở lên 9 (9,4) 87 (90,6) <0,001 0,32 (0,16-0,62) Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 19 (12,4) 134 (87,6) - 1 Ly dị/ly thân/góa 26 (40,6) 38 (59,4) <0,001 3,27 (1,95-5,47) Mức thu nhập <1 triệu 20 (30,8) 45 (69,2) 0,001 a 1 1-3 triệu 23 (20,5) 89 (79,5) 0,53 (0,36-0,76) >3 triệu 2 (5,0) 38 (95,0) 0,28 (0,13-0,58) Tự đánh giá kinh tế Khá giả 1 (4,0) 24 (96,0) <0,001 a Đủ sống 25 (15,4) 137 (84,6) 4,07 (2,65-6,28) Khó khăn 19 (63,3) 11 (36,7) 16,62 (7,01-39,38) Đánh giá về sức khỏe Rất không hài lòng 1 (50,0) 1 (50,0) - 1 Không hài lòng 24 (64,9) 13 (35,1) 0,717 1,29 (0,32-5,31) Bình thường 14 (15,4) 77 (84,6) 0,116 0,31 (0,07-1,34) Hài lòng 6 (7,1) 78 (92,9) 0,016 0,14 (0,03-0,70) Đánh giá CLCS Rất kém 3 (100) 0 <0,001 a Kém 18 (56,2) 14 (43,8) 0,32 (0,26-0,40) Bình thường 23 (23,5) 75 (76,5) 0,10 (0,07-0,16) Tốt 1 (1,2) 82 (98,8) 0,03 (0,02-0,07) Rất tốt 0 1 (100) 0,01 (0,00-0,03) *Dân tộc thiểu số: tày, nùng, khơ me, chơ ro, hoa, mường a: có tính khuynh hướng Bảng 3 cho thấy những người hiện đang sống cùng gia đình có tỷ lệ rối loạn trầm cảm là 18,4%, thấp hơn 0,37 lần hoặc giảm 63% (PR=0,37) so với những người không sống cùng gia đình (50%) với KTC 95% từ 0,21 – 0,65 và p=0,003. Những người cần sự hỗ trợ có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao gấp 3,49 lần so với những người không cần hỗ trợ với p <0,001. Những người có xung đột có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao gấp 2,21 lần so với những người không có xung đột (p=0,004). Những người có bệnh mạn tính đi kèm, đang uống thuốc điều trị bệnh mạn tính, có tình trạng lo lắng về bệnh, có mất ngủ có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn những người không có Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 60 những đặc điểm này với p lần lượt là 0,001; 0,033; <0,001; <0,001. Những người có giới hạn vận động ở mức càng cao có tỷ lệ rối loạn trầm cảm càng cao. Bảng 3: Trầm cảm và các yếu tố liên quan đến quan hệ gia đình và yếu tố sức khỏe (n=217) Đặc tính Rối loạn trầm cảm Giá trị p PR (KTC=95%) CóTần số (%) n=45 KhôngTần số (%) n=172 Sống cùng gia đình Không 8 (50,0) 8 (50,0) 1 Có 37 (18,4) 164 (81,6) 0,003 0,37 (0,21-0,65) Cần sự hỗ trợ Không 7 (8,2) 78 (91,8) 1 Có 38 (28,8) 94 (71,2) <0,001 3,49 (1,64-7,46) Xảy ra xung đột Không 30 (16,9) 147 (83,1) 1 Có 15 (37,5) 25 (62,5) 0,004 2,21 (1,32-3,71) Bệnh mạn tính đi kèm Không 4 (6,7) 56 (93,3) 1 Có 41 (26,1) 116 (73,9) 0,001 f 3,92 (1,47-10,46) Hiện đang điều trị bệnh mạn tính Không 15 (14,6) 88 (85,4) 1 Có 30 (26,3) 84 (73,7) 0,033 1,81 (1,03-3,16) Lo lắng về bệnh Không 18 (12,0) 132 (88,0) 1 Có 27 (40,3) 40 (59,7) <0,001 3,36 (1,99-5,66) Nguyên nhân lo lắng Lo lắng về người CS Không 26 (13,9) 161 (85,1) 1 Có 19 (63,3) 11 (36,7) <0,001 4,55 (2,91-7,13) Lo lắng về tiền chữa bệnh Không 23 (13,0) 154 (87,0) 1 Có 22 (55,0) 18 (45,0) <0,001 4,23 (2,64-6,79) Sợ chết Không 40 (19,1) 169 (80,9) 1 Có 5 (62,5) 3 (37,5) 0,011 f 3,27 (1,78-5,98) Mất ngủ Không 9 (9,1) 90 (90,9) 1 Có 36 (20,5) 82 (69,5) <0,001 3,35 (1,70-6,62) Giới hạn vận động Không có khó khăn 25 (15,8) 133 (842) <0,001 a Thỉnh thoảng khó khăn 9 (25,0) 27 (75,0) 1,66 (1,28-2,15) Không đi lại được nhiều 10 (47,6) 11 (52,4) 2,75 (1,63-4,63) Hoàn toàn không đi lại được 1 (50,0) 1 (50,0) 4,55 (2,08-9,96) Tập thể dục Không 41 (23,7) 132 (76,3) 1 Có 4 (9,1) 40 (90,9) 0,037f 0,38 (0,15-1,01) a: Có tính khuynh hướng f: Kiểm định Fisher Bảng 4: Mô hình hồi quy đa biến Poisson giữa rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan (n=217) Đặc tính PRhc KTC95% Phc Có xung đột 1,72 1,08 – 2,74 0,020 Dân tộc thiểu số 1,84 1,13 – 2,99 0,014 Có lo lắng về người CS khi bị bệnh 2,58 1,61 – 4,15 <0,001 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 61 Đặc tính PRhc KTC95% Phc Giới hạn vận động Không có khó khăn 1 - - Thỉnh thoảng khó khăn 0,53 0,30 – 0,93 0,028 Không đi lại được nhiều 1,85 1,09 – 3,16 0,023 Hoàn toàn không đi lại được 3,00 1,52 – 5,92 0,001 Chất lượng cuộc sống 0,38 0,29 – 0,51 <0,001 Phân tích mô hình đa biến Poisson cho thấy: Những người có xung đột, dân tộc thiểu số, có lo lắng về người chăm sóc khi bệnh, có giới hạn vận động, chất lượng cuộc sống kém có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn những người không có các đặc điểm này. Kết quả cụ thể được trình bày ở Bảng 4. BÀN LUẬN Rối loạn trầm cảm và các yếu tố dân số - kinh tế - xã hội Nghiên cứu này và các nghiên cứu khác cả trong nước và ngoài nước đều cho kết quả ở nữ cao tuổi có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn nam(14,15,16). Theo như kết quả phân tích của nghiên cứu hiện tại số nữ cao tuổi không có nghề nghiệp, không nguồn thu nhập, cần sự hỗ trợ, mắc các bệnh mạn tính đều chiếm tỷ lệ mắc cao hơn so với nam. Những điều này khả năng sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của họ. Người cao tuổi là người dân tộc thiểu số có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn so với người dân tộc kinh, có thể do một số vấn đề ở đồng bào dân tộc thiểu số như di cư tự phát, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt... được giải quyết chưa hiệu quả, đời sống còn nhiều khó khăn(17). Trình độ học vấn càng ở mức thấp thì tỷ lệ rối loạn trầm cảm càng cao. Nhiều nghiên cứu trước cũng cho biết trình độ học vấn thấp là yếu tố nguy cơ của trầm cảm(8,15,18). Tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao được thấy nhiều ở những người đã ly dị hoặc ly thân, tỷ lệ này thấp hơn ở những người đã kết hôn(8,14,19,20), khi một trong hai người họ mất đi có thể sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ ở người còn lại. Khi có thu nhập và kinh tế, mức độ hài lòng về sức khỏe và chất lượng cuộc sống càng thấp thì đồng nghĩa với việc họ phải phụ thuộc vào những người thân trong gia đình nhiều hơn, điều này sẽ tạo nhiều áp lực về tâm lý hơn nên càng có nguy cơ bị rối loạn trầm cảm nhiều hơn. Rối loạn trầm cảm và các mối quan hệ trong gia đình Nghiên cứu cho thấy những người sống cùng gia đình có tỷ lệ rối loạn trầm cảm thấp hơn so với những người không sống cùng gia đình. Khi sống cùng gia đình, người cao tuổi sẽ được các thành viên trong gia đình hỗ trợ về tinh thần, vật chất, tạo điều kiện để người cao tuổi có chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực hợp lý, trợ giúp đề phòng tai nạn và khám, chữa bệnh khi đau ốm(21). Tuy nhiên khi có xung đột với những người trong gia đình sẽ làm tăng nguy cơ trầm cảm cao gấp 2,21 lần. Điều này có thể do tâm lý người cao tuổi vốn dĩ đã phải phụ thuộc nhiều vào con cái và khi xảy ra thêm những vấn đề xung đột sẽ gia tăng thêm áp lực tâm lý cho họ. Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan đến sức khỏe Mắc bệnh mạn tính là một yếu tố nguy cơ có liên quan đến rối loạn trầm cảm mà nghiên cứu này đã tìm thấy và điều này cũng được thể hiện ở các nghiên cứu trước đây(9,22). Bệnh mạn tính là những bệnh kéo dài, khó có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn, ngoài ảnh hưởng đến sức khỏe còn gây thêm nhiều gánh nặng hơn về tâm lý vì phải gia tăng sự phụ thuộc vào gia đình. Lo lắng sợ bệnh nặng hoặc sợ chết, không đủ chi phí để chữa bệnh hoặc sợ không có người chăm sóc cũng là những lo lắng thường xảy ra ở người cao tuổi khi họ mắc bệnh mà nghiên cứu đã tìm thấy. Nghiên cứu cũng cho thấy những người mà có lo lắng khi bị bệnh sẽ có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn gấp 3,36 lần so với những người không có lo lắng. Kết quả nghiên cứu khác cũng tương đồng khi cho biết tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 62 nhóm có lo lắng cao gần gấp 3 lần so với nhóm lạc quan với tình trạng bệnh của bản thân(8). Những người có điều trị thuốc lại có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn những người không điều trị. Điều này giải thích có thể do những người điều trị thuốc là những người mắc những bệnh nghiêm trọng hơn hoặc bệnh đã mức độ nặng hơn. Việc được chẩn đoán và điều trị bệnh khi bệnh ở giai đoạn muộn có thể đã làm họ cảm thấy lo lắng hơn. Nghiên cứu này và nhiều nghiên cứu khác đều cho kết quả là những người bị mất ngủ có khả năng bị trầm cảm cao hơn(8,23). Mối liên quan giữa mất ngủ và trầm cảm có tính chất hai chiều, mất ngủ có thể gây trầm cảm và trầm cảm cũng có thể gây mất ngủ, hay nói cách khác mất ngủ vừa là nguyên nhân vừa là triệu chứng của trầm cảm(24). Những người càng bị giới hạn vận động thì tỷ lệ rối loạn trầm cảm càng cao. Những người không đi lại được nhiều hoặc những người không còn khả năng vận động thì họ chỉ còn phụ thuộc sự chăm sóc của những người thân trong gia đình. Mặt khác, họ sẽ bị hạn chế tiếp xúc với các môi trường, sinh hoạt bên ngoài xã hội. Cùng với đó những người cao tuổi không tập thể dục có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn so với những người có tập thể dục(8). Hạn chế của nghiên cứu là không thể kết luận về mối quan hệ nhân quả giữa rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan do là nghiên cứu cắt ngang. Nhiều câu hỏi có câu trả lời mang tính chủ quan theo cảm nhận của đối tượng. Tính chất địa bàn nơi thực hiện nghiên cứu đi lại khó khăn, nhiều nơi còn thuộc vùng sâu, vùng xa nên tỷ lệ mất mẫu cao (10,3%). KẾT LUẬN Tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, Đồng Phú, Bình Phước năm 2019 ở mức cao (20,7%) so với dân số chung và các yếu tố liên quan được tìm thấy trong mô hình đa biến là: có xung đột trong gia đình, là người dân tộc thiểu số, có lo lắng về vấn đề người chăm sóc khi bệnh, có giới hạn vận động và chất lượng cuộc sống thấp. Gia đình, chính quyền địa phương cần có những hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc đặc biệt hơn đối với những đối tượng có các đặc điểm này vì đây là những đối tượng có nguy cơ bị rối loạn trầm cảm cao. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. WHO (2017). World Population Ageing 2017. Department of Economic and Social Affairs Report, pp.4-5. 2. Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc(UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi quốc tế (2012). Già hóa trong Thế kỷ 21: Thành tựu và Thách thức. New York và HelpAge International, pp.3-5. 3. Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2011). Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam - Thực trạng, dự báo, kiến nghị và một số thách thức. Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc, pp.6. 4. Phạm Thắng, Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009). Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam. Tổng cục dân số Kế hoạch hóa gia đình, pp.12-13. 5. World Federation for Mental Health (2012). Depression: A Global Crisis. WHO, pp. 14-15. 6. Trang Nguyen Thi Mai, KL Tran, ML Bui (2014) Estimation of Vietnam national burden of disease 2008. Asia Pacific Journal of Public Health, Sep; 26(5):527-35 7. WHO (2017). Mental health: Depression let’s talk. URL: www.who.int/mental_health/management/depression/en/. 8. Nguyễn Ngọc Phương Nam (2017). Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bon tỉnh Đồng Nai. Khóa luận Tốt nghiệp Bác sỹ Y học Dự phòng, Khoa Y tế Công Cộng, Đại học Y dược TP. HCM. 9. Lê Thị Quý Như Ý, Huỳnh Ngọc Vân Anh, Tô Gia Kiên (2017) Trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, 21(1):244-251 10. Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh (2017). Vài điểm cần chú ý về trầm cảm ở người cao tuổi. URL: tphcm.org.vn/vai-diem-can-chu-y-ve-tram-cam-o-nguoi-cao- tuoi/. 11. Soysal P, Durmaz B, Ellidokuz H, Isik AT (2018). Validity and reliability of geriatric depression scale-15 (short form) in Turkish older adults. North Clin Istanb, 5(3):216-220. 12. Wang WL, Liang S, Zhu FL, Liu JQ, Wang SY, Chen XM, Cai GY (2019). The prevalence of depression and the association between depression and kidney function and health-related quality of life in elderly patients with chronic kidney disease: a multicenter cross-sectional study. Clin Interv Aging, 14:905-913. 13. Linda GM, Patrick JR, Martha LB (2008). Screening performance of the 15-item geriatric depression scale in a diverse elderly home care population. American Journal of Geriatric Psychiatry, 16(11):914-921. 14. Noori AD, Janet L (2007). "Relation between depression and sociodemographic factors". International Journal of Mental Health Systems, 1(1):4-4. 15. Fushimi M (2015) Prevalence of Depressive Symptoms and Related Factors in Japanese Employees: A Comparative Study between Surveys from 2007 and 2010. Psychiatry journal, pp.537073-537073. 16. Leggett A, Zarit SH., Nguyen NH, Hoang CN, Nguyen HT (2012). The influence of social factors and health on depressive symptoms and worry: a study of older Vietnamese adults. Aging & mental health, 16(6):780-786. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 63 17. Đảng ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2018). Đời sống đồng bào dân tộc thiểu còn nhiều khó khăn. URL: https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/doi-song-dong-bao-dan-toc-thieu- con-nhieu-kho-khan-1491848936. 18. Kim KW, Park JH, Kim M-H, et al (2012). A nationwide survey on the prevalence and risk factors of late life depression in South Korea. Journal of Affective Disorders, 138(1-2):34-40. 19. Williams K (2003) Has the Future of Marriage Arrived? A Contemporary Examination of Gender, Marriage, and Psychological Well-Being. Journal of Health and Social Behavior, 44(4):470–487. 20. Beach SRH, Whisman MA (2001). Marital and Family Processes in Depression: A Scientific Foundation for Clinical Practice. American Psychological Association, pp.259. 21. Lê Văn Khảm (2014). Vấn đề người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Khoa học Việt Nam, pp.79-80. 22. Nandini D, Martin GC (2003) Risk Factors for Depression Among Elderly Community Subjects: A Systematic Review and Meta-Analysi. American Journal of Psychiatry, 160(6):1147-56 23. Taylor DJ, Lichstein KL, Durrence HH, Reidel BW, Bush AJ (2005). Epidemiology of insomnia, depression, and anxiety. Sleep - New York the Westchester, 28(11):1457-64. 24. Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh (2017). Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu và mất ngủ. URL: tphcm.org.vn/moi-lien-quan-giua-tram-cam-lo-au-va-mat-ngu. Ngày nhận bài báo: 15/11/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020
File đính kèm:
roi_loan_tram_cam_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_nguoi_cao_tuoi_t.pdf