Rối loạn nội tiết sinh sản ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang

Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là bệnh lý nội

tiết phụ khoa thường gặp nhất, ước tính gặp trong khoảng 5-7% phụ nữ

ở độ tuổi sinh sản. Các phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang sẽ gia

tăng nguy cơ gặp các vấn đề về sinh sản bao gồm vô sinh, ung thư nội

mạc tử cung, mãn kinh muộn cũng như các rối loạn chuyển hóa, bao

gồm đề kháng Insuline, rối loạn mỡ máu và các bệnh lý tim mạch. Hội

chứng buồng trứng đa nang được báo cáo từ nhiều vùng khác nhau trên

thế giới, nhận thấy kiểu hình biểu hiện của buồng trứng đa nang thay

đổi theo chủng tộc. Tại Việt Nam còn rất ít nghiên cứu và dữ liệu liên

quan đến lâm sàng và nội tiết của HCBTĐN. Mục đích nghiên cứu này

nhằm xác định các đặc điểm lâm sàng và nội tiết của bệnh nhân vô sinh

có HCBTĐN tại miền Trung Việt Nam.

Đối tượng phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang 759 trường hợp

phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đến khám vô sinh và được chẩn đoán có

HCBTĐN theo Rotterdam (391) và không có HCBTĐN (368) tại 3 Trung

tâm hỗ trợ sinh sản chính ở khu vực miền Trung Việt Nam gồm Bệnh

viện Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Phụ

Sản Nhi Đà Nẵng, trong thời gian từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm

2017. Tiêu chuẩn nhận vào nhóm chứng gồm những phụ nữ đến khám

vô sinh, không có HCBTĐN, chu kỳ kinh nguyệt đều, không có bệnh lý

tại buồng trứng (khối u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung), tiền sử phẫu

thuật buồng trứng hay suy buồng trứng đã xác định. Các biến số lâm

sàng và nội tiết cơ bản, AMH được thực hiện để đánh giá các rối loạn

nội tiết. Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Rối loạn nội tiết sinh sản ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Rối loạn nội tiết sinh sản ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang

Rối loạn nội tiết sinh sản ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 119 - 125, 2017
119
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Lê Minh Tâm(1), Lê Việt Hùng(2), Nguyễn Thị Phương Lê(3), Lê Đình Dương(4), Lê Viết Nguyên Sa(2), Trần Thy Yên Thùy(3),
Phạm Chí Kông(3), Nguyễn Thị Ni(1), Nguyễn Đăng Thị Như Anh(1), Cao Ngọc Thành(1) 
(1) Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, (2) Bệnh viện Trung ương Huế, (3) Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng, (4) Trường Đại học Y Dược Huế 
RỐI LOẠN NỘI TIẾT SINH SẢN
Ở BỆNH NHÂN VÔ SINH 
CÓ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Minh Tâm, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là bệnh lý nội 
tiết phụ khoa thường gặp nhất, ước tính gặp trong khoảng 5-7% phụ nữ 
ở độ tuổi sinh sản. Các phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang sẽ gia 
tăng nguy cơ gặp các vấn đề về sinh sản bao gồm vô sinh, ung thư nội 
mạc tử cung, mãn kinh muộn cũng như các rối loạn chuyển hóa, bao 
gồm đề kháng Insuline, rối loạn mỡ máu và các bệnh lý tim mạch. Hội 
chứng buồng trứng đa nang được báo cáo từ nhiều vùng khác nhau trên 
thế giới, nhận thấy kiểu hình biểu hiện của buồng trứng đa nang thay 
đổi theo chủng tộc. Tại Việt Nam còn rất ít nghiên cứu và dữ liệu liên 
quan đến lâm sàng và nội tiết của HCBTĐN. Mục đích nghiên cứu này 
nhằm xác định các đặc điểm lâm sàng và nội tiết của bệnh nhân vô sinh 
có HCBTĐN tại miền Trung Việt Nam.
Đối tượng phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang 759 trường hợp 
phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đến khám vô sinh và được chẩn đoán có 
HCBTĐN theo Rotterdam (391) và không có HCBTĐN (368) tại 3 Trung 
tâm hỗ trợ sinh sản chính ở khu vực miền Trung Việt Nam gồm Bệnh 
viện Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Phụ 
Sản Nhi Đà Nẵng, trong thời gian từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 
2017. Tiêu chuẩn nhận vào nhóm chứng gồm những phụ nữ đến khám 
vô sinh, không có HCBTĐN, chu kỳ kinh nguyệt đều, không có bệnh lý 
tại buồng trứng (khối u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung), tiền sử phẫu 
thuật buồng trứng hay suy buồng trứng đã xác định. Các biến số lâm 
sàng và nội tiết cơ bản, AMH được thực hiện để đánh giá các rối loạn 
nội tiết. Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0 
Kết quả: Độ tuổi trung bình nhóm vô sinh có HCBTĐN là 29,21±4,20. 
Tỷ lệ HCBTĐN ở bệnh nhân trên 35 tuổi là 26,4% so với 58,2% ở bệnh 
nhân dưới 35 tuổi (RR=0,45 với KTC là 0,35-0,59). Nhóm HCBTĐN có 
tỷ lệ BMI quá cân cao hơn so với nhóm chứng gấp 1,20 lần (RR=1,20 
với KTC 95%: 1,02-1,42). Nhóm HCBTĐN có nồng độ AMH , chỉ số 
LH/FSH và Testosterone cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng, với 
LÊ MINH TÂM, LÊ VIỆT HÙNG, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, LÊ ĐÌNH DƯƠNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, TRẦN THY YÊN THÙY, PHẠM CHÍ KÔNG, NGUYỄN THỊ NI, 
NGUYỄN ĐĂNG THỊ NHƯ ANH, CAO NGỌC THÀNH
120
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
giá trị lần lượt là 8,94±5,68ng/ml vs 3,49±2,12ng/ml; 2,08± 1,49 vs 0,81±0,39 và 0,36±0,27 ng/
ml vs 0,18±0,14 ng/ml. Tại điểm cut-off AMH bằng 4,42 ng/ml, độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán 
HCBTĐN lần lượt là 79,03% và 74, 08%, diện tích dưới đường cong là 0,85 95%CI 0,82 ; 0,87).
Kết luận: Rối loạn nội tiết thường gặp ở hội chứng buồng trứng đa nang, với sự gia tăng AMH, LH/
FSH và Testosterone. AMH có thể là một dấu hiệu chẩn đoán HCBTĐN.
Abstract 
ENDOCRINE CHARACTERISTICS IN INFERTILE WOMEN WITH 
POLYCYSTIC OVARY SYNDROME IN CENTRAL VIETNAM 
Introduction: Polycystic ovary syndrome (PCOS) is the most common gynecological endocrinopathy, 
presenting in at least 5-7% of women of reproductive age. Women with PCOS are at increased risk 
of reproductive problems including infertility, endometrial cancer, late menopause and also metabolic 
aberrations, including insuline resistance, type 2 diabetes mellitus, dyslipidemia and cardiovascular 
diseases. PCOS is reported from many regions of the world, with well recognized ethnic variations in 
it manifestation. In Vietnam, there are few data regarding its clinical and hormonal status. Objective 
of this study is to analyse endocrine characteristics in infertile women with PCOS in central Vietnam.
Methodology: A cross-sectional description of 759 cases of reproductive-age women who were 
diagnosed with PCOS by Rotterdam criteria (391) and non-PCOS (368) visited 3 ART centers in 
central Vietnam including Hue University Hospital, Hue Central Hospital and Danang Hospital for 
Women and Children, in the period from June 2016 to June 2017. Inclusion criteria to the control 
group consisted of infertile women without PCOS, regular menstrual cycle, no ovarian disease (ovary 
cyst/tumor or endometriosis), without history of ovarian surgery or determined ovarian failure. Clinical 
characteristics and basic hormonal profile, AMH were performed to evaluate endocrine status. Input 
and process data using SPSS 19.0 software.
Results: The mean age of PCOS group was 29.21 ± 4.20. The prevalence of PCOS in patients over 
35 years of age was 26.4% versus 58.2% in patients under 35 (RR = 0.45 with 95%CI: 0.35-0.59). The 
PCOS group had a 1.2-fold increase in overweight BMI (RR=1.20 with 95%CI: 1.02-1.42). The PCOS 
group with a mean AMH, LH/FSH and Testosterone were significantly higher than the control group 
which were respectively 8,94±5,68ng/ml vs 3,49±2,12ng/ml; 2,08± 1,49 vs 0,81±0,39 and 0,36±0,27 
ng/ml vs 0,18±0,14 ng/ml, with p<0,05. For a cut-off value of AMH of 4,42 ng/ml, sensitivity and specifility 
in diagnosing PCOS were 79,03% and 74,08%, with the AUC of 0,85 (95%CI 0,82 ; 0,87).
Conclusions: Endocrine disorders with elevated serum level of AMH, Testosterone and of LH/
FSH ratio are common in the infertile patients with PCOS in Central Vietnam. AMH may be an useful 
diagnostic test for PCOS.
1. Tổng quan
Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là 
bệnh lý nội tiết phụ khoa thường gặp nhất (1), (2),(3), 
ước tính gặp trong khoảng 5-7% phụ nữ ở độ tuổi 
sinh sản(2),(4),(5) và chiếm tỉ lệ 75% vô sinh do không 
phóng noãn(5). Các phụ nữ bị hội chứng buồng 
trứng đa nang sẽ gia tăng nguy cơ gặp các vấn đề 
về sinh sản bao gồm vô sinh, ung thư nội mạc tử 
cung, mãn kinh muộn(1),(6),(7) cũng như các rối loạn 
chuyển hóa, bao gồm đề kháng Insuline, rối loạn 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 119 - 125, 2017
121
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
mỡ máu và các bệnh lý tim mạch(8-11). Hội chứng 
buồng trứng đa nang cũng được cho là liên quan 
đến gia tăng (30-40%) tỉ lệ sẩy thai sớm. Vì thế, 
việc chẩn đoán sớm, theo dõi dài hạn và sàng lọc 
đái tháo đường và các bệnh lý tim mạch trên nhóm 
bệnh nhân này được khuyến cáo thực hiện(5). 
Do sự thiếu thống nhất về tiêu chuẩn chẩn đoán, 
sự so sánh về kiểu hình của buồng trứng đa nang 
giữa các quốc gia trên thế giới rất khó thực hiện 
(4). Trong nhiều năm, nhiều sự kết hợp khác nhau 
giữa lâm sàng (chu kỳ kinh nguyệt không đều, 
chứng rậm lông và mụn trứng cá), sinh học (sự gia 
tăng nồng độ huyết thanh của testosterone hoặc 
androstenesdione hoặc gia tăng tỉ LH/FSH), và các 
tiêu chuẩn siêu âm đã được đề xuất, tuy nhiên ít đạt 
được đồng thuận quốc tế(12). Đến năm 2013, trong 
hội nghị tại Rotterdam, một đồng thuận đã được 
thống nhất về các tiêu chuẩn siêu âm cho buồng 
trứng đa nang được xem là đặc hiệu nhất tại thời 
điểm đó, dựa trên thể tích và đánh giá hình thái 
học của buồng trứng(12).
Hội chứng buồng trứng đa nang được báo 
cáo từ nhiều vùng khác nhau trên thế giới, các 
nghiên cứu này nhận thấy kiểu hình biểu hiện của 
buồng trứng đa nang thay đổi theo chủng tộc(13). 
Wijeyaratne và cộng sự chỉ ra rằng các phụ nữ di 
cư có nguồn gốc từ Nam Á mắc hội chứng buồng 
trứng đa nang không phóng noãn có nhiều triệu 
chứng nặng nề hơn và xuất hiện ở lứa tuổi trẻ hơn, 
với IR lớn hơn so với quần thể phụ nữ Châu Âu 
da trắng(14),(15). Các biểu hiện của buồng trứng đa 
nang là khác nhau, và có thể thay đổi trong suốt 
cuôc đời người phụ nữ (16). Phần lớn hiểu biết hiện 
nay của chúng ta về buồng trứng đa nang là dựa 
trên y học chứng cớ trên đối tượng phụ nữ châu Âu 
da trắng(13). Các nghiên cứu buồng trứng đa nang 
trên đối tượng phụ nữ châu Á còn chưa nhiều, gần 
đây nhất có nghiên cứu của Wijeyaratne và cộng 
sự; Sunita và cộng sự nghiên cứu trên nhóm phụ 
nữ Nam Á, Tehrani và cộng sự nghiên cứu trên đối 
tượng phụ nữ đa nang Tây Á(1),(13),(17). Tại Việt Nam, 
khoảng hơn 10 năm lại đây, nghiên cứu về buồng 
trứng đa nang mới bắt đầu được chú ý đến, tuy 
nhiên các công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm 
sàng và nội tiết sinh sản còn chưa nhiều và đặc biệt 
cỡ mẫu còn nhỏ, nhất là ở miền Trung Việt Nam. 
Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm 
khảo sát đặc điểm nội tiết sinh sản và các yếu tố 
liên quan trên nhóm phụ nữ đa nang tại khu vực 
miền Trung Việt Nam.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, bao gồm 
759 phụ nữ được chẩn đoán HCBTĐN (391) và 
không có HCBTĐN (368) khi đi khám hiếm muộn 
tại các trung tâm nội tiết sinh sản miền Trung, gồm 
có Trung tâm nội tiết Sinh Sản Đại học Y Dược 
Huế, khoa Hỗ trợ sinh sản- Bệnh viện Trung Ương 
Huế và khoa Hiếm muộn – bệnh viện Sản Nhi Đà 
Nẵng trong khoảng thời gian từ tháng 06/2016 
đến tháng 06/2017.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: các phụ nữ vô sinh được 
chẩn đoán mắc hội chứng buồng trứng đa nang 
theo tiêu chuẩn Rotterdam. Tiêu chuẩn nhận vào 
nhóm chứng: gồm các phụ nữ khám vô sinh không 
Đặc điểm
HCBTĐN Không HCBTĐN Tổng P
n % n % n %
Tuổi
 < 35 349 58,2% 251 41,8% 600 79,1%
p<0,05
 ≥ 35 42 26,4% 117 73,6% 159 20,9%
 Trung bình 29,2±4,2 31,9±4,0 30,5±4,3
RR=2,20 với KTC 95% 1,68-2,88
BMI
 < 23 316 49,8% 318 50,2% 634 83,5%
p<0,05
 ≥ 23 ≥ 23 75 60,0% 50 40,0% 125
 Trung bình 20,96±2,88 20,58±2,17 20,78±2,56
RR=1,20 với KTC 95% 1,02-1,42
Mụn trứng cá
 Có 104 83,9% 20 16,1% 124 16,3%
p<0,05
 Không 287 45,2% 348 54,8% 635 83,7%
RR=1,86 với KTC 95% 1,65-2,08
Rậm lông (RR)
 Có 158 90,8% 16 9,2% 174 22,9%
p<0,05
 Không 233 39,8% 352 60,2% 585 77,1%
RR=2,28 với KTC 95% 2,04-2,55
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm
HCBTĐN Không HCBTĐN P
X= ±SD X ±SD
AMH 8,95 5,68 3,49 2.12 p<0.05
FSH 5.51 1.68 6.56 1.72 p<0.05
LH 10,58 6,48 5,10 2,36 p<0,05
LH / FSH 2,08 1,49 0,81 0,39 p<0,05
E2 44,73 27,22 37,86 18,83 p<0,05
Testosterone (<0,53ng/ml) 0,36 0,27 0,18 0,14 p<0,05
Prolactin (0,05
Bảng 2. Đặc điểm nội tiết sinh sản ở bệnh nhân có HCBTĐN
LÊ MINH TÂM, LÊ VIỆT HÙNG, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, LÊ ĐÌNH DƯƠNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, TRẦN THY YÊN THÙY, PHẠM CHÍ KÔNG, NGUYỄN THỊ NI, 
NGUYỄN ĐĂNG THỊ NHƯ ANH, CAO NGỌC THÀNH
122
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
mắc HCBTĐN, kinh nguyệt đều. Tiêu chuẩn loại 
trừ: phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung, u nang buồng 
trứng hoặc có tiền sử phẫu thuật buồng trứng trước 
đó, suy buồng trứng đã xác định. 
Các phụ nữ này được khám lâm sàng, đo 
chiều cao, cân nặng, vòng bụng, vòng mông, 
siêu âm phụ khoa đo lường thể tích và đánh giá 
hình thái hai buồng trứng, khảo sát tử cung. Siêu 
âm cần được thực hiện bằng đầu dò âm đạo có 
tần số 7 MHz.
Xét nghiệm nội tiết AMH, FSH, LH, Estradiol, 
Testosterone và Prolactine được thực hiện vào ngày 
2 hoặc 3 vòng kinh. Vòng kinh có thể tự nhiên 
hoặc dưới tác động của didrogesterone (10mg/ 
ngày trong 10 ngày). FSH, LH, E2 và Prolactine 
huyết thanh được định lượng theo phương pháp 
miễn dịch hóa phát quang . Testosterone được định 
lượng theo phương pháp miễn dịch phóng xạ RIA. 
Trong khi đó AMH được định lượng theo phương 
pháp miễn dịch hóa phát quang trên máy Elecsys.
Phụ nữ được chẩn đoán măc hội chứng buồng 
trứng đa nang theo tiêu chuẩn Rotterdam: có ít nhất 
2 trên 3 tiêu chuẩn sau: 1. Rối loạn phóng noãn 
(kinh thưa và hoặc vô kinh). 2. Dấu hiệu cường 
androgen trên lâm sàng hoặc cận lâm sàng . 3. 
Hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm (18).
Cường androgen lâm sàng được định nghĩa 
nếu có rậm lông (điểm Ferriman và Gallway 
cải tiến >6), mụn trứng cá và hoặc tăng tiết 
nhờn nặng, chứng hói đầu do androgen. Cường 
androgen sinh hóa nếu có nồng độ testosterone 
toàn phần > 2,60 nmol/L.
 Siêu âm buồng trứng đa nang nếu có trên 12 
nang noãn kích thước từ 2-9 mm trên mỗi buồng 
trứng và hoặc thể tích buồng trứng >10ml. 
Phụ nữ được chẩn đoán béo phì nếu BMI > 25.
Xử lý thống kê bằng phần mềm 19.0.
3. Kết quả
Các đặc điểm lâm sàng bệnh nhân hội chứng 
Buồng trứng đa nang và nhóm chứng được thể hiện 
ở Bảng 1. 
Tuổi trung bình của bệnh nhân hội chứng 
buồng trứng đa nang là 29,2±4,2 tuổi trẻ hơn so 
với nhóm chứng là 31,9±4,0 30 tuổi. BMI ở nhóm 
BTĐN cũng cao hơn so với ở nhóm chứng. Tỉ lệ 
Hình1: Phân bố nồng độ AMH trung bình giữa hai nhóm có HCBTĐN và không HCBTĐN
bệnh nhân có BMI >23 ở nhóm BTĐN cao hơn so 
với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê. Mụn trứng cá 
và rậm lông gia tăng nguy cơ HCBTĐN với RR lần 
lượt là 1,20 với KTC 95% 1,02-1,42 và 2,28 với 
KTC 95% 2,04-2,55.
Đăc điểm nội tiết sinh sản ở bệnh nhân có 
HCBTĐN được thể hiện ở bảng 2. Trong đó, AMH 
Hình 2. Giá trị AMH trong xác định HCBTĐN
Đặc điểm
AMH LH/FSH Testosterone
X ± SD p X ± SD p X ± SD p
Tuổi
 < 35 8,96 ± 5,56 
>0,05
2,16 ± 1,52
<0,05
0,36 ± 0,26 
>0,05
 ≥ 35 8,81 ± 6,61 1,43 ± 0,95 0,35 ± 0,35
BMI
 < 23 9,10 ± 5,63
>0,05
2,09 ± 1,50
>0,05
0,35 ± 0,28
>0,05
 ≥ 23 8,28 ± 5,84 2,02 ± 1,43 0,37 ± 0,21
Cường androgen
 Có 9,43 ± 5,88
<0,05
2,18 ± 1,66
>0,05
0,41 ± 0,32
<0,05
 Không 8,20 ± 5,29 1,91 ± 1,12 0,28 ± 0,13
Bảng 3. Liên quan giữa các giá trị nội tiết và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân HCBTĐN
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 119 - 125, 2017
123
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
ở nhóm BTĐN cao hơn rất nhiều so với nhóm chứng 
: 8,95 ± 5,68 so với 3,49 ± 2,12 (p<0,05). Tương 
tự, LH, chỉ số LH/FSH và Testosterone đều cao hơn 
có ý nghĩa thống kê ở nhóm có HCBTĐN so với 
nhóm không có HCBTĐN. Ngược lại, không có sự 
khác biệt quan sát thấy về chỉ số Prolactine khi so 
sánh giữa 2 nhóm này.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, với cut-off 
AMH 4,42, độ nhạy và đặc hiệu trong chẩn đoán 
HCBTĐN lần lượt là 79,03% và 74, 08%, diện tích 
dưới đường cong là 0,85, với 95% CI 0,82-0,87.
Bảng 3 thể hiện liên quan giữa giá trị nội tiết 
và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân HCBTĐN. 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
AMH với các nhóm tuổi và các nhóm BMI, tuy 
nhiên AMH cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm 
bệnh nhân có cường Androgen, với p<0,05. Chỉ số 
LH/FSH cao hơn ở nhóm tuổi dưới 35 so với nhóm 
trên 35, với p<0,05 nhưng không khác biệt giữa 
các nhóm BMI hay cường Androgen. Testosterone 
liên quan với cường Androgen nhưng không khác 
biệt theo độ tuổi hay theo chỉ số BMI.
4. Bàn luận
Tuổi trung bình của bệnh nhân hội chứng buồng 
trứng đa nang là 29,2±4,2 tuổi trẻ hơn so với 
nhóm chứng là 31,9±4,0 tuổi, tuy nhiên sự khác 
biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuổi trung bình 
của nhóm HCBTĐN trong nghiên cứu của chúng 
tôi tương đồng với nhiều nghiên cứu khác (Pigny và 
cộng sự; Chao và cộng sự)(12), (19)
Tỉ lệ BMI>23 trong nhóm HCBTĐN cao hơn so 
với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên tỉ 
lệ thừa cân, béo phì trong nghiên cứu của chúng 
tôi khá thấp. HCBTĐN từ lâu được chứng minh là 
liên quan chặt chẽ với thừa cân, béo phì và béo 
phì trung tâm. Lim và cộng sự thực hiện một tổng 
quan hệ thống trên 106 nghiên cứu, trong đó bao 
gồm 35 phân tích tổng hợp, trên tổng số 15129 
phụ nữ. Kết quả của nhóm tác giả ghi nhận phụ 
nữ HCBTĐN gia tăng tần suất thừa cân [RR (95% 
CI): 1,95 (1.52,2.50)], béo phì [2.77(1.88,4.10)] 
và béo phì trung tâm [1.73(1.31,2.30)] khi so 
sánh với phụ nữ không có HCBTĐN. Phụ nữ 
HCBTĐN da trắng tần suất béo phì gia tăng hơn 
nhiều so với phụ nữ HCBTĐN có nguồn gốc châu Á 
[(10.79(5.36,21.70)](19). Có nhiều nghiên cứu gợi ý 
rằng béo phì có vai trò quan trọng trong sinh bệnh 
học của HCBTĐN(20),(21). Ngược lại, có chứng cứ cho 
rằng HCBTĐN là tác nhân gây ra béo phì(19). 
Không ngạc nhiên khi nồng độ LH, tỉ số LH/
FSH và Testosterone đều cao hơn ở nhóm HCBTĐN 
so với nhóm chứng. Hầu hết các nghiên cứu bệnh 
chứng về HCBTĐN đều đưa ra kết quả tương tự 
(12),(22-24). Tần số và cường độ xung LH gia tăng và 
không đều trong HCPTĐN dẫn đến nồng độ LH 
tăng cao so với FSH (FSH bình thường hoặc giảm) 
từ đó làm tăng tỉ số LH/FSH(25),(26). Điều này dẫn 
đến sự gia tăng sản xuất androgen của tế bào vỏ 
và quá trình phát triển nang noãn bị rối loạn. Sự 
gia tăng tần số xung LH trong BTĐN có thể gây ra 
do sự gia tăng tần số xung GnRH(27). Khiếm khuyết 
vùng dưới đồi có thể là nguyên nhân chính làm gia 
tăng nồng độ LH trong HCBTĐN(28). Tăng sản xuất 
andogen buồng trứng không phải là hậu quả duy 
nhất từ sự gia tăng chế tiết LH. Các nghiên cứu in 
vitro trên tế bào vỏ từ BTĐN nhận thấy có sự gia 
tăng chuyển đối các tiền chất của androgen thành 
cả testosterone cơ bản và testosterone sau kích 
thích bằng Gonadotropin(29),(30). Những phát hiện 
này ủng hộ giả thuyết tế bào vỏ từ các bệnh nhân 
có HCBTĐN bị khiếm khuyết dẫn đến gia tăng sản 
xuất androgen(27) .
Nồng độ huyết thanh của AMH trong nhóm 
PCOS cao gấp 2,5 lần so với chứng, với p <0,05, 
tương tự với kết quả của Pigny ghi nhận AMH trung 
bình của HCBTĐN cao gấp 3 lần so với nhóm còn 
lại(12). AMH được tiết ra từ tế bào hạt của các nang 
noãn tiền hốc và có hốc ở giai đoạn sớm, đồng 
thời AMH điều hòa quá trình huy động nang noãn 
sớm từ đoàn hệ nang noãn sơ cấp. Do đó, AMH 
từ lâu đã được chứng minh là một chất chi điểm 
đầy tiềm năng trong việc đánh giá đoàn hệ nang 
noãn của buồng trứng(31). AMH liên quan chặt 
chẽ với AFC so với các chỉ điểm nội tiết khác như 
Inhibin B, Estradiol hay FSH(12),(31),(32) (4). Sau đó, 
một vài nhóm nghiên cứu đã báo cáo sự gia tăng 
mạnh nồng độ AMH (2-4 lần) ở những phụ nữ 
HCBTĐN(12),(31). Từ đó, nhiều nghiên cứu sâu hơn 
về vai trò của AMH trong chẩn đoán HCBTĐN đã 
được thực hiện. AMH được nhiều tác giả đề xuất 
như là một tiêu chuẩn chẩn đoán của HCBTĐN 
với các ngưỡng cut-off thay đổi cũng như độ nhạy 
LÊ MINH TÂM, LÊ VIỆT HÙNG, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, LÊ ĐÌNH DƯƠNG, LÊ VIẾT NGUYÊN SA, TRẦN THY YÊN THÙY, PHẠM CHÍ KÔNG, NGUYỄN THỊ NI, 
NGUYỄN ĐĂNG THỊ NHƯ ANH, CAO NGỌC THÀNH
124
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
và độ đặc hiệu khác nhau tùy theo các nghiên 
cứu(24),(31),(32). Nghiên cứu tổng hợp hệ thống thực 
hiện bởi Iliodromiti và cộng sự năm 2103, dựa 
trên 314 nghiên cứu về giá trị của AMH trong 
việc chẩn đoán HCBTĐN, đưa ra điểm cut-off của 
AMH là 4,7ng/mL, với độ nhạy và độ đặc hiệu lần 
lượt là 82,8% và 79,4% và diện tích dưới đường 
cong là 0,87. Từ đó, nhóm nghiên cứu kết luận 
AMH có thể được xem như là một test chẩn đoán 
ban đầu của HCBTĐN(31). Tương tự, với điểm cut-
off của AMH là 4,42 ng/mL, độ nhạy và độ đặc 
hiệu trong nghiên cứu của chúng tôi là 79,03% và 
74,08%, diện tích dưới đường cong là 0,85.
Liên quan của AMH với tuổi trong HCBTĐN, 
nhiều tác giả đề nghị nên sử dụng các ngưỡng khác 
nhau của AMH dựa trên tuổi của bệnh nhân để 
chẩn đoán(33). Điều này đặc biệt liên quan đến độ 
tuổi thanh thiếu niên và các phụ nữ trẻ với nồng độ 
AMH tăng cao(34). Độ tuổi này cũng là độ tuổi mà 
HCBTĐN thường được phát hiện và chẩn đoán(35) . 
Tuy nhiên nghiên cứu của Iliodromiti lại chỉ ra rằng 
tuổi không có bất kỳ tác động nào lên việc xác định 
điểm cut-off của AMH(31). Nghiên cứu của chúng 
tôi cũng ghi nhận không có sự khác biệt về AMH 
giữa hai nhóm tuổi trên và dưới 35. 
Một vài nghiên cứu nhận thấy AMH có thể 
thay thế tiêu chuẩn hình thái buồng trứng trong 
chẩn đoán HCBTĐN(33),(36). Trong nghiên cứu của 
chúng tôi, AMH tăng cao hơn trong nhóm cường 
Androgen so với nhóm HCBTĐN không có cường 
Androgen. AMH được cho là tương quan mạnh 
với AFC, nhưng đồng thời tương quan yếu có ý 
nghĩa thống kê với triệu chứng kinh thưa và cường 
androgen sinh hóa(37-39). Tương tự, Pigny và cộng 
sự ghi nhận rằng AMH liên quan chặt chẽ với kiểu 
hình chính của HCBTĐN, cụ thể là rối loạn phóng 
noãn và cường androgen(12). Laven và cộng sự cũng 
đã báo cáo trước đó về mối tương quan thuận giữa 
nồng độ AMH, độ dài chu kỳ kinh và nồng độ 
androgen huyết thanh(40). Các tác giả kể trên đều 
ủng hộ giả thuyết rằng AMH có thể ảnh hưởng đến 
rối loạn phóng noãn ở các bệnh nhân HCBTĐN 
và có thể có những tác động khác biệt từ cường 
Androgen, chủ yếu thông qua ức chế quá trình 
chiêu mộ chu kỳ phụ thuộc FSH và hoặc ức chế 
hoặc động thơm hóa(12).
5. Kết luận
Rối loạn nội tiết với sự gia tăng AMH, LH/FSH 
và Testosterone thường gặp ở hội chứng buồng 
trứng đa nang. AMH với độ nhạy và độ đặc hiệu 
tương đối cao có thể xem xét là một dấu hiệu chẩn 
đoán HCBTĐN. 
Tài liệu tham khảo
1. Terhrani FR, Simbar M, Tohidi M et al, The prevalence polycystic ovary 
syndrome in a community sample of Iranian population: Iranian PCOS 
prevalence study, Reproductive Biology and Endocrinology 2011, 9:39.
2. Azziz R, Woods KS, Reyna R et al, The prevalence and features of the 
polycystic ovary syndrome in an unselected population, J Clin Endocrinol 
Metab 2004, 89:2745-49.
3. Kauffman RP, Baker TE, Baker VM et al, Endocrine and metabolic 
differences among phenotypic expressions of polycystics ovary syndrome 
according to the 2003 Rotterdam consensus criteria, Am J Obstet Gynecol 
2008, 198(670):e671-677, discussion 670 e677-610.
4. Zhang H, Zhu F, Xiong J, Shi X, F S, Characteristics of different 
phenotypes of polycystic ovary syndrome based on Rotterdam criteria in a 
large-scale Chinsese population, BJOG 2009;116:1633-1639.
5. Diao F-Y, Xu M, Hu Y et al, The molecular characteristics of polycystic 
ovary syndrome (PCOS) ovaray defined by human ovary cDNA 
microarray, Journal of Molecular Endocrinology 2004,33, 59-72.
6. Tehrani FR, Solaymani-Dodaran M, Heyadati M, Azizi F, Is polycystic 
ovary syndrome an exception of reproductive aging?, Hum Reprod 2010, 
25:1775-1781.
7. Navaratnarajah R, Pillay OC, Hardiman P, Polycystic ovary syndrome 
and endometrial cancer, Semin Reprod Med 2008, 26:62-71.
8. Christakou CD, Diamanti-Kandarakis E: Role of androgen excess on 
metabolic aberrations and cardiovascular risk in woman with polycystic 
syndrome, Womens Health (Lond Engl) 2008, 4:583-594.
9. Chun-Sen H, Chien-Hua W, Wan-Chun C, Ching-Tzu L, Chun-Jen C, 
Ming IH, Obesity and Insuline resistance in women with polycystic ovary 
syndrome, Gynecol Endocrinol 2010.
10. El-Mazny A, Abou-Salem N, El-Sherbiny W: Insuline resistance, 
dyslipidemia, and metabolic syndrome in women with polycystic ovary 
syndrome, Int J Gynaecol Obstet 2010, 109:238-241.
11. Tabott EO, Zborowski JV, Rager JR, Bourdreaux MY et al, Evidence 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 119 - 125, 2017
125
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
for an association between metabolic cardiovascular syndrome and 
coronary and aortic calcification among women with polycystic ovary 
syndrome, J Clin Endocrinol Metab 2004, 89:5454-5461.
12. Pigny P, Jonard S, Robert Y, Dewailly D, Serum Anti-Mullerian Hormone 
as a Surrogate for Antral Follicle Count for Definiton of the Polycystic Ovary 
Syndrome, J Clin Endocrinol Metab 2006, 91 (3): 941-945.
13. Wijeyaratne CN, Seneviratne R, Dahanayake S et al, Phenotype and 
metabolic profile of South Asian women with polycystic ovary syndrome 
(PCOS): results of a large database from specialist Endocrine Clinic, Hum 
Reprod 2011, 26, (1), 202-213.
14. Wijeyaratne CN, Balen AH, Barth JH, Belchetz PE, Clinical 
manifestations and insulin resistence (IR) in polycystic ovary syndrome 
(PCOS) among South Asians and Caucasians: Is there a difference?, Clin 
Endocrinol (Oxf) 2002; 57:343-350.
15. Wijeyaratne CN, Nirantharakumar K, Balen AH, Barth JH et al, 
Plasma homocysteine in polycystic syndrome: does it correlate with 
insulin resistance and ethnicity? Clin Endocrinol 2004, 60:560-567.
16. Franks S, McCarthy MI, Hardy K, Development of polycystic ovary 
syndrome: involvement of genetic and environmental factors, Int J Androl 
2006;29:278-290.
17. Sunita JR, Balasaheb BG, Jaiprakash BR et al, Clinical characteristics 
of polycystic ovary syndrome in Indian women, Indian J Endocrinol Metab 
2013, 17 (1): 138-145.
18. Bart C.J.M. Fausser, Basil C.T, Robert W.R, Richard S.L. et al, 
Consensus on women’s health aspects of polycystics ovary syndrome 
(PCOS): the Amsterdam ESHRE/ASRM-Sponsored 3rd PCOS 
Consensus Workshop Group, Fertil Steril 2012, 97:28-38.
19. Lim S.S, Davies M.J., Norman R.J, Moran L.J, Overweight, obesity 
and central obesity in women with polycystic ovary syndrome: a systematic 
review and meta-analysis, Hum Reprod Update 2012, 18 (6) : 618-637.
20. Balen AH, Conway GS, Kaltsas G, Techatraisak K et al, Polycystic 
ovary syndrome: the spectrum of the disorder in 1741 patients, Hum 
Reprod 1995; 10:2107-2011.
21. Liou TH, Yang JH, Hsieh CH, Lee CY et al, Clinical and biochemiacal 
presentations or polycycstic ovary syndrome among obese and nonobese 
women, Fertil Stril 2009; 92:1960-1965.
22. Cook C.L, Siow Y, Brenner AG, Fallat M.E., Relationshop between 
serum Mullerian-inhibiting substance and other reproductive hormones 
in untreated women with polycystic ovary syndrome and normal women, 
Fertil Steril 2002, 77, (1): 141-146.
23. Rosenfield R.L., Wroblewski K., Padmanabhan V. et al , Anti-Mullerian 
hormone levels are independently related to ovarian hyperandrogenism 
and polycystic ovaries, Fertil Steril 2012; 98 (1) :242-249.
24. Wiweko B, Maidarti M, Priangga M.D. et al, Anti-Mullerian hormone 
as a diagnostic and prognostic tool for PCOS patients, J Assist Reprod 
Genet 2014; 31:1311-1316.
25. Glintborg Dorte, Endocrine and metabolic characteristics in polycystic 
ovary syndrome, Danish Medical Journal 2016, 1-16.
26. Balen AH, Hypersecretion of luteinizing hormone and the polycystic 
syndrome, Hum Reprod 1993; 123-8.
27. Ehrmann DA, Polycystic ovary syndrome, N Engl Med 2005;12:1223-36.
28. Barontini M, Garcia-Rudaz MC, Veldhuis JD, Mechanisms of 
hypothalamic-pituitary-gonadal disruption in polycystic ovarian syndrome, 
Arch Med Res 2001; 6:544-52.
29. Gilling-Smith C, Story J, Rogers V et al, Evidence for a primary 
abnormality of thecal cell steroidogenesis in the polycystic ovary 
syndrome, Clin Endocrinol (Oxf) 1997;1:93-9.
30. Nelson VL, Legro RS, Strauss JF et al, Augmented androgen 
production is a stable steroidogenic phenotype of propagated theca cells 
from polycystic ovaries, Mol Endocrinol 1999;6:946-57.
31. Iliodromiti S, Kelsey T.W., Anderson RA, Nelson SM, Can Anti-
Mulerian Hormone predict the diagnosis of polycystic Ovary syndrome? A 
systematic review and Meta-Analysis of Extracted data, J Clin Endocrinol 
Metab 2013; 98(8):3332-3340.
32. Salmassi A, Mettler L, Hedderich J et al, Cut-off levels of Anti-
Mullerian Hormone for the Prediction of Ovarian response, In vitro 
fertilization outcome and ovarian hyperstimulation syndrome, International 
Journal of Fertility and Sterility 2015, 9(2):157-167.
33. Eilertsen TB, Vanky E, Carlsen SM, Anti-Mullerian Hormone in the 
diagnosis of polycystic ovary syndrome: can morphologic description be 
replaced?, Hum Reprod 2012; 27:2494-2502.
34. Kelsey TW, Wright P, Nelson SM et al, A validated model of serum 
anti-mullerian hormone from conception to menopause, PloS One, 
2011;6:e22024.
35. Carmina E, Oberfield SE, Lobo RA, The diagnosis of polycystic ovary 
syndrome in adolescents, Am J Obstet Gynecol 2010;203:201, e201-205.
36. Dewailly D, Gronier H, Poncelet E et al, Diagnosis of polycystic 
ovary syndrome (PCOS): revisiting the threshold values of follicle count 
on ultrasound and of the serum AMH level for the definition of polycystic 
ovaries, Hum Reprod 2011;26:3123-3129.
37. Piltonen T, Morin-Papunen L, Koivunen R et al, Serum anti-Mullerian 
hormone levels remain high until late reproductive age and decrease 
during metformin therapy in women with polycystic ovary syndrome, Hum 
Reprod 2005;20:1820-1826.
38. Eldar-Geva T, Margalioth EJ, Gal M et al, Serum anti-Mullerian 
hormone levels during controlled ovarian hyperstimulation in women 
with polycystic ovaries with and without hyperandrogenism, Hum Reprod 
2005,;20:1814-1819.
39. Nardo LG, Yates AP, Roberts SA, Pemberton P et al, The relationships 
between AMH, androgens, insulin resistance and basal ovarian follicle 
status in non-obsese subfertile women with and without polycystic ovary 
syndrome, Hum Reprod 2009;24:2917-2923.
40. Laven JS, Mulders AG, Visser JA et al, Anti-Mullerian hormone serum 
concentration in normoovulatory a nd anovulatory women of reproductive 
age, J Clin Endocrinol Metab 2004;89:318-323.

File đính kèm:

  • pdfroi_loan_noi_tiet_sinh_san_o_benh_nhan_vo_sinh_co_hoi_chung.pdf