Rối loạn lo âu ở học sinh trường Phổ thông trung học Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018-2019 và một số yếu tố liên quan

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu ở học sinh trường

trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018 - 2019. Nghiên cứu đã sử dụng thiết kế

nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 341 học sinh, công cụ để đánh giá rối loạn lo âu là thang Zung. Kết quả nghiên

cứu cho thấy tỷ lê rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai là 26,39%. Các yếu tố

liên quan đến rối loạn lo âu ở học sinh bao gồm yếu tố cá nhân: giới, học lực, nhân cách; yếu tố gia đình: áp lực

học tập từ gia đình, bạo hành ở gia đình; yếu tố nhà trường: áp lực học tập từ nhà trường, mối quan hệ với bạn

bè, bắt nạt ở trường học. Vì vậy, học sinh trung học phổ thông cần được sàng lọc rối loạn lo âu trong quá trình

học tại trường và tìm hiểu những yếu tố liên quan tới rối loạn lo âu để có những can thiệp kịp thời và phù hợp.

pdf 10 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Rối loạn lo âu ở học sinh trường Phổ thông trung học Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018-2019 và một số yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Rối loạn lo âu ở học sinh trường Phổ thông trung học Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018-2019 và một số yếu tố liên quan

Rối loạn lo âu ở học sinh trường Phổ thông trung học Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018-2019 và một số yếu tố liên quan
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
200 TCNCYH 130 (6) - 2020
Tác giả liên hệ: Lê Thị Vũ Huyền,
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 18/05/2020
Ngày được chấp nhận: 13/08/2020
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lo âu đề cập đến một nhóm các rối 
loạn tâm thần đặc trưng bởi cảm giác lo lắng và 
sợ hãi. Khoảng thời gian tồn tại các triệu chứng 
ở người bị rối loạn lo âu khiến nó trở thành một 
bệnh mãn tính hơn là rối loạn nhất thời hoặc 
thỉnh thoảng xảy ra.1 Trên thế giới, tỷ lệ mắc 
rối loạn lo âu trong quần thể dao động từ 0,9% 
đến 28,3% dân số.2 Tổng số người sống với rối 
loạn lo âu vào năm 2015 ước tính là 264 triệu 
người.1 
Tuổi vị thành niên là giai đoạn có nhiều thay 
đổi về tâm sinh lý. Trẻ cần phải đối mặt với 
những vấn đề khó khăn và mâu thuẫn cần giải 
quyết.3 Nếu trẻ không kịp thích nghi với những 
thay đổi đó sẽ dễ dẫn đến những suy nghĩ, cảm 
xúc, hành vi mang tính tiêu cực, trong đó có 
các vấn đề sức khỏe liên quan đến tâm thần.4 
rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm 
lý phổ biến của thời thơ ấu và vị thành niên.5 
11,7% - 15,0% Vị thành niên được chẩn đoán lo 
lắng có xu hướng cảm thấy quá sức, bị mắc kẹt 
trong các triệu chứng rối loạn lo âu của họ và có 
thể coi tự tử là một phương tiện để giải thoát.6
Các nghiên cứu trên thế giới về rối loạn lo âu 
ở trẻ em và vị thành niên cho tỉ lệ rối loạn lo âu 
ở quần thể này dao động từ 6,9% đến 31,9%.7-
10 Tại Việt Nam, các nghiên cứu về rối loạn lo 
âu ở đối tượng này đặc biệt là ở học sinh trung 
học phổ thông (THPT) đều cho những con số 
đáng báo động, thậm chí cứ khoảng chưa đến 
3 em học sinh thì có 1 em có biểu hiện rối loạn 
lo âu với kết quả 38% học sinh có biểu hiện rối 
loạn lo âu.11 Hay nghiên cứu của Nguyễn Tấn 
Đạt, Dedding C., Phạm Thị Tâm và các cộng 
sự cho thấy những học sinh mắc rối loạn lo âu 
có nguy cơ tự tử cao gấp hơn 3 lần so với học 
sinh không có rối loạn lo âu.12 Những con số 
biết nói này đang hỏi sự quan tâm đúng mức từ 
phía nhà trường, phụ huynh và xã hội đối với 
rối loạn lo âu ở học sinh. 
Các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu được 
nhiều tác giả nghiên cứu. Trong đó có thể kể 
đến: yếu tố cá nhân: kiểu nhân cách, giới;8, 12, 
RỐI LOẠN LO ÂU Ở HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRUNG 
HỌC NGUYỄN THỊ MINH KHAI, HÀ NỘI NĂM HỌC 2018 - 2019 
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Lê Thị Vũ Huyền , Đỗ Nhật Phương
Trường Đại học Y Hà Nội 
Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu ở học sinh trường 
trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018 - 2019. Nghiên cứu đã sử dụng thiết kế 
nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 341 học sinh, công cụ để đánh giá rối loạn lo âu là thang Zung. Kết quả nghiên 
cứu cho thấy tỷ lê rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai là 26,39%. Các yếu tố 
liên quan đến rối loạn lo âu ở học sinh bao gồm yếu tố cá nhân: giới, học lực, nhân cách; yếu tố gia đình: áp lực 
học tập từ gia đình, bạo hành ở gia đình; yếu tố nhà trường: áp lực học tập từ nhà trường, mối quan hệ với bạn 
bè, bắt nạt ở trường học. Vì vậy, học sinh trung học phổ thông cần được sàng lọc rối loạn lo âu trong quá trình 
học tại trường và tìm hiểu những yếu tố liên quan tới rối loạn lo âu để có những can thiệp kịp thời và phù hợp. 
Từ khóa: Rối loạn lo âu, học sinh trung học phổ thông, yếu tố liên quan
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
201TCNCYH 130 (6) - 2020
13, 14 Yếu tố gia đình: áp lực học tập và bạo lực 
gia đình;11,12,15,16 Yếu tố trường học: áp lực học 
tập, bắt nạt học đường và mối quan hệ với bạn 
bè.11,17,18 Hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào 
về rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan đến rối 
loạn lo âu tại Trường THPT Nguyễn Thị Minh 
Khai. Việc tìm hiểu về rối loạn lo âu và các yếu 
tố liên quan là cơ sở để nhà trường, phụ huynh 
hiểu thêm về tình trạng sức khỏe của các em 
học sinh, từ đó lập kế hoạch giáo dục, tổ chức 
các hoạt động phù hợp.
Với những lí do đã nên trên, chúng tôi chọn 
đề tài: “Rối loạn lo âu ở học sinh trường phổ 
thông trung học Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội 
năm học 2018 - 2019 và một số yếu tố liên 
quan” với 2 mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ rối loạn lo âu của học sinh 
tại trường phổ thông trung học Nguyễn Thị 
Minh Khai, Hà Nội năm học 2018 - 2019.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan tới rối loạn 
lo âu của học sinh trường phổ thông trung học 
Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội năm học 2018 
- 2019.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
 - Học sinh trường THPT Nguyễn Thị Minh 
Khai, Phường Phúc Diễn – Quận Bắc Từ Liêm 
- TP Hà Nội.
Tiêu chuẩn lựa chọn: (1) Học sinh trường 
THPT Nguyễn Thị Minh Khai năm học 2018 - 
2019; (2) Học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu 
và cha mẹ học sinh đồng ý cho con tham gia 
nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh nghỉ học thời 
gian lấy số liệu
Thời gian nghiên cứu
 - Nghiên cứu tiến hành từ tháng 10 năm 
2018 đến tháng 6 năm 2020 . Thời gian thu 
thập số liệu là tháng 1 năm 2019
 2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng 
thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính 
một tỷ lệ trong quần thể: 
Với độ tin cậy 95%: Z = 1,96 Chọn p = 
0.2166 lấy từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng 
Phương;19 0,205 ta có:
n = 1,962
0,2166 ×(1 - 0,2166)
(0,205×0,2166)2
 = 331 
 - Áp dụng công thức ta tính được n = 330. 
Để tránh một số đối tượng từ chối không tham 
gia nghiên cứu hoặc nghỉ học tại ngày điều tra 
hoặc phiếu điền không hợp lệ, cỡ mẫu được 
tăng lên 10% và làm tròn số n = 360. Sau khi 
thu thập số liệu, loại 19 phiếu bị lỗi do thiếu 
thông tin. Cỡ mẫu cuối cùng còn 341 
 - Mỗi khối có số lượng học sinh gần tương 
đương nhau với tỷ lệ 1:1:1, mỗi lớp có 45 - 50 
học sinh. Với tổng số học sinh cần lấy là 360 
học sinh. Bốc tham gia chọn ngẫu nhiên mỗi 
khối 3 lớp, trong mỗi lớp được lấy toàn bộ học 
sinh để tiến hành nghiên cứu.
Các biến số nghiên cứu
Các biến số về đặc điểm chung của đối 
tượng nghiên cứu:
 + Giới, học lực. 
Các biến số cho mục tiêu 1:
 + Tỷ lệ rối loạn lo âu của học sinh 
Biến số và chỉ số cho mục tiêu 2: 
 + Yếu tố cá nhân: giới, học lực, nhân cách
 + Yếu tố gia đình: áp lực học tập từ gia đình, 
bạo hành gia đình
 + Yếu tố nhà trường: áp lực học tập từ nhà 
trường, mối quan hệ với bạn bè, bắt nạt trường 
học.
Công cụ thu thập số liệu
n = Z
1 - α/2
2
p(1 - p)
(εp)2
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
202 TCNCYH 130 (6) - 2020
 Bộ câu hỏi về thông tin chung của học sinh, 
áp lực học tập từ gia đình, bạo hành gia đình, 
áp lực học tập từ nhà trường, quan hệ bạn bè, 
bắt nạt trường học
Bảng nghiệm kê nhân cách của Hans 
Eysenck (EPI) với 57 câu hỏi.20 Có 4 kiểu nhân 
cách tổng hợp như sau: bình thản, ưu tư, hoạt 
bát, nóng nảy.
Thang đo Zung để đánh giá rối loạn lo âu 
của học sinh.21 Thang đo gồm 20 câu hỏi, mỗi 
câu có 4 lựa chọn từ 1 - 4. Tổng điểm là 80 
điểm. Mức độ rối loạn lo âu được đánh giá như 
sau:22
Không lo âu: ≤ 40 điểm
Lo âu mức độ nhẹ: 41 - 50 điểm
Lo âu mức độ vừa: 51 - 60 điểm
Lo âu mức độ nặng: 61 - 70 điểm
Lo âu mức độ rất nặng: 71 - 80 điểm
3. Xử lý số liệu
Số liệu sau khi được làm sạch được nhập 
vào phần mềm Epidata 3.1
Phần mềm Stata 12.0 được sử dụng trong 
phân tích số liệu. Nghiên cứu sử dụng phân 
tích đơn biến để xác định một số yếu tố liên 
quan đến rối loạn lo âu.
4. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của ban giám 
hiệu trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - Hà 
Nội, trường Đại học Y Hà Nội, phụ huynh và 
học sinh tham gia nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu được cung cấp đầy 
đủ thông tin về mục đích, nội dung của nghiên 
cứu, tự nguyện tham gia bằng cách xác nhận 
vào bản thỏa thuận tham gia nghiên cứu
Thông tin của đối tượng tham gia nghiên 
cứu hoàn toàn được giữ bí mật
Nếu đối tượng từ chối hoặc ngưng giữa 
chừng thì không bắt ép họ tiếp tục tham gia.
Đối tượng được phát hiện có rối loạn lo âu 
sẽ được thông báo đến gia đình và nhà trường 
để có những can thiệp phù hợp và kịp thời
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm chung
Số học sinh Tỷ lệ 
(n) (%)
Giới
Nam 111 32,6
Nữ 230 67,4
Học lực 
Giỏi 287 84,1
Khá 51 15,0
Trung bình 3 0,9
Yếu/kém 0 0,0
Tổng 341 100
Học sinh nữ tham gia vào nghiên cứu nhiều hơn học sinh nam, chiếm tỷ lệ là 67,4%. Tỷ lệ học 
sinh có học lực giỏi chiếm đa số (84,1%), học lực khá và trung bình chiếm 15,9%, đặc biệt là không 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
203TCNCYH 130 (6) - 2020
có học lực yếu/kém. 
2. Tỷ lệ rối loạn lo âu ở học sinh
 Phần lớn học sinh không bị rối loạn lo âu (73,61%). Học sinh bị rối loạn lo âu chiếm 26,39% 
Biểu đồ 1. Tỷ lệ lo âu chung và tỷ lệ lo âu từng mức độ của học sinh
3. Một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của học sinh
Bảng 2. Một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu ở học sinh
Yếu tố
Rối loạn lo âu Không rối loạn lo âu
OR (95%CI) P
n (%) n (%)
Yếu tố cá nhân
Giới
Nữ 50 (21,74) 180 (78,26) 1
0,005
Nam 40 (36,04) 71 (63,96) 2,03 (1,22 - 3,36)
Học lực 
Giỏi 68 (23,69) 219 (76,31) 1
0,002
Khá 19 (37,25) 32 (62,75) 1,91 (1,01 - 3,60)
Trung bình 3 (100) 0 - - 
Yếu tố thần kinh 
Ổn định 11 (15,71) 59 (84,29) 1
0,02
Không ổn định 79 (29,15) 192 (70,85) 2,21 (1,09 – 4,45)
Kiểu nhân cách
Bình thản 5 (11,63) 38 (88,37) 1 
Ưu tư 43 (26,71) 118 (73,29) 2,76 (1,01 – 7,59) 0,04
Hoạt bát 6 (22,22) 21 (77,78) 2,17 (0,58 – 8,16) 0,24
26,39%
73,61%
Có RLLA Không RLLA
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
204 TCNCYH 130 (6) - 2020
Yếu tố
Rối loạn lo âu Không rối loạn lo âu
OR (95%CI) P
n (%) n (%)
Nóng nảy 36 (32,73) 74 (67,27) 3,7 (1,31 – 10,48) 0,008
Yếu tố gia đình
Áp lực học tập từ gia đình
Kết quả học tập như bố mẹ mong đợi
Có 24 (15,69) 129 (84,31) 1 0,0001
Không 66 (35,11) 122 (64,89) 2,9 (1,69 - 5,00) 
Bố mẹ ép học đến mức không chịu được
Không 80 (24,92) 241 (75,08) 1 0,01
Có 10 (50) 10 (50) 3,01 (1,2 – 7,57) 
Sự mong mỏi thành tích của bố mẹ
Không 54 (21,77) 194 (78,23) 1 0.002
Có 36 (38,71) 57 (61,29) 2,27 (1,34 - 3,83) 
Bạo hành ở gia đình
Bố mẹ sỉ nhục khi điểm kém 
Không 47 (22,38) 163 (77,62) 1 0,006
Thỉnh thoảng 27 (29,03) 66 (70,97) 1,42 (0,81 - 2,47)
Thường xuyên 12 (57,14 ) 9 (42,86) 4,62 (1,79 - 11,96) 
Bố mẹ sỉ nhục khi mắc lỗi không liên quan tới học tập
Không 56 (25) 168 (75) 1 
Thỉnh thoảng 21 (25,3) 62 (74,7) 1,02 (0,57 – 1,82) 0,96
Thường xuyên 8 (50) 8 (50) 3,00 (1,06 – 8,47) 0,03
Yếu tố nhà trường
Áp lực học tập từ nhà trường
Yêu cầu của thầy cô quá cao
Không 28 (20,59) 108 (79,41) 1 0,04
Có 39 (34,51) 74 (65,49) 2,03 (1,14 - 3,62) 
Áp lực việc học ở trường
Không 21 (20) 84 (80) 1 0,01
Có 54 (33,96) 105 (66,04) 2,06 (1,14 - 3,7) 
 Mối quan hệ với bạn bè
Chia sẻ với bạn thân
Có 63 (22,74) 214 (77,26) 1 0,002
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
205TCNCYH 130 (6) - 2020
Yếu tố
Rối loạn lo âu Không rối loạn lo âu
OR (95%CI) P
n (%) n (%)
Không 27 (42,19) 37 (57,81) 2,48 (1,39 - 4,43) 
Bắt nạt ở trường học
Bị bạn đánh
Không 58 (21,72) 209 (78,28) 1 0,002
Thỉnh thoảng 16 (38,1) 26 (61,9) 2,22 (1,11 - 4,44)
Thường xuyên 11 (52,38) 10 (47,62) 3,96 (1,58 - 9,97) 
Bị cô lập khỏi nhóm bạn
Không 79 (24,61) 242 (75,39) 1 0,003
Có 11 (55) 9 (45) 3,74 (1,48 - 9,49) 
Bị đe dọa/ sỉ nhục bằng lời nói
Không 29 (19,73) 118 (80,27) 1 0,001
Thỉnh thoảng 24 (34,29) 46 (65,71) 2,12 (1,11 - 4,06)
Thường xuyên 14 (53,85) 12 (46,15) 4,74 (1,91 - 11,81) 
Kết quả phân tích đơn biến (Bảng 2) cho 
thấy các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của 
học sinh như sau:
Yếu tố cá nhân: 
Giới: Học sinh nam có nguy cơ bị rối loạn 
lo âu cao gấp hơn 2 lần so với học sinh nữ, sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê (OR = 2,03; 
95%CI: 1,22 - 3,36; p < 0,05).
Học lực: Học lực khá có nguy cơ mắc rối 
loạn lo âu cao gấp gần 2 lần so với học lực giỏi, 
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (OR = 
1,91; 95%CI: 1,01 - 3,60; p < 0,05).
Nhân cách: Học sinh có kiểu nhân cách 
không ổn định có nguy cơ bị rối loạn lo âu gấp 
hơn 2 lần so với học sinh có kiểu nhân cách ổn 
định và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
(OR = 2,21; 95%CI: 1,09 – 4,45; p < 0,05). Học 
sinh có kiểu nhân cách ưu tư và nóng nảy có 
nguy cơ bị rối loạn lo âu gấp lần lượt gần 3 lần 
và gần 4 lần so với học sinh có kiểu nhân cách 
bình thản. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
(lần lượt là OR = 2,76; 95%CI: 1,01 – 7,59 và 
OR = 3,7 95%CI: 1,31 – 10,48), p < 0,05.
Yếu tố gia đình
Áp lực học tập từ gia đình: Học sinh có kết 
quả học tập không như bố mẹ mong đợi có 
nguy cơ bị rối loạn lo âu cao gấp gần 3 lần so 
với học sinh có kết quả như bố mẹ mong đợi 
(OR = 2,9; 95%CI: 1,69 - 5,00). Học sinh có bố 
mẹ ép học đến mức không thể chịu được có 
nguy cơ rối loạn lo âu cao gấp hơn 3 lần so với 
học sinh không bị bố mẹ ép học (OR = 3,01; 
95% CI: 1,2 - 7,57). Ngoài ra, sự mong mỏi 
thành tích của bố mẹ khiến học sinh có nguy cơ 
rối loạn lo âu cao gấp hơn 2 lần so với học sinh 
có bố mẹ không mong đợi thành tích của con 
(OR = 2,27; 95% CI: 1,34 - 3,83). Các sự khác 
biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 
Bạo hành gia đình: Học sinh thường xuyên 
bị bố mẹ sỉ nhục khi điểm kém có nguy cơ lo 
âu gấp hơn 4,5 lần so với học sinh không bị bố 
mẹ sỉ nhục khi điểm kém (OR = 4,62, 95% CI: 
1,79 - 11,96). Tương tự vậy, học sinh thường 
xuyên bị bố mẹ sỉ nhục khi mắc lỗi không liên 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
206 TCNCYH 130 (6) - 2020
quan đến học tập có nguy cơ lo âu gấp 3 lần so 
với học sinh không bị bố mẹ sỉ nhục khi mắc lỗi 
không liên quan đến học tập (OR = 3,00, 95% 
CI: 1,06 – 8,47) Những sự khác biệt này đều có 
ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 
Yếu tố nhà trường
Áp lực học tập từ nhà trường: Học sinh nhận 
thấy yêu cầu của thầy cô quá cao và có áp lực 
việc học ở trường có nguy cơ bị rối loạn lo âu 
gấp hơn 2 lần so với học sinh không thấy điều 
đó và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (OR 
lần lượt là OR = 2,03; 95%CI: 1,14 - 3,62 và OR 
= 2,06; 95%CI: 1,14 - 3,7; p < 0,05). 
Mối quan hệ với bạn bè: Học sinh không 
chia sẻ với bạn thân có nguy cơ bị rối loạn lo âu 
gấp gần 2,5 lần so với học sinh chia sẻ với bạn 
thân (OR = 2,48; 95%CI: 1,39 - 4,43). Những 
sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p < 
0,05). 
Bạo lực ở trường học: Học sinh bị bạn đánh 
có nguy cơ bị rối loạn lo âu cao gấp hơn 2 lần 
so với học sinh không bị bạn đánh (OR = 2,22; 
95%CI: 1,11 - 4,44). Những học sinh bị bạn bè 
cô lập có nguy cơ bị rối loạn lo âu cao gấp gần 
4 lần so với học sinh không bị bạn bè cô lập 
(OR = 3,74; 95%CI: 1,48 - 9,49). Ngoài ra, học 
sinh bị bạn đe dọa, nói xấu, sỉ nhục bằng lời 
nói thường xuyên có nguy cơ rối loạn lo âu cao 
gấp gần 5 lần so với học sinh không bị đe dọa 
bằng lời nói (OR = 4,74; 95%CI: 1,91 - 11,81). 
Những mối liên quan này đều có ý nghĩa thống 
kê (p < 0,05).
IV. BÀN LUẬN
Thứ nhất, tỷ lệ học sinh trường THPT 
Nguyễn Thị Minh Khai bị rối loạn lo âu là 
26,39%. Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu 
của Catherine Abbo và cộng sự về tỷ lệ rối loạn 
lo âu ở trẻ em và vị thành niên ở Uganda là 
26,6%9 gần tương đương với nghiên cứu của 
Nguyễn Thị Huệ ở 518 học sinh THPT tỉnh Đắc 
Lắc với tỷ lệ lo âu ở học sinh là 24,13%.23 Tuy 
nhiên, tỷ lệ của chúng tôi lại cao hơn so với 
nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng Phương với 
21,66% số học sinh lo âu của ở trường THPT 
chuyên Quảng Bình năm 2008.19 Kết quả này 
cũng cao hơn nhiều một số nghiên cứu về rối 
loạn lo âu trên thế giới.7,8 Sự khác biệt này có 
thể do văn hóa, điều kiện và áp lực giáo dục 
khác nhau giữa nước ngoài và Việt Nam. 
Thứ hai, những yếu tố cá nhân có liên quan 
đến rối loạn lo âu ở học sinh THPT là giới, học 
lực và kiểu nhân cách. Về giới, kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âu ở 
nam (36,04%) cao hơn so với nữ (21,74%); học 
sinh nam có nguy cơ mắc rối loạn lo âu cao gấp 
hơn 2 lần so với học sinh nữ, p < 0,05. Kết quả 
này của chúng tôi trái ngược với kết quả các 
nghiên cứu khác cả trên thế giới và tại Việt Nam 
là tỷ lệ rối loạn lo âu ở nữ cao hơn ở nam.8,10,11 
hay học sinh nữ có nguy cơ bị rối loạn lo âu cao 
gấp gần 3 lần so với học sinh nam.12 Kết quả 
này của chúng tôi có thể là do xã hội càng phát 
triển, khoảng cách giới tính bị xóa nhòa, nam 
hay nữ đều có thể bị rối loạn lo âu như nhau, 
thậm chí nam có thể rối loạn lo âu nhiều hơn 
nữ. Về học lực, những học sinh có học lực khá 
có nguy rối loạn lo âu cao gấp gần 2 lần so với 
học lực giỏi, sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê p < 0,05. Có thể thấy rằng, các em học sinh 
khá đang ở mức còn có thể cố gắng học tập để 
đạt được học lực giỏi nên áp lực của những em 
này là rất lớn điều này có thể khiến cho những 
học sinh này nguy cơ bị rối loạn lo âu cao hơn. 
Về nhân cách, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra 
rằng, học sinh có kiểu nhân cách không ổn định 
có nguy cơ bị rối loạn lo âu gấp hơn 2 lần so với 
học sinh có kiểu nhân cách ổn định. Học sinh 
có kiểu nhân cách ưu tư và nóng nảy có nguy 
cơ bị rối loạn lo âu gấp lần lượt gần 3 và 4 lần 
so với học sinh có kiểu nhân cách bình thản. 
Kết quả này tương tự với nghiên cứu tại Trung 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
207TCNCYH 130 (6) - 2020
Quốc rằng yếu tố thần kinh không ổn định có 
liên quan đến việc tăng triệu chứng rối loạn lo 
âu và tăng nguy cơ mắc rối loạn lo âu.13 Hay 
một nghiên cứu tổng quan trên sinh viên cho 
thấy những sinh viên có nhân cách ưu tư và 
nóng nảy có nguy cơ mắc rối loạn lo âu cao hơn 
những sinh viên có kiểu nhân cách bình thản và 
hoạt bát14. Như vậy có thể nói cách phân chia 
kiểu nhân cách có thể khác nhau nhưng nhìn 
chung thì kiểu nhân cách có liên quan đến rối 
loạn lo âu và các kiểu nhân cách có nguy cơ 
gây rối loạn lo âu đều liên quan đến kiểu hệ 
thần kinh không ổn định
Thứ ba là yếu tố gia đình. Áp lực học tập 
vẫn luôn là vấn đề lớn đối với học sinh. Kết quả 
của chúng tôi cũng cho thấy học sinh có kết 
quả học tập không như bố mẹ mong đợi, bố mẹ 
ép học đến mức không thể chịu được hay sự 
mong mỏi thành tích của bố mẹ khiến học sinh 
có nguy cơ rối loạn lo âu cao gấp từ 2 đến hơn 
3 lần so với học sinh không chịu áp lực từ gia 
đình. Bên cạnh đó đối với học sinh PTTH lòng 
tự trọng, hình ảnh bản thân có ý nghĩa rất lớn 
nên trong số các hình thức bạo lực ở gia đình 
thì bạo lực bằng lời nói như bị sỉ nhục khi bị 
điểm kém hoặc khi mắc lỗi khác có nguy cơ lo 
âu gấp 3 - 4 lần. Những kết quả này của chúng 
tôi đều tương đồng với một số nghiên cứu phân 
tích mối tương quan giữa yếu tố gia đình ảnh 
hưởng đến rối loạn lo âu ở trẻ.11,12, 15,16
Thứ tư là yếu tố trường học. Có thể thấy áp 
lực học tập ở trường cũng giống như là ở nhà 
đều ảnh hưởng lớn tới các em: cảm thấy áp 
lực việc học ở trường hay yêu cầu của thầy cô 
quá cao khiến học sinh có nguy cơ bị rối loạn lo 
âu cao gấp hơn 2 lần. Mối quan hệ với bạn bè 
được coi như là một trong số những biện pháp 
hỗ trợ giúp học sinh vượt qua những khó khăn 
của lứa tuổi. Tuy nhiên điều này không phải lúc 
nào cũng thuận lợi đối với các em. Kết quả cho 
thấy không chia sẻ với bạn thân khiến học sinh 
có nguy cơ bị rối loạn lo âu cao hơn. Đặc biệt 
bạo lực học đường như: Thường xuyên bị bạn 
đánh, bị cô lập khỏi nhóm bạn và thường xuyên 
bị các bạn nói xấu /sỉ nhục/đe dọa bằng lời nói 
hoặc gọi những biệt danh không thích có nguy 
cơ bị rối loạn lo âu cao gấp gần 4 - 5 lần so 
với các học sinh không bị bắt nạt. Các kết quả 
này của chúng tôi tương đồng với các một số 
nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố trường học 
như trên gây ra nguy cơ rối loạn lo âu ở trẻ. 
11,17,18
V. KẾT LUẬN
Tỷ lệ rối loạn lo âu ở học sinh là 26,39%. 
Về các yếu tố liên quan thì các yếu tố cá nhân, 
gia đình và nhà trường đều có liên quan đến 
rối loạn lo âu. Trong đó phải kể đến trước tiên 
là các hình thức bạo lực như: Bị đe dọa bằng 
lời nói, bị bố mẹ sỉ nhục khi bị điểm kém, bị cô 
lập bởi nhóm bạn, bị bạn đánh sau đó là kiểu 
nhân cách đặc biệt là kiểu nhân cách nóng nảy; 
Các yếu tố về áp lực học tập ở gia đình và nhà 
trường, mối quan hệ bạn bè đều có liên quan 
Lời cảm ơn
Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT 
Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội đã giúp chúng 
tôi hoàn thành hoàn thành nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. WHO. Depression and Other Common 
Mental Disorders Global Health Estimates.; 
2017.
2. Baxter AJ, Scott KM, Vos T, et al. Global 
prevalence of anxiety disorders: A systematic 
review and meta - regression. Psychological 
Medicine. 2013;43(5):897 - 910. doi:10.1017/
S003329171200147X
3. Trương Thị Khánh Hà. Giáo Trình Tâm Lý 
Học Phát Triển. Nhà xuất bản Đại học quốc gia 
Hà Nội; 2013.
4. UNICEF Việt Nam. Sức Khỏe Tâm Thần 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
208 TCNCYH 130 (6) - 2020
và Tâm Lý Xã Hội Của Trẻ Em và Thanh Thiếu 
Niên Tại Một Số Tỉnh và Thành Phố ở Việt 
Nam.; 2018.
5. Costello EJ, Mustillo S, Erkanli A, et al. 
Prevalence and development of psychiatric 
disorders in childhood and adolescence. 
Archives of General Psychiatry. 2003;60(8):837 
- 844. doi:10.1001/archpsyc.60.8.837
6. Taylor PJ, Gooding P, Wood AM, et al. The 
Role of Defeat and Entrapment in Depression, 
Anxiety, and Suicide. Psychological Bulletin. 
2011;137(3):391 - 420. doi:10.1037/a0022935
7. Lawrence D, Johnson S, Hafekost J, 
et al. The Mental Health of Children and 
Adolescents : Report on the Second Australian 
Child and Adolescent Survey of Mental Health 
and Wellbeing.; 2015.
8. Adewuya AO, Ola BA, Adewumi TA. The 
12 - month prevalence of DSM - IV anxiety 
disorders among Nigerian secondary school 
adolescents aged 13 - 18 years. Journal 
of Adolescence. 2007;30(6):1071 - 1076. 
doi:10.1016/j.adolescence.2007.08.002
9. Abbo C, Kinyanda E, Kizza RB, et al. 
Prevalence, comorbidity and predictors of 
anxiety disorders in children and adolescents 
in rural north - eastern Uganda. Child and 
Adolescent Psychiatry and Mental Health. 
2013;7(1):21. doi:10.1186/1753 - 2000 - 7 - 21
10. Merikangas KR, He JP, Burstein M, et 
al. Lifetime prevalence of mental disorders in 
U.S. adolescents: Results from the national 
comorbidity survey replication - adolescent 
supplement (NCS - A). Journal of the American 
Academy of Child and Adolescent Psychiatry. 
2010;49(10):980 - 989. doi:10.1016/j.
jaac.2010.05.017
11. Hồ Hữu Tính, Nguyễn Doãn Thành. 
Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến 
lo âu ở học sinh cấp 3 trường THPT Phan Bội 
Châu, Phan Thiết, Bình Thuận tháng 4 - 2009. 
Nghiên cứu Y học. 2010;14(2):180 - 187.
12. Nguyễn Tấn Đạt, Dedding C, Phạm Thị 
Tâm, et al. Depression, anxiety, and suicidal 
ideation among Vietnamese secondary 
school students and proposed solutions: A 
cross - sectional study. BMC Public Health. 
2013;13(1):1195. doi:10.1186/1471 - 2458 - 13 
- 1195
13. Shi M, Liu L, Wang ZY, et al. The 
mediating role of resilience in the relationship 
between big five personality and anxiety among 
chinese medical students: A cross - sectional 
study. PLoS ONE. 2015;10(3). doi:10.1371/
journal.pone.0119916
14. Andrews G. Anxiety, personality 
and anxiety disorders. International 
Review of Psychiatry. 1991;3(2):293 - 302. 
doi:10.3109/09540269109110408
15. Quach AS, Epstein NB, Riley PJ, et 
al. Effects of Parental Warmth and Academic 
Pressure on Anxiety and Depression Symptoms 
in Chinese Adolescents. Journal of Child 
and Family Studies. 2013;24(1):106 - 116. 
doi:10.1007/s10826 - 013 - 9818 - y
16. Banducci AN, Lejuez CW, Dougherty 
LR, et al. A Prospective Examination of the 
Relations Between Emotional Abuse and 
Anxiety: Moderation by Distress Tolerance. 
Prevention Science. 2017;18(1):20 - 30. 
doi:10.1007/s11121 - 016 - 0691 - y
17. Stapinski LA, Bowes L, Wolke D, et 
al. Peer victimization during adolescence 
and risk for anxiety disorders in adulthood: 
A prospective cohort study. Depression and 
Anxiety. 2014;31(7):574 - 582. doi:10.1002/
da.22270
18. Mann RE, Paglia - Boak A, Adlaf EM, 
et al. Estimating the Prevalence of Anxiety 
and Mood Disorders in an Adolescent General 
Population: An Evaluation of the GHQ12. 
International Journal of Mental Health and 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
209TCNCYH 130 (6) - 2020
Summary
ANXIETY DISORDERS IN NGUYEN THI MINH KHAI HIGH 
SCHOOL STUDENTS, HANOI AND RELATED FACTORS, 
SCHOOL YEAR 2018 - 2019
The purpose of this study is to determine the prevalence of anxiety and factors related to 
anxiety disorder among high school students at Nguyen Thi Minh Khai high school, Hanoi 
2018-2019. This is a cross-sectional study performed on 341 students, using the Zung scale 
to assess anxiety. The results showed that the anxiety rate was 26.39%. The factors related to 
anxiety disorders are personal (gender, education, personality), family (academic pressure 
from family, abuse at home), and school (academic pressure from the school, relationships with 
friends, bullying at school). Therefore, schools should have a program to screen their students for 
anxiety and educate them about anxiety-related factors for timely and appropriate interventions.
Keywords: Anxiety, high school students, related factors. 
Addiction. 2011;9(4):410 - 420. doi:10.1007/
s11469 - 011 - 9334 - 5
19. Nguyễn Thị Hằng Phương. Nghiên Cứu 
Một Số Nguyên Nhân Gây Ra Rối Loạn Lo Âu 
ở Học Sinh Trung Học Phổ Thông. Trường Đại 
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học 
Quốc gia Hà Nội: Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học; 
2008.
20. Đào Thị Oanh. Vấn Đề Nhân Cách Trong 
Tâm Lý Học Ngày Nay. Hà Nội: Nhà xuất bản 
Giáo dục; 2007.
21. Zung WWK. A Rating Instrument 
For Anxiety Disorders. Psychosomatics. 
1971;12(6):371 - 379. doi:10.1016/S0033 - 
3182(71)71479 - 0
22. Nguyễn Sinh Phúc. Trắc Nghiệm Tâm Lý 
Lâm Sàng. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân; 
2004.
23. Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Thị Hằng. Ảnh 
hưởng của khí chất đến mức độ lo âu ở lứa tuổi 
học sinh trung học phổ thông. Tạp chí tâm lý 
học. 2012;3(156):24 - 33.

File đính kèm:

  • pdfroi_loan_lo_au_o_hoc_sinh_truong_pho_thong_trung_hoc_nguyen.pdf