Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang
Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một hội chứng
liên quan đến các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, xảy ra trong khoảng 5
đến 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Hiện nay, các nghiên cứu về chỉ
số khối cơ thể (BMI) và rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là rối loạn lipid máu
(RLLP) trên phụ nữ HCBTĐN vẫn còn hạn chế và nhiều tranh cãi.
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 172 bệnh nhân nữ trong độ
tuổi sinh sản bị vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn đồng thuận Rotterdam
2003 vào khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh
viện trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 5 năm 2017 đến
tháng 5 năm 2019. Nghiên cứu các biến số đặc điểm chung, tiền sử, đặc
điểm lâm sàng, nội tiết cơ bản, AMH và biland lipid. Các số liệu được ghi
nhận và xử lý thống kê bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 23.
Kết quả: 172 bệnh nhân được chọn có tỷ lệ thừa cân chiếm 11,0% và tỷ
lệ béo phì chiếm 8,1%. Tỷ lệ RLLP là 54,7%, trong đó tỷ lệ rối loạn CT, TG,
HDL-C, LDL-C lần lượt là 23,3%; 27,3%; 14,5%; 34,9%. Kết hợp các thành
phần RLLP cho thấy rối loạn đồng thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm
tỷ lệ cao nhất 12,2%. Có mối liên quan giữa BMI và RLLP với các yếu tố
lâm sàng và nội tiết: BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ
VB/VM và AMH. CT liên quan với AMH; TG liên quan với tuổi, thời gian vô
sinh, HATTr, vòng bụng, FSH; HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/
VM, LH, FSH, tỷ LH/FSH; LDL-C liên quan với vòng bụng, AMH.
Kết luận: RLLP ở nhóm nghiên cứu là đáng báo động. Điều này cho thấy
việc theo dõi chặt chẽ nồng độ lipid máu là cần thiết và cần có biện pháp
kiểm soát RLLP nhằm ngăn ngừa các biến chứng toàn thân trong tương lai.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang
LÊ QUỲNH TRANG, LÊ MINH TÂM 48 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U Lê Quỳnh Trang, Lê Minh Tâm Trường Đại học Y Dược Huế RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID Ở BỆNH NHÂN VÔ SINH CÓ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Lê Quỳnh Trang, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 05/09/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/09/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/09/2019 Tóm tắt Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một hội chứng liên quan đến các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, xảy ra trong khoảng 5 đến 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Hiện nay, các nghiên cứu về chỉ số khối cơ thể (BMI) và rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là rối loạn lipid máu (RLLP) trên phụ nữ HCBTĐN vẫn còn hạn chế và nhiều tranh cãi. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 172 bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh sản bị vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn đồng thuận Rotterdam 2003 vào khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 5 năm 2019. Nghiên cứu các biến số đặc điểm chung, tiền sử, đặc điểm lâm sàng, nội tiết cơ bản, AMH và biland lipid. Các số liệu được ghi nhận và xử lý thống kê bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 23. Kết quả: 172 bệnh nhân được chọn có tỷ lệ thừa cân chiếm 11,0% và tỷ lệ béo phì chiếm 8,1%. Tỷ lệ RLLP là 54,7%, trong đó tỷ lệ rối loạn CT, TG, HDL-C, LDL-C lần lượt là 23,3%; 27,3%; 14,5%; 34,9%. Kết hợp các thành phần RLLP cho thấy rối loạn đồng thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm tỷ lệ cao nhất 12,2%. Có mối liên quan giữa BMI và RLLP với các yếu tố lâm sàng và nội tiết: BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ VB/VM và AMH. CT liên quan với AMH; TG liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, HATTr, vòng bụng, FSH; HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/ VM, LH, FSH, tỷ LH/FSH; LDL-C liên quan với vòng bụng, AMH. Kết luận: RLLP ở nhóm nghiên cứu là đáng báo động. Điều này cho thấy việc theo dõi chặt chẽ nồng độ lipid máu là cần thiết và cần có biện pháp kiểm soát RLLP nhằm ngăn ngừa các biến chứng toàn thân trong tương lai. Abstract BODY MASS INDEX AND DYSLIPIDEMIA IN INFERTILE WOMEN WITH POLYCYSTIC OVARY SYNDROME Introduction: Polycystic ovary syndrome (PCOS) is a common endocrine and metabolic disorder that affects significantly the general TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 49 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 48 - 53, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 health of 5-10% of reproductive-age women. Data on body mass index (BMI) and dyslipidemia in women with PCOS is so far still limited and lack of uniformity. Methodology: A cross-sectional description of 172 cases of reproductive-age women who were diagnosed with PCOS by Rotterdam criteria (2003) visited Center for Reproductive Endocrinology and Infertility, Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University, Hue, Vietnam, from May 2017 to May 2019. Each woman underwent an anthropometric measurement as well as examination of Clinical characteristics and basic hormonal profile, AMH, lipidemia variables. Input and process data using SPSS 23 software. Results: The prevalence of overweight and obese is 11,0% and 8,1%. Rate of blood lipid disorders was 54,7%, of which total cholesterol abnormalites accounted for 23,3%, triglycerides 27,3%, LDL-C 34,9% and decreased HDL in 14,5%. The commonest type was combined disorder with increased TC and LDL-C (12,2%). There is a correlation between dyslipidemia and clinical and endocrine factors: BMI with age, duration of infertility, waist circumference, WHR and AMH; Total cholesterol associated with AMH; Triglycerides related to age, duration of infertility, DBP, waist circumference, FSH; HDL-C decrease is associated with age, waist circumference, WHR, LH, FSH, LH/FSH; LDL-C associated with WC, AMH. Conclusions: Dyslipidemia are common in the infertile patents with PCOS. Appropriate screening strategy, early detection and timely intervention are needed to prevent systemic complications related to dyslipidemia. 1. Đặt vấn đề Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một hội chứng liên quan đến các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, xảy ra trong khoảng 5 đến 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, hiện là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến vô sinh ở nữ [20]. Phụ nữ HCBTĐN có nhiều biểu hiện khác nhau, thường gặp là rối loạn phóng noãn, các dấu hiệu cường androgen, hình ảnh buồng trứng đa nang (BTĐN) trên siêu âm và gây rối loạn chuyển hóa như béo phì, rối loạn lipid máu (RLLP), kháng Insulin, rối loạn dung nạp đường và đái tháo đường type II. Béo phì ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản, có liên quan đến rối loạn kinh nguyệt với những chu kỳ không phóng noãn, sẩy thai hay các biến chứng trong thai kỳ và có liên quan đến thất bại trong điều trị vô sinh [20]. Bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa (HCCH) sẽ tăng nguy cơ mắc đái tháo đường type II gấp 5 lần và tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp đôi những người không có HCCH trong 5 đến 10 năm tới [5]. RLLP là một trong những yếu tố khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển của xơ vữa động mạch, bệnh động mạch vành, là nguyên nhân gây tử vong chính ở các nước phát triển và đang tăng lên tại các nước đang phát triển. Hiện nay, các kết quả nghiên cứu trên thế giới về rối loạn chuyển hóa trong HCBTĐN vẫn chưa thống nhất do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Tại Việt Nam, cho đến nay đã có một số nghiên cứu nhất định về HCBTĐN, tuy nhiên các nghiên cứu về rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là về chỉ số khối cơ thể (BMI) và RLLP trên phụ nữ HCBTĐN vẫn còn hạn chế và nhiều tranh cãi. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng BMI và RLLP ở bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 172 bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh sản bị vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn đồng thuận LÊ QUỲNH TRANG, LÊ MINH TÂM 50 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U Rotterdam 2003 vào khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 5 năm 2019. Tiêu chuẩn chọn bệnh là bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn Rotterdam 2003, có ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn: kinh thưa hoặc vô kinh, cường androgen trên lâm sàng hoặc sận lâm sàng, hình ảnh BTĐN trên siêu âm. Các trường hợp trong mẫu nghiên cứu có đầy đủ các chỉ số: tuổi, thời gian vô sinh, huyết áp tâm thu (HATTh), huyết áp tâm trương (HATTr), chiều cao, cân nặng, vòng bụng (VB), vòng mông (VM), đặc điểm kinh nguyệt, mụn trứng cá, rậm lông, hình ảnh siêu âm buồng trứng, AMH, nội tiết sinh sản bao gồm LH, FSH, estradiol, prolactin, testosterone và 4 chỉ số xét nghiệm về lipid máu: Cholesterol toàn phần (CT), Triglyceride (TG), HDL-C, LDL-C. Các số liệu được ghi nhận và xử lý thống kê bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 23. Các biến định lượng được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn và được so sánh với nhau bằng kiểm định Student’s t. Các biến định tính được thể hiện theo tần suất, giá trị phần trăm và được phân tích bằng kiểm định χ2 hoặc kiểm định Fisher để đánh giá sự phù hợp. Tính hệ số tương quan Pearson (r) giữa BMI và lipid với các biến số, trong đó |r| > 0,7: tương quan rất chặt, 0,5 < |r| < 0,7: tương quan chặt, 0,3 < |r| < 0,5: tương quan trung bình, |r| < 0,3: tương quan yếu. Sử dụng đường cong ROC để dự đoán chẩn đoán. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu giá trị p < 0,05. Đề tài nghiên cứu được thực hiện với sự chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học, trường Đại học Y Dược Huế và có sự đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu của tất cả các bệnh nhân. 3. Kết quả 3.1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu Tuổi trung bình của phụ nữ HCBTĐN trong nghiên cứu là 28,22 ± 3,41 tuổi. Thời gian vô sinh trung bình là 2,46 ± 1,72 năm. Huyết áp Đặc điểm n = 172 % Tuổi trung bình (năm) 28,22 ± 3,41 Thời gian vô sinh trung bình (năm) 2,46 ± 1,72 HATTh trung bình (mmHg) 107,91 ± 9,82 HATTr trung bình (mmHg) 68,66 ± 6,28 Vòng bụng (cm) ≥ 80 cm 46 26,7 Trung bình 74,15 ± 8,23 Tỷ số VB/VM ≥ 0,80, n(%) 102 (59,3%) 59,3 Trung bình 0,82 ± 0,06 Kinh nguyệt Thưa 143 83,1 Vô kinh 5 2,9 Rậm lông Có 94 54,7 Mụng trứng cá Có 25 14,5 Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu tâm thu trung bình là 107,91 ± 9,82 mmHg và huyết áp tâm trương trung bình là 68,66 ± 6,28 mmHg. Vòng bụng ≥ 80cm chiếm tỷ lệ 26,7%. Số đo vòng bụng trung bình của bệnh nhân HCBTĐN là 74,16 ± 8,23 cm. Tỷ số vòng bụng/vòng mông ≥ 0,80 chiếm đa số với tỷ lệ 59,3%. Tỷ số vòng bụng/vòng mông trung bình là 0,82 ± 0,06. Rối loạn kinh nguyệt chiếm tỷ lệ 86,0%, trong đó vòng kinh thưa chiếm tỷ lệ cao nhất 83,1%, vô kinh chiếm 2,9%, không có rối loạn kinh nguyệt chiếm tỷ lệ 14,0%. Triệu chứng rậm lông chiếm tỷ lệ 54,7% và không có rậm lông chiếm tỷ lệ 45,3%. Triệu chứng mụn trứng cá chiếm tỷ lệ 14,5% và không có mụn trứng cá chiếm đa số 85,5%. 3.2. Đặc điểm chỉ số khối cơ thể và chuyển hóa lipid BMI trung bình là 21,02 ± 2,72 kg/m2. Chỉ số BMI bình thường (từ 18,5-22,9) chiếm tỷ lệ cao nhất là 65,7%, tỷ lệ thừa cân (BMI từ 23-24,9) chiếm 11,0% và tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) chiếm 8,1%. Tỷ lệ rối loạn cholesterol toàn phần (≥ 5,17mmol/l) là 23,3 %. Tỷ lệ rối loạn triglyceride (≥1,70mmol/l) là 27,3 %. Tỷ lệ rối loạn HDL-C (<1,03mmol/l) là Biểu đồ 1. Phân bố thể trạng đối tượng nghiên cứu theo BMI Biểu đồ 1. Phân bố thể trạng đối tượng nghiên cứu theo BMI BMI trung bình là 21,02 ± 2,72 kg/m2. Chỉ số BMI bình thường (từ 18,5-22,9) chiếm tỷ lệ cao nhất là 65,7%, tỷ lệ thừa cân (BMI từ 23-24,9) chiếm 11,0% và tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) chiếm 8,1%. Bảng 2. Đặc điểm chuyển hóa lipid Đặc điểm Rối loạn Bình thường n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) CT (mmol/l) < 5,17 40 23,3 132 76,7 Trung bình 4,54 ± 0,85 TG (mmol/l) < 1,70 47 27,3 125 72,7 Trung bình 1,47 ± 1,11 𝑋𝑋" = 21,02 ± 2,72 kg/m2 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 51 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 14,5 %. Tỷ lệ rối loạn LDL-C (≥3,36 mmol/l) là cao nhất, chiếm tỷ lệ 34,9 %. Nồng độ CT, TG, HDL-C, LDL-C trung bình lần lượt là 4,54 ± 0,85 mmol/l; 1,47 ±,11 mmol/l;1,37 ± 0,35 mmol/l; 3,07 ± 0,77 mmol/l. Trong 172 bệnh nhân HCBTĐN có 78 bệnh nhân không có RLLP, chiếm tỷ lệ 45,3%, rối loạn 1 thành tố chiếm tỷ lệ 22,1%, rối loạn 2 thành tố chiếm 22,6%, rối loạn 3 thành tố chiếm 7,1% và rối loạn 4 thành tố 2,9%; do đó bệnh nhân có RLLP chiếm tỷ lệ 54,7%. Trong các cách phối hợp RLLP, rối loạn đồng thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm tỷ lệ cao nhất 12,2%. 3.3. Liên quan giữa một số yếu tố với chỉ số khối cơ thể và chuyển hóa lipid BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ VB/VM và AMH. Yếu tố cholesterol liên quan với nồng độ AMH. Yếu tố triglyceride liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, HATTr, VB và FSH. Yếu tố HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/ VM, LH, FSH và tỷ LH/FSH. Yếu tố LDL-C liên quan với vòng bụng và nồng độ AMH. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 48 - 53, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 Đặc điểm Rối loạn Bình thường n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) CT (mmol/l) < 5,17 40 23,3 132 76,7 Trung bình 4,54 ± 0,85 TG (mmol/l) < 1,70 47 27,3 125 72,7 Trung bình 1,47 ± 1,11 HDL-C (mmol/l) ≥ 1,03 25 14,5 147 85,5 Trung bình 1,37 ± 0,35 LDL-C (mmol/l) < 3,36 60 34,9 112 65,1 Trung bình 3,07 ± 0,77 Bảng 2. Đặc điểm chuyển hóa lipid Cách phối hợp n Tỷ lệ (%) Không RLLP 78 45,3 1 thành tố CT 2 1,2 HDL-C 6 3,5 LDL-C 15 8,7 TG 15 8,7 2 thành tố CT + LDL-C 21 12,2 CT + TG 1 0,6 HDL-C + LDL-C 3 1,7 TG + HDL-C 10 5,8 TG + LDL-C 4 2,3 3 thành tố CT + TG + LDL-C 11 6,5 TG _ HDL-C + LDL-C 1 0,6 4 thành tố 5 2,9 Tổng 172 100 Bảng 3. Tỷ lệ bệnh nhân HCBTĐN rối loạn các thành phần lipid máu Yếu tố liên quan BMI (r/p) Chuyển hóa lipid (r/p) Cholesterol Triglyceride HDL-C LDL-C Tuổi 0,153/0,045 0,090/0,242 0,167/0,029 0,085/0,0269 0,055/0,472 Thời gian VS 0,203/0,008 -0,006/0,936 0,174/0,023 0,015/0,849 -0,013/0,865 HATTh 0,101/0,189 0,082/0,287 0,147/0,055 -0,137/0,072 0,102/0,182 HATTr 0,054/0,478 0,080/0,299 0,193/0,011 -0,131/0,086 0,071/0,355 Vòng bụng 0,752/0,000 0,126/0,099 0,200/0,008 -0,301/0,000 0,191/0,012 Tỷ VB/VM 0,428/0,000 0,066/0,392 0,101/0,186 -0,189/0,013 0,118/0,122 AMH -0,177/0,020 0,170/0,026 -0,056/0,463 0,105/0,169 0,151/0,048 LH -0,123/0,108 0,126/0,100 -0,108/0,160 0,222/0,003 0,076/0,319 FSH -0,104/0,174 0,021/0,785 -0,172/0,024 0,202/0,008 -0,009/0,912 LH/FSH -0,083/0,280 0,148/0,052 -0,047/0,540 0,172/0,024 0,110/0,151 Estradiol -0,015/0,847 -0,036/0,644 -0,034/0,657 -0,006/0,938 -0,022/0,772 Testosterone 0,067/0,380 0,111/0,148 0,021/0,784 -0,003/0,967 0,126/0,099 Prolactin -0,083/0,280 -0,089/0,248 -0,053/0,491 -0,084/0,271 -0,061/0,426 Bảng 4. Liên quan giữa một số yếu tố với chỉ số khối cơ thể và chuyển hóa lipid 4. Bàn luận HCBTĐN là một hội chứng liên quan đến các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, tăng nguy cơ béo phì và mắc các rối loạn chuyển hóa. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình là 28,22 ± 3,41 tuổi; thời gian vô sinh trung bình là 2,46 ± 1,72 năm. Huyết áp tâm thu trung bình là 107,91 ± 9,82 mmHg và huyết áp tâm trương trung bình là 68,66 ± 6,28 mmHg. Kết quả này tương đồng với kết quả của nhiều nghiên cứu khác [3], [11], [22]. Số đo vòng bụng là một tiêu chí bắt buộc để chẩn đoán HCCH và chỉ số vòng bụng/vòng mông là một tiêu chí để chẩn đoán béo phì trung tâm (béo bụng). Bảng 1 cho thấy vòng bụng ≥ 80cm chiếm tỷ lệ 26,7%. Số đo vòng bụng trung bình của bệnh nhân HCBTĐN là 74,16 ± 8,23 cm. Tỷ số vòng bụng/vòng mông ≥ 0,80 chiếm đa số với tỷ lệ 59,3%. Tỷ số vòng bụng/vòng mông trung bình là 0,82 ± 0,06. Giá trị VB trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn hẳn các tác giả khác trên thế giới [14], [22], [23]. Điều này có thể giải thích là do chỉ số BMI của cộng đồng dân cư ở các nước này lớn hơn, tỷ lệ thừa cân, béo phì nhiều hơn giá trị số đo VB cũng cao hơn. Rối loạn kinh nguyệt chiếm tỷ lệ 86,0%, trong đó vòng kinh thưa chiếm tỷ lệ cao nhất 83,1%, vô kinh chiếm 2,9%. Đặc điểm kinh nguyệt trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu của các tác giả khác [13], [19]. Điều này chỉ ra LÊ QUỲNH TRANG, LÊ MINH TÂM 52 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U rằng rối loạn kinh nguyệt, đặc biệt là triệu chứng kinh thưa rất thường gặp ở phụ nữ HCBTĐN. Triệu chứng rậm lông chiếm tỷ lệ 54,7%; mụn trứng cá chiếm tỷ lệ 14,5%. Tỷ lệ rậm lông, mụn trứng cá khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu [3], [12], [19]. Điều này có thể do sự đánh giá rậm lông, mụn trứng cá khá chủ quan theo người quan sát. Trong thực hành lâm sàng có rất ít bác sĩ dùng phương pháp tính điểm để đánh giá rậm lông và chưa có thang điểm cụ thể nào đánh giá mụn trứng cá trên lâm sàng. Ngoài ra, sự khác biệt còn do sự khác nhau về độ tuổi nghiên cứu, cỡ mẫu. Béo phì có thể được coi là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gây xơ vữa động mạch và các bệnh lý tim mạch thông qua yếu tố nguy cơ khác là RLLP. Chất chỉ điểm cho hàm lượng chất béo trong cơ thể chính là chỉ số khối cơ thể [17]. Thể trạng con người khác nhau giữa các nước trên thế giới, điều đó do gen di truyền, đồng thời do sự phát triển kinh tế xã hội, lối sống, tập quán ăn uống ở mỗi nước khác nhau. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ béo phì tăng cao ở các nước phát triển và vùng đô thị của các nước đang phát triển. Nghiên cứu của Carmina và cộng sự cho thấy những phụ nữ HCBTĐN ở Mỹ có tỷ lệ béo phì cao hơn phụ nữ Ý [8]. Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn của WHO (2001) dành cho người trưởng thành châu Á và kết quả biều đồ 1 cho thấy BMI trung bình là 21,02 ± 2,72 kg/m2, tỷ lệ thừa cân, béo phì là 19,2%. Kết quả nghiên cứu của Lê Viết Thắng (2017) cho kết quả BMI trung bình là 20,76 ± 2,77 kg/ m2, tỷ lệ thừa cân, béo phì là 16,8% [4]; nghiên cứu chủa Trần Thị Ngọc Hà (2010) cho thấy BMI trung bình là 20,47 ± 2,15 kg/m2, tỷ lệ thừa cân, béo phì là 11,1% [1]. Chúng tôi nhận thấy, giá trị BMI trung bình theo nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với các tác giả trong nước, tuy nhiên tỷ lệ thừa cân, béo phì lại cao hơn. Điều này có thể giải thích do ngày nay khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển ảnh hưởng đến các rối loạn chuyển hóa và tình trạng thừa cân béo phì. Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì tăng cao ở các nước phát triển và vùng đô thị của các nước đang phát triển, kèm theo đó là tình trạng RLLP. Hội Tim mạch học Việt Nam khuyến cáo đánh giá mức độ RLLP theo nồng độ từng chỉ số lipid máu. Hiện tại, trong thực hành lâm sàng cũng như trong khuyến cáo của các nước khác, RLLP được xem xét từng thành phần và tập trung vào CT, TG, HDL-C và LDL-C. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ rối loạn CT, TG, HDL-C, LDL-C lần lượt là 23,3%; 27,3%; 14,5%; 34,9%. Nồng độ CT, TG, HDL-C, LDL-C trung bình lần lượt là 4,54 ± 0,85 mmol/l; 1,47 ±,11 mmol/l;1,37 ± 0,35 mmol/l; 3,07 ± 0,77 mmol/l. RLLP chiếm tỷ lệ 54,7%. Trong các cách phối hợp RLLP, rối loạn đồng thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm tỷ lệ cao nhất 12,2%. Tỷ lệ RLLP theo nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Cheung (2008), tỷ lệ RLLP trong HCBTĐN là 53,1% [10]. Giá trị nồng độ lipid trung bình tương đương với nhiều nghiên cứu khác [6], [18], [22]. Như vậy, RLLP ở nhóm nghiên cứu là đáng báo động. Điều này cho thấy việc theo dõi chặt chẽ nồng độ lipid máu là cần thiết và cần có biện pháp kiểm soát RLLP nhằm ngăn ngừa các biến cố tim mạch trong tương lai. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid có sự khác nhau lớn [7], [9], [15], [22]. Điều này có thể giải thích do mốc để chẩn đoán RLLP khác nhau giữa các nghiên cứu. Ngoài ra nồng độ lipid máu còn chịu ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tố bên ngoài như chủng tộc, chế độ ăn uống, hoạt động thể chất. Theo nghiên cứu của Đỗ Thúy Ngọc (2012) cho thấy chế độ ăn chất béo làm tăng RLLP có ý nghĩa [2]. Theo nghiên cứu của Carmina (2003) cho thấy phụ nữ HCBTĐN ở Mỹ có chế độ ăn chất béo cao gấp 2 lần phụ nữ Ý, có thể vì thế nên có nồng độ HDL-C thấp hơn và TG cao hơn có ý nghĩa so với phụ nữ Ý [8]. Nghiên cứu mối liên quan giữa BMI và chuyển hóa lipid máu với một số yếu tố khác cho thấy BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ VB/VM và AMH. Yếu tố cholesterol liên quan với nồng độ AMH. Yếu tố triglyceride liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, HATTr, VB và FSH. Yếu tố HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/VM, LH, FSH và tỷ LH/FSH. Yếu tố LDL-C liên quan với vòng bụng và nồng độ AMH. Theo một phân tích gộp của Yang (2016) cho thấy có sự khác biệt về HDL-C, không có sự khác biệt về CT, TG, LDL-C giữa nhóm HCBTĐN có và không có cường androgen TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 53 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 48 - 53, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 [21]. Theo nghiên cứu của Moran (2017) cho thấy không có mối liên quan giữa lipid và testosterone [16]. Nghiên cứu của Lê Minh Tâm (2017) cho thấy có mối liên quan giữa rối loạn chuyển hóa với các yếu tố lâm sàng và nội tiết: CT liên quan với BMI và prolactin; TG liên quan với tuổi; HDL-C giảm liên quan với BMI, LH và FSH [3]. Như vậy, tỷ lệ thừa cân, béo phì và RLLP ở phụ nữ HCBTĐN là đáng báo động, cần theo dõi chặt chẽ và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ để phòng các biến cố liên quan trong tương lai. Chỉ số khối cơ thể và rối loạn chuyển hóa lipid có liên quan với các yếu tố lâm sàng và nội tiết trong HCBTĐN. Tài liệu tham khảo Tiếng Việt 1. Trần Thị Ngọc Hà, (2010), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị vô sinh ở phụ nữ do hội chứng buồng trứng đa nang", Luận văn Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Huế, tr. 1-123. 2. Đỗ Thúy Ngọc, (2012), "Tình trạng rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108", Đề tài tốt nghiệp cử nhân hệ vừa học vừa làm, Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội, tr. 1-32. 3. Lê Minh Tâm, Lê Việt Hùng, Nguyễn Thị Phương Lê, Lê Đình Dương và cộng sự, (2017), "Rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang", Tạp chí Y Dược học – Trường Đại học Y Dược Huế, 7 (3), tr. 9-12. 4. Lê Viết Thắng, (2017), "Nghiên cứu nồng độ AMH, nội tiết sinh sản ở các trường hợp vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang", Luận văn Thạc sĩ Y học, trường Đại học Y Dược Huế, tr. 1-50. Tiếng Anh 5. Alberti K G, Eckel R H, Grundy S M, Zimmet P Z, et al, (2009), "Harmonizing the metabolic syndrome: a joint interim statement of the International Diabetes Federation Task Force on Epidemiology and Prevention; National Heart, Lung, and Blood Institute; American Heart Association; World Heart Federation; International Atherosclerosis Society; and International Association for the Study of Obesity", Circulation, 120 (16), pp. 1640-1645. 6. Ayhan ME, Durmaz SA, Carlioglu A, Demirelli S, (2016), "Dyslipidemia in young women with polycystic ovary syndrome", Endocrine Abstracts, pp. 41. 7. Berneis K, Rizzo M, Hersberger M, Rini G B, et al, (2009), "Atherogenic forms of dyslipidaemia in women with polycystic ovary syndrome", Int J Clin Pract, 63 (1), pp. 56-62. 8. Carmina E, Legro RS, Stamets K, Lowell J, et al, (2003), "Difference in body weight between American and Italian women with polycystic ovary syndrome: influence of the diet ", Human Reproduction, 18 (11), pp. 2289-2293. 9. Chae S J, Kim J J, Choi Y M, Hwang K R, et al, (2008), "Clinical and biochemical characteristics of polycystic ovary syndrome in Korean women", Hum Reprod, 23 (8), pp. 1924-1931. 10. Cheung L P, Ma R C, Lam P M, Lok I H, et al, (2008), "Cardiovascular risks and metabolic syndrome in Hong Kong Chinese women with polycystic ovary syndrome", Hum Reprod, 23 (6), pp. 1431-1438. 11. Dashti S, Latiffah AL, Hamid HA, Sainii SM, et al, (2019), "Prevalence of Polycystic Ovary Syndrome among Malaysian Female University Staff", 7 (1), pp. 1560-1568. 12. George K, Mandrelle K, Kamath M S, Bondu D J, et al, (2012), "Prevalence of metabolic syndrome in women with polycystic ovary syndrome attending an infertility clinic in a tertiary care hospital in south India", J Hum Reprod Sci, 5 (1), pp. 26-31. 13. Gobl C S, Ott J, Bozkurt L, Feichtinger M, et al, (2016), "To Assess the Association between Glucose Metabolism and Ectopic Lipid Content in Different Clinical Classifications of PCOS", PLoS One, 11 (8), pp. e0160571. 14. Hosseinpanah F, Barzin M, Erfani H, Serahati S, et al, (2014), "Lipid accumulation product and insulin resistance in Iranian PCOS prevalence study", Clinical Endocrinology, 81 (1), pp. 52-57. 15. Madani T, Hosseini R, Ramezanali F, Khalili G, et al, (2016), "Metabolic syndrome in infertile women with polycystic ovarian syndrome", Arch Endocrinol Metab, 60 (3), pp. 199-204. 16. Moran L J, Mundra P A, Teede H J, Meikle P J, (2017), "The association of the lipidomic profile with features of polycystic ovary syndrome", J Mol Endocrinol, 59 (1), pp. 93-104. 17. Naidu J N, Swapna G N, Kumar A N, Krishnamma M, et al, (2013), "Importance of elevated insulin resistance, dyslipidemia and status of antioxidant vitamins in polycystic ovary disease", Free Radicals and Antioxidants, 3 (1), pp. 17-19. 18. Rashad N M, Amin A I, Ali A E, Soliman M H, (2018), "Influence of obesity on soluble endoglin and transforming growth factor β1 in women with polycystic ovary syndrome", Middle East Fertility Society Journal, 23 (4), pp. 418-424. 19. Soares E M, Azevedo G D, Gadelha R G, Lemos T M, et al, (2008), "Prevalence of the metabolic syndrome and its components in Brazilian women with polycystic ovary syndrome", Fertil Steril, 89 (3), pp. 649-655. 20. The Thessaloniki ESHRE/ASRM – Sponsored PCOS Consensus Workshop Group, (2008), "Consensus on infertility treatment related to polycystic ovary syndrome", Hum Reprod, 23 (3), pp. 505-522. 21. Yang R, Yang S, Li R, Liu P, et al, (2016), "Effects of hyperandrogenism on metabolic abnormalities in patients with polycystic ovary syndrome: a meta-analysis", Reprod Biol Endocrinol, 14 (1), pp. 67. 22. Zahiri Z, Sharami S H, Milani F, Mohammadi F, et al, (2016), "Metabolic Syndrome in Patients with Polycystic Ovary Syndrome in Iran", Int J Fertil Steril, 9 (4), pp. 490-496. 23. Zaki M, Basha W, El-Bassyouni H T, El-Toukhy S, et al, (2018), "Evaluation of DNA damage profile in obese women and its association to risk of metabolic syndrome, polycystic ovary syndrome and recurrent preeclampsia", Genes Dis, 5 (4), pp. 367-373.
File đính kèm:
roi_loan_chuyen_hoa_lipid_o_benh_nhan_vo_sinh_co_hoi_chung_b.pdf

