Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang

Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một hội chứng

liên quan đến các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, xảy ra trong khoảng 5

đến 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Hiện nay, các nghiên cứu về chỉ

số khối cơ thể (BMI) và rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là rối loạn lipid máu

(RLLP) trên phụ nữ HCBTĐN vẫn còn hạn chế và nhiều tranh cãi.

Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 172 bệnh nhân nữ trong độ

tuổi sinh sản bị vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn đồng thuận Rotterdam

2003 vào khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh

viện trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 5 năm 2017 đến

tháng 5 năm 2019. Nghiên cứu các biến số đặc điểm chung, tiền sử, đặc

điểm lâm sàng, nội tiết cơ bản, AMH và biland lipid. Các số liệu được ghi

nhận và xử lý thống kê bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 23.

Kết quả: 172 bệnh nhân được chọn có tỷ lệ thừa cân chiếm 11,0% và tỷ

lệ béo phì chiếm 8,1%. Tỷ lệ RLLP là 54,7%, trong đó tỷ lệ rối loạn CT, TG,

HDL-C, LDL-C lần lượt là 23,3%; 27,3%; 14,5%; 34,9%. Kết hợp các thành

phần RLLP cho thấy rối loạn đồng thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm

tỷ lệ cao nhất 12,2%. Có mối liên quan giữa BMI và RLLP với các yếu tố

lâm sàng và nội tiết: BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ

VB/VM và AMH. CT liên quan với AMH; TG liên quan với tuổi, thời gian vô

sinh, HATTr, vòng bụng, FSH; HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/

VM, LH, FSH, tỷ LH/FSH; LDL-C liên quan với vòng bụng, AMH.

Kết luận: RLLP ở nhóm nghiên cứu là đáng báo động. Điều này cho thấy

việc theo dõi chặt chẽ nồng độ lipid máu là cần thiết và cần có biện pháp

kiểm soát RLLP nhằm ngăn ngừa các biến chứng toàn thân trong tương lai.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang

Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang
LÊ QUỲNH TRANG, LÊ MINH TÂM
48
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Lê Quỳnh Trang, Lê Minh Tâm 
Trường Đại học Y Dược Huế
RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID
Ở BỆNH NHÂN VÔ SINH
CÓ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Quỳnh Trang,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 05/09/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/09/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/09/2019
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một hội chứng 
liên quan đến các rối loạn chuyển hóa và nội tiết, xảy ra trong khoảng 5 
đến 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Hiện nay, các nghiên cứu về chỉ 
số khối cơ thể (BMI) và rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là rối loạn lipid máu 
(RLLP) trên phụ nữ HCBTĐN vẫn còn hạn chế và nhiều tranh cãi. 
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 172 bệnh nhân nữ trong độ 
tuổi sinh sản bị vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn đồng thuận Rotterdam 
2003 vào khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh 
viện trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 5 năm 2017 đến 
tháng 5 năm 2019. Nghiên cứu các biến số đặc điểm chung, tiền sử, đặc 
điểm lâm sàng, nội tiết cơ bản, AMH và biland lipid. Các số liệu được ghi 
nhận và xử lý thống kê bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 23. 
Kết quả: 172 bệnh nhân được chọn có tỷ lệ thừa cân chiếm 11,0% và tỷ 
lệ béo phì chiếm 8,1%. Tỷ lệ RLLP là 54,7%, trong đó tỷ lệ rối loạn CT, TG, 
HDL-C, LDL-C lần lượt là 23,3%; 27,3%; 14,5%; 34,9%. Kết hợp các thành 
phần RLLP cho thấy rối loạn đồng thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm 
tỷ lệ cao nhất 12,2%. Có mối liên quan giữa BMI và RLLP với các yếu tố 
lâm sàng và nội tiết: BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ 
VB/VM và AMH. CT liên quan với AMH; TG liên quan với tuổi, thời gian vô 
sinh, HATTr, vòng bụng, FSH; HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/
VM, LH, FSH, tỷ LH/FSH; LDL-C liên quan với vòng bụng, AMH. 
Kết luận: RLLP ở nhóm nghiên cứu là đáng báo động. Điều này cho thấy 
việc theo dõi chặt chẽ nồng độ lipid máu là cần thiết và cần có biện pháp 
kiểm soát RLLP nhằm ngăn ngừa các biến chứng toàn thân trong tương lai.
Abstract 
BODY MASS INDEX AND DYSLIPIDEMIA IN INFERTILE 
WOMEN WITH POLYCYSTIC OVARY SYNDROME
Introduction: Polycystic ovary syndrome (PCOS) is a common 
endocrine and metabolic disorder that affects significantly the general 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
49
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 48 - 53, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
health of 5-10% of reproductive-age women. Data on body mass index (BMI) and dyslipidemia in 
women with PCOS is so far still limited and lack of uniformity. 
Methodology: A cross-sectional description of 172 cases of reproductive-age women who were 
diagnosed with PCOS by Rotterdam criteria (2003) visited Center for Reproductive Endocrinology 
and Infertility, Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University, Hue, Vietnam, from May 
2017 to May 2019. Each woman underwent an anthropometric measurement as well as examination 
of Clinical characteristics and basic hormonal profile, AMH, lipidemia variables. Input and process 
data using SPSS 23 software. 
Results: The prevalence of overweight and obese is 11,0% and 8,1%. Rate of blood lipid disorders 
was 54,7%, of which total cholesterol abnormalites accounted for 23,3%, triglycerides 27,3%, LDL-C 
34,9% and decreased HDL in 14,5%. The commonest type was combined disorder with increased TC 
and LDL-C (12,2%). There is a correlation between dyslipidemia and clinical and endocrine factors: BMI 
with age, duration of infertility, waist circumference, WHR and AMH; Total cholesterol associated with 
AMH; Triglycerides related to age, duration of infertility, DBP, waist circumference, FSH; HDL-C decrease 
is associated with age, waist circumference, WHR, LH, FSH, LH/FSH; LDL-C associated with WC, AMH. 
Conclusions: Dyslipidemia are common in the infertile patents with PCOS. Appropriate screening 
strategy, early detection and timely intervention are needed to prevent systemic complications 
related to dyslipidemia.
1. Đặt vấn đề
Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là 
một hội chứng liên quan đến các rối loạn chuyển 
hóa và nội tiết, xảy ra trong khoảng 5 đến 10% phụ 
nữ trong độ tuổi sinh sản, hiện là một trong những 
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến vô sinh ở nữ [20]. 
Phụ nữ HCBTĐN có nhiều biểu hiện khác nhau, 
thường gặp là rối loạn phóng noãn, các dấu hiệu 
cường androgen, hình ảnh buồng trứng đa nang 
(BTĐN) trên siêu âm và gây rối loạn chuyển hóa 
như béo phì, rối loạn lipid máu (RLLP), kháng Insulin, 
rối loạn dung nạp đường và đái tháo đường type II. 
Béo phì ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản, 
có liên quan đến rối loạn kinh nguyệt với những chu 
kỳ không phóng noãn, sẩy thai hay các biến chứng 
trong thai kỳ và có liên quan đến thất bại trong điều 
trị vô sinh [20]. Bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 
(HCCH) sẽ tăng nguy cơ mắc đái tháo đường type II 
gấp 5 lần và tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 
đôi những người không có HCCH trong 5 đến 10 
năm tới [5]. RLLP là một trong những yếu tố khởi đầu 
cho quá trình hình thành và phát triển của xơ vữa 
động mạch, bệnh động mạch vành, là nguyên nhân 
gây tử vong chính ở các nước phát triển và đang 
tăng lên tại các nước đang phát triển.
Hiện nay, các kết quả nghiên cứu trên thế giới về 
rối loạn chuyển hóa trong HCBTĐN vẫn chưa thống 
nhất do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Tại 
Việt Nam, cho đến nay đã có một số nghiên cứu 
nhất định về HCBTĐN, tuy nhiên các nghiên cứu về 
rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là về chỉ số khối cơ 
thể (BMI) và RLLP trên phụ nữ HCBTĐN vẫn còn hạn 
chế và nhiều tranh cãi. Vì vậy chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng BMI và RLLP ở 
bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang 
trên 172 bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh sản bị 
vô sinh có HCBTĐN theo tiêu chuẩn đồng thuận 
LÊ QUỲNH TRANG, LÊ MINH TÂM
50
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Rotterdam 2003 vào khám và điều trị tại Trung tâm 
Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện trường Đại 
học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 5 năm 2017 
đến tháng 5 năm 2019.
Tiêu chuẩn chọn bệnh là bệnh nhân vô sinh có 
HCBTĐN theo tiêu chuẩn Rotterdam 2003, có ít 
nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn: kinh thưa hoặc vô kinh, 
cường androgen trên lâm sàng hoặc sận lâm sàng, 
hình ảnh BTĐN trên siêu âm. 
Các trường hợp trong mẫu nghiên cứu có đầy 
đủ các chỉ số: tuổi, thời gian vô sinh, huyết áp tâm 
thu (HATTh), huyết áp tâm trương (HATTr), chiều 
cao, cân nặng, vòng bụng (VB), vòng mông (VM), 
đặc điểm kinh nguyệt, mụn trứng cá, rậm lông, 
hình ảnh siêu âm buồng trứng, AMH, nội tiết 
sinh sản bao gồm LH, FSH, estradiol, prolactin, 
testosterone và 4 chỉ số xét nghiệm về lipid máu: 
Cholesterol toàn phần (CT), Triglyceride (TG), 
HDL-C, LDL-C.
Các số liệu được ghi nhận và xử lý thống kê 
bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 23. Các 
biến định lượng được biểu diễn dưới dạng giá 
trị trung bình ± độ lệch chuẩn và được so sánh 
với nhau bằng kiểm định Student’s t. Các biến 
định tính được thể hiện theo tần suất, giá trị phần 
trăm và được phân tích bằng kiểm định χ2 hoặc 
kiểm định Fisher để đánh giá sự phù hợp. Tính hệ 
số tương quan Pearson (r) giữa BMI và lipid với 
các biến số, trong đó |r| > 0,7: tương quan rất 
chặt, 0,5 < |r| < 0,7: tương quan chặt, 0,3 < |r| 
< 0,5: tương quan trung bình, |r| < 0,3: tương 
quan yếu. Sử dụng đường cong ROC để dự đoán 
chẩn đoán. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu 
giá trị p < 0,05.
Đề tài nghiên cứu được thực hiện với sự chấp 
thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y 
sinh học, trường Đại học Y Dược Huế và có sự đồng 
ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu của tất cả các 
bệnh nhân.
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng 
nghiên cứu
Tuổi trung bình của phụ nữ HCBTĐN trong 
nghiên cứu là 28,22 ± 3,41 tuổi. Thời gian vô 
sinh trung bình là 2,46 ± 1,72 năm. Huyết áp 
Đặc điểm n = 172 %
Tuổi trung bình (năm) 28,22 ± 3,41
Thời gian vô sinh trung bình (năm) 2,46 ± 1,72
HATTh trung bình (mmHg) 107,91 ± 9,82
HATTr trung bình (mmHg) 68,66 ± 6,28
Vòng bụng (cm)
≥ 80 cm 46 26,7
Trung bình 74,15 ± 8,23
Tỷ số VB/VM
≥ 0,80, n(%) 102 (59,3%) 59,3
Trung bình 0,82 ± 0,06
Kinh nguyệt
Thưa 143 83,1
Vô kinh 5 2,9
Rậm lông Có 94 54,7
Mụng trứng cá Có 25 14,5
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
tâm thu trung bình là 107,91 ± 9,82 mmHg và 
huyết áp tâm trương trung bình là 68,66 ± 6,28 
mmHg. Vòng bụng ≥ 80cm chiếm tỷ lệ 26,7%. Số 
đo vòng bụng trung bình của bệnh nhân HCBTĐN 
là 74,16 ± 8,23 cm. Tỷ số vòng bụng/vòng mông 
≥ 0,80 chiếm đa số với tỷ lệ 59,3%. Tỷ số vòng 
bụng/vòng mông trung bình là 0,82 ± 0,06. Rối 
loạn kinh nguyệt chiếm tỷ lệ 86,0%, trong đó 
vòng kinh thưa chiếm tỷ lệ cao nhất 83,1%, vô 
kinh chiếm 2,9%, không có rối loạn kinh nguyệt 
chiếm tỷ lệ 14,0%. Triệu chứng rậm lông chiếm tỷ 
lệ 54,7% và không có rậm lông chiếm tỷ lệ 45,3%.
Triệu chứng mụn trứng cá chiếm tỷ lệ 14,5% và 
không có mụn trứng cá chiếm đa số 85,5%.
3.2. Đặc điểm chỉ số khối cơ thể và 
chuyển hóa lipid
BMI trung bình là 21,02 ± 2,72 kg/m2. Chỉ số 
BMI bình thường (từ 18,5-22,9) chiếm tỷ lệ cao nhất 
là 65,7%, tỷ lệ thừa cân (BMI từ 23-24,9) chiếm 
11,0% và tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) chiếm 8,1%.
Tỷ lệ rối loạn cholesterol toàn phần (≥ 5,17mmol/l) 
là 23,3 %. Tỷ lệ rối loạn triglyceride (≥1,70mmol/l) 
là 27,3 %. Tỷ lệ rối loạn HDL-C (<1,03mmol/l) là 
Biểu đồ 1. Phân bố thể trạng đối tượng nghiên cứu theo BMI
Biểu đồ 1. Phân bố thể trạng đối tượng nghiên cứu theo BMI 
BMI trung bình là 21,02 ± 2,72 kg/m2. Chỉ số BMI bình thường (từ 18,5-22,9) chiếm tỷ lệ 
cao nhất là 65,7%, tỷ lệ thừa cân (BMI từ 23-24,9) chiếm 11,0% và tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) chiếm 
8,1%. 
Bảng 2. Đặc điểm chuyển hóa lipid 
Đặc điểm Rối loạn Bình thường 
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) 
CT (mmol/l) < 5,17 40 23,3 132 76,7 
Trung bình 4,54 ± 0,85 
TG (mmol/l) < 1,70 47 27,3 125 72,7 
Trung bình 1,47 ± 1,11 
𝑋𝑋" = 	21,02	 ± 	2,72	kg/m2	
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
51
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
14,5 %. Tỷ lệ rối loạn LDL-C (≥3,36 mmol/l) là cao 
nhất, chiếm tỷ lệ 34,9 %. 
Nồng độ CT, TG, HDL-C, LDL-C trung bình lần 
lượt là 4,54 ± 0,85 mmol/l; 1,47 ±,11 mmol/l;1,37 
± 0,35 mmol/l; 3,07 ± 0,77 mmol/l.
Trong 172 bệnh nhân HCBTĐN có 78 bệnh 
nhân không có RLLP, chiếm tỷ lệ 45,3%, rối loạn 
1 thành tố chiếm tỷ lệ 22,1%, rối loạn 2 thành tố 
chiếm 22,6%, rối loạn 3 thành tố chiếm 7,1% và 
rối loạn 4 thành tố 2,9%; do đó bệnh nhân có RLLP 
chiếm tỷ lệ 54,7%.
Trong các cách phối hợp RLLP, rối loạn đồng 
thời 2 thành phần CT và LDL-C chiếm tỷ lệ cao 
nhất 12,2%.
3.3. Liên quan giữa một số yếu tố với 
chỉ số khối cơ thể và chuyển hóa lipid
BMI liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng 
bụng, tỷ VB/VM và AMH. Yếu tố cholesterol liên 
quan với nồng độ AMH. Yếu tố triglyceride liên 
quan với tuổi, thời gian vô sinh, HATTr, VB và FSH. 
Yếu tố HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/
VM, LH, FSH và tỷ LH/FSH. Yếu tố LDL-C liên quan 
với vòng bụng và nồng độ AMH.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 48 - 53, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Đặc điểm
Rối loạn Bình thường
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
CT (mmol/l)
< 5,17 40 23,3 132 76,7
Trung bình 4,54 ± 0,85
TG (mmol/l)
< 1,70 47 27,3 125 72,7
Trung bình 1,47 ± 1,11
HDL-C (mmol/l)
≥ 1,03 25 14,5 147 85,5
Trung bình 1,37 ± 0,35
LDL-C (mmol/l)
< 3,36 60 34,9 112 65,1
Trung bình 3,07 ± 0,77
Bảng 2. Đặc điểm chuyển hóa lipid
Cách phối hợp n Tỷ lệ (%)
Không RLLP 78 45,3
1 thành tố
CT 2 1,2
HDL-C 6 3,5
LDL-C 15 8,7
TG 15 8,7
2 thành tố
CT + LDL-C 21 12,2
CT + TG 1 0,6
HDL-C + LDL-C 3 1,7
TG + HDL-C 10 5,8
TG + LDL-C 4 2,3
3 thành tố
CT + TG + LDL-C 11 6,5
TG _ HDL-C + LDL-C 1 0,6
4 thành tố 5 2,9
Tổng 172 100
Bảng 3. Tỷ lệ bệnh nhân HCBTĐN rối loạn các thành phần lipid máu
Yếu tố liên 
quan BMI (r/p)
Chuyển hóa lipid (r/p)
Cholesterol Triglyceride HDL-C LDL-C
Tuổi 0,153/0,045 0,090/0,242 0,167/0,029 0,085/0,0269 0,055/0,472
Thời gian VS 0,203/0,008 -0,006/0,936 0,174/0,023 0,015/0,849 -0,013/0,865
HATTh 0,101/0,189 0,082/0,287 0,147/0,055 -0,137/0,072 0,102/0,182
HATTr 0,054/0,478 0,080/0,299 0,193/0,011 -0,131/0,086 0,071/0,355
Vòng bụng 0,752/0,000 0,126/0,099 0,200/0,008 -0,301/0,000 0,191/0,012
Tỷ VB/VM 0,428/0,000 0,066/0,392 0,101/0,186 -0,189/0,013 0,118/0,122
AMH -0,177/0,020 0,170/0,026 -0,056/0,463 0,105/0,169 0,151/0,048
LH -0,123/0,108 0,126/0,100 -0,108/0,160 0,222/0,003 0,076/0,319
FSH -0,104/0,174 0,021/0,785 -0,172/0,024 0,202/0,008 -0,009/0,912
LH/FSH -0,083/0,280 0,148/0,052 -0,047/0,540 0,172/0,024 0,110/0,151
Estradiol -0,015/0,847 -0,036/0,644 -0,034/0,657 -0,006/0,938 -0,022/0,772
Testosterone 0,067/0,380 0,111/0,148 0,021/0,784 -0,003/0,967 0,126/0,099
Prolactin -0,083/0,280 -0,089/0,248 -0,053/0,491 -0,084/0,271 -0,061/0,426
Bảng 4. Liên quan giữa một số yếu tố với chỉ số khối cơ thể và chuyển hóa lipid
4. Bàn luận
HCBTĐN là một hội chứng liên quan đến các rối 
loạn chuyển hóa và nội tiết, tăng nguy cơ béo phì 
và mắc các rối loạn chuyển hóa. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình 
là 28,22 ± 3,41 tuổi; thời gian vô sinh trung bình 
là 2,46 ± 1,72 năm. Huyết áp tâm thu trung bình 
là 107,91 ± 9,82 mmHg và huyết áp tâm trương 
trung bình là 68,66 ± 6,28 mmHg. Kết quả này 
tương đồng với kết quả của nhiều nghiên cứu khác 
[3], [11], [22].
Số đo vòng bụng là một tiêu chí bắt buộc 
để chẩn đoán HCCH và chỉ số vòng bụng/vòng 
mông là một tiêu chí để chẩn đoán béo phì trung 
tâm (béo bụng). Bảng 1 cho thấy vòng bụng ≥ 
80cm chiếm tỷ lệ 26,7%. Số đo vòng bụng trung 
bình của bệnh nhân HCBTĐN là 74,16 ± 8,23 
cm. Tỷ số vòng bụng/vòng mông ≥ 0,80 chiếm 
đa số với tỷ lệ 59,3%. Tỷ số vòng bụng/vòng 
mông trung bình là 0,82 ± 0,06. Giá trị VB trung 
bình trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn 
hẳn các tác giả khác trên thế giới [14], [22], 
[23]. Điều này có thể giải thích là do chỉ số BMI 
của cộng đồng dân cư ở các nước này lớn hơn, 
tỷ lệ thừa cân, béo phì nhiều hơn giá trị số đo VB 
cũng cao hơn.
Rối loạn kinh nguyệt chiếm tỷ lệ 86,0%, trong 
đó vòng kinh thưa chiếm tỷ lệ cao nhất 83,1%, 
vô kinh chiếm 2,9%. Đặc điểm kinh nguyệt trong 
nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu 
của các tác giả khác [13], [19]. Điều này chỉ ra 
LÊ QUỲNH TRANG, LÊ MINH TÂM
52
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
rằng rối loạn kinh nguyệt, đặc biệt là triệu chứng 
kinh thưa rất thường gặp ở phụ nữ HCBTĐN. 
Triệu chứng rậm lông chiếm tỷ lệ 54,7%; mụn 
trứng cá chiếm tỷ lệ 14,5%. Tỷ lệ rậm lông, mụn 
trứng cá khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu 
[3], [12], [19]. Điều này có thể do sự đánh giá 
rậm lông, mụn trứng cá khá chủ quan theo người 
quan sát. Trong thực hành lâm sàng có rất ít bác 
sĩ dùng phương pháp tính điểm để đánh giá rậm 
lông và chưa có thang điểm cụ thể nào đánh giá 
mụn trứng cá trên lâm sàng. Ngoài ra, sự khác 
biệt còn do sự khác nhau về độ tuổi nghiên cứu, 
cỡ mẫu. 
Béo phì có thể được coi là một yếu tố nguy cơ 
tiềm ẩn gây xơ vữa động mạch và các bệnh lý 
tim mạch thông qua yếu tố nguy cơ khác là RLLP. 
Chất chỉ điểm cho hàm lượng chất béo trong cơ 
thể chính là chỉ số khối cơ thể [17]. Thể trạng 
con người khác nhau giữa các nước trên thế giới, 
điều đó do gen di truyền, đồng thời do sự phát 
triển kinh tế xã hội, lối sống, tập quán ăn uống 
ở mỗi nước khác nhau. Các nghiên cứu dịch tễ 
học cho thấy tỷ lệ béo phì tăng cao ở các nước 
phát triển và vùng đô thị của các nước đang phát 
triển. Nghiên cứu của Carmina và cộng sự cho 
thấy những phụ nữ HCBTĐN ở Mỹ có tỷ lệ béo 
phì cao hơn phụ nữ Ý [8]. Trong nghiên cứu này 
chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn của WHO (2001) 
dành cho người trưởng thành châu Á và kết quả 
biều đồ 1 cho thấy BMI trung bình là 21,02 ± 
2,72 kg/m2, tỷ lệ thừa cân, béo phì là 19,2%. 
Kết quả nghiên cứu của Lê Viết Thắng (2017) 
cho kết quả BMI trung bình là 20,76 ± 2,77 kg/
m2, tỷ lệ thừa cân, béo phì là 16,8% [4]; nghiên 
cứu chủa Trần Thị Ngọc Hà (2010) cho thấy BMI 
trung bình là 20,47 ± 2,15 kg/m2, tỷ lệ thừa 
cân, béo phì là 11,1% [1]. Chúng tôi nhận thấy, 
giá trị BMI trung bình theo nghiên cứu của chúng 
tôi khá tương đồng với các tác giả trong nước, 
tuy nhiên tỷ lệ thừa cân, béo phì lại cao hơn. 
Điều này có thể giải thích do ngày nay khi điều 
kiện kinh tế xã hội phát triển ảnh hưởng đến các 
rối loạn chuyển hóa và tình trạng thừa cân béo 
phì. Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỷ lệ thừa 
cân, béo phì tăng cao ở các nước phát triển và 
vùng đô thị của các nước đang phát triển, kèm 
theo đó là tình trạng RLLP.
Hội Tim mạch học Việt Nam khuyến cáo đánh 
giá mức độ RLLP theo nồng độ từng chỉ số lipid 
máu. Hiện tại, trong thực hành lâm sàng cũng như 
trong khuyến cáo của các nước khác, RLLP được 
xem xét từng thành phần và tập trung vào CT, TG, 
HDL-C và LDL-C. Nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy tỷ lệ rối loạn CT, TG, HDL-C, LDL-C lần lượt là 
23,3%; 27,3%; 14,5%; 34,9%. Nồng độ CT, TG, 
HDL-C, LDL-C trung bình lần lượt là 4,54 ± 0,85 
mmol/l; 1,47 ±,11 mmol/l;1,37 ± 0,35 mmol/l; 
3,07 ± 0,77 mmol/l. RLLP chiếm tỷ lệ 54,7%. Trong 
các cách phối hợp RLLP, rối loạn đồng thời 2 thành 
phần CT và LDL-C chiếm tỷ lệ cao nhất 12,2%. Tỷ 
lệ RLLP theo nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với 
kết quả nghiên cứu của Cheung (2008), tỷ lệ RLLP 
trong HCBTĐN là 53,1% [10]. Giá trị nồng độ lipid 
trung bình tương đương với nhiều nghiên cứu khác 
[6], [18], [22]. Như vậy, RLLP ở nhóm nghiên cứu 
là đáng báo động. Điều này cho thấy việc theo dõi 
chặt chẽ nồng độ lipid máu là cần thiết và cần có 
biện pháp kiểm soát RLLP nhằm ngăn ngừa các 
biến cố tim mạch trong tương lai. Kết quả nghiên 
cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy tỷ lệ rối 
loạn các thành phần lipid có sự khác nhau lớn [7], 
[9], [15], [22]. Điều này có thể giải thích do mốc 
để chẩn đoán RLLP khác nhau giữa các nghiên cứu. 
Ngoài ra nồng độ lipid máu còn chịu ảnh hưởng 
mạnh bởi các yếu tố bên ngoài như chủng tộc, chế 
độ ăn uống, hoạt động thể chất. Theo nghiên cứu 
của Đỗ Thúy Ngọc (2012) cho thấy chế độ ăn chất 
béo làm tăng RLLP có ý nghĩa [2]. Theo nghiên cứu 
của Carmina (2003) cho thấy phụ nữ HCBTĐN ở 
Mỹ có chế độ ăn chất béo cao gấp 2 lần phụ nữ Ý, 
có thể vì thế nên có nồng độ HDL-C thấp hơn và TG 
cao hơn có ý nghĩa so với phụ nữ Ý [8].
Nghiên cứu mối liên quan giữa BMI và chuyển 
hóa lipid máu với một số yếu tố khác cho thấy BMI 
liên quan với tuổi, thời gian vô sinh, vòng bụng, tỷ 
VB/VM và AMH. Yếu tố cholesterol liên quan với 
nồng độ AMH. Yếu tố triglyceride liên quan với 
tuổi, thời gian vô sinh, HATTr, VB và FSH. Yếu tố 
HDL-C liên quan với tuổi, vòng bụng, tỷ VB/VM, 
LH, FSH và tỷ LH/FSH. Yếu tố LDL-C liên quan với 
vòng bụng và nồng độ AMH. Theo một phân tích 
gộp của Yang (2016) cho thấy có sự khác biệt về 
HDL-C, không có sự khác biệt về CT, TG, LDL-C giữa 
nhóm HCBTĐN có và không có cường androgen 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
53
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 48 - 53, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
[21]. Theo nghiên cứu của Moran (2017) cho thấy 
không có mối liên quan giữa lipid và testosterone 
[16]. Nghiên cứu của Lê Minh Tâm (2017) cho thấy 
có mối liên quan giữa rối loạn chuyển hóa với các 
yếu tố lâm sàng và nội tiết: CT liên quan với BMI và 
prolactin; TG liên quan với tuổi; HDL-C giảm liên 
quan với BMI, LH và FSH [3]. 
Như vậy, tỷ lệ thừa cân, béo phì và RLLP ở 
phụ nữ HCBTĐN là đáng báo động, cần theo 
dõi chặt chẽ và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ 
để phòng các biến cố liên quan trong tương lai. 
Chỉ số khối cơ thể và rối loạn chuyển hóa lipid 
có liên quan với các yếu tố lâm sàng và nội tiết 
trong HCBTĐN.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
 1. Trần Thị Ngọc Hà, (2010), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm 
sàng và đánh giá kết quả điều trị vô sinh ở phụ nữ do hội chứng buồng trứng 
đa nang", Luận văn Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Huế, tr. 1-123.
 2. Đỗ Thúy Ngọc, (2012), "Tình trạng rối loạn lipid máu và một số yếu tố 
liên quan trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Trung 
ương Quân đội 108", Đề tài tốt nghiệp cử nhân hệ vừa học vừa làm, Trường 
Đại học Thăng Long, Hà Nội, tr. 1-32.
 3. Lê Minh Tâm, Lê Việt Hùng, Nguyễn Thị Phương Lê, Lê Đình Dương 
và cộng sự, (2017), "Rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân vô sinh có hội 
chứng buồng trứng đa nang", Tạp chí Y Dược học – Trường Đại học Y 
Dược Huế, 7 (3), tr. 9-12.
 4. Lê Viết Thắng, (2017), "Nghiên cứu nồng độ AMH, nội tiết sinh sản ở 
các trường hợp vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang", Luận văn Thạc 
sĩ Y học, trường Đại học Y Dược Huế, tr. 1-50.
Tiếng Anh
 5. Alberti K G, Eckel R H, Grundy S M, Zimmet P Z, et al, (2009), "Harmonizing 
the metabolic syndrome: a joint interim statement of the International Diabetes 
Federation Task Force on Epidemiology and Prevention; National Heart, Lung, 
and Blood Institute; American Heart Association; World Heart Federation; 
International Atherosclerosis Society; and International Association for the 
Study of Obesity", Circulation, 120 (16), pp. 1640-1645.
 6. Ayhan ME, Durmaz SA, Carlioglu A, Demirelli S, (2016), "Dyslipidemia in 
young women with polycystic ovary syndrome", Endocrine Abstracts, pp. 41.
 7. Berneis K, Rizzo M, Hersberger M, Rini G B, et al, (2009), "Atherogenic 
forms of dyslipidaemia in women with polycystic ovary syndrome", Int J Clin 
Pract, 63 (1), pp. 56-62.
 8. Carmina E, Legro RS, Stamets K, Lowell J, et al, (2003), "Difference in body 
weight between American and Italian women with polycystic ovary syndrome: 
influence of the diet ", Human Reproduction, 18 (11), pp. 2289-2293.
 9. Chae S J, Kim J J, Choi Y M, Hwang K R, et al, (2008), "Clinical and 
biochemical characteristics of polycystic ovary syndrome in Korean women", 
Hum Reprod, 23 (8), pp. 1924-1931.
 10. Cheung L P, Ma R C, Lam P M, Lok I H, et al, (2008), "Cardiovascular 
risks and metabolic syndrome in Hong Kong Chinese women with polycystic 
ovary syndrome", Hum Reprod, 23 (6), pp. 1431-1438.
 11. Dashti S, Latiffah AL, Hamid HA, Sainii SM, et al, (2019), "Prevalence 
of Polycystic Ovary Syndrome among Malaysian Female University Staff", 
7 (1), pp. 1560-1568.
 12. George K, Mandrelle K, Kamath M S, Bondu D J, et al, (2012), 
"Prevalence of metabolic syndrome in women with polycystic ovary 
syndrome attending an infertility clinic in a tertiary care hospital in south 
India", J Hum Reprod Sci, 5 (1), pp. 26-31.
 13. Gobl C S, Ott J, Bozkurt L, Feichtinger M, et al, (2016), "To Assess 
the Association between Glucose Metabolism and Ectopic Lipid Content in 
Different Clinical Classifications of PCOS", PLoS One, 11 (8), pp. e0160571.
 14. Hosseinpanah F, Barzin M, Erfani H, Serahati S, et al, (2014), "Lipid 
accumulation product and insulin resistance in Iranian PCOS prevalence 
study", Clinical Endocrinology, 81 (1), pp. 52-57.
 15. Madani T, Hosseini R, Ramezanali F, Khalili G, et al, (2016), 
"Metabolic syndrome in infertile women with polycystic ovarian syndrome", 
Arch Endocrinol Metab, 60 (3), pp. 199-204.
 16. Moran L J, Mundra P A, Teede H J, Meikle P J, (2017), "The association 
of the lipidomic profile with features of polycystic ovary syndrome", J Mol 
Endocrinol, 59 (1), pp. 93-104.
 17. Naidu J N, Swapna G N, Kumar A N, Krishnamma M, et al, (2013), 
"Importance of elevated insulin resistance, dyslipidemia and status of 
antioxidant vitamins in polycystic ovary disease", Free Radicals and 
Antioxidants, 3 (1), pp. 17-19.
 18. Rashad N M, Amin A I, Ali A E, Soliman M H, (2018), "Influence of 
obesity on soluble endoglin and transforming growth factor β1 in women 
with polycystic ovary syndrome", Middle East Fertility Society Journal, 23 
(4), pp. 418-424.
 19. Soares E M, Azevedo G D, Gadelha R G, Lemos T M, et al, (2008), 
"Prevalence of the metabolic syndrome and its components in Brazilian 
women with polycystic ovary syndrome", Fertil Steril, 89 (3), pp. 649-655.
 20. The Thessaloniki ESHRE/ASRM – Sponsored PCOS Consensus 
Workshop Group, (2008), "Consensus on infertility treatment related to 
polycystic ovary syndrome", Hum Reprod, 23 (3), pp. 505-522.
 21. Yang R, Yang S, Li R, Liu P, et al, (2016), "Effects of hyperandrogenism 
on metabolic abnormalities in patients with polycystic ovary syndrome: a 
meta-analysis", Reprod Biol Endocrinol, 14 (1), pp. 67.
 22. Zahiri Z, Sharami S H, Milani F, Mohammadi F, et al, (2016), "Metabolic 
Syndrome in Patients with Polycystic Ovary Syndrome in Iran", Int J Fertil 
Steril, 9 (4), pp. 490-496.
 23. Zaki M, Basha W, El-Bassyouni H T, El-Toukhy S, et al, (2018), 
"Evaluation of DNA damage profile in obese women and its association 
to risk of metabolic syndrome, polycystic ovary syndrome and recurrent 
preeclampsia", Genes Dis, 5 (4), pp. 367-373.

File đính kèm:

  • pdfroi_loan_chuyen_hoa_lipid_o_benh_nhan_vo_sinh_co_hoi_chung_b.pdf