Rối loạn chức năng đường thở nhỏ trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới dẫn đến gánh nặng về kinh tế, xã hội nghiêm trọng và ngày một gia tăng (1,2) . Theo dự đoán của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), số người mắc bệnh sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu người chết mỗi năm và đến năm 2020 BPTNMT sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên toàn thế giới (3).
Những thay đổi bệnh học đặc trưng của BPTNMT là ở đường dẫn khí, nhu mô phổi và mạch máu phổi. Tắc nghẽn luồng khí thở mạn tính trong BPTNMT gây ra bởi sự kết hợp giữa bệnh lý đường thở nhỏ (viêm tiểu phế quản tắc nghẽn) và phá hủy nhu mô (khí phế thũng), vai trò của từng cơ chế bệnh sinh khác nhau ở từng cá thể. Viêm mạn tính gây ra những thay đổi cấu trúc và làm hẹp đường thở nhỏ. Phản ứng viêm phá hủy nhu mô phổi dẫn đến mất sự liên kết của phế nang với đường thở nhỏ và giảm đàn hồi phổi, làm giảm khả năng duy trì sự thông thoáng của đường dẫn khí trong suốt thì thở ra
Tóm tắt nội dung tài liệu: Rối loạn chức năng đường thở nhỏ trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 12 RỐI LOẠN CHỨC NĂNG ĐƯỜNG THỞ NHỎ TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ThS.BS. LÊ HOÀN Bộ môn Nội tổng hợp - Trường Đại học Y Hà Nội E-mail: [email protected] 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới dẫn đến gánh nặng về kinh tế, xã hội nghiêm trọng và ngày một gia tăng (1,2) . Theo dự đoán của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), số người mắc bệnh sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu người chết mỗi năm và đến năm 2020 BPTNMT sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên toàn thế giới (3). Những thay đổi bệnh học đặc trưng của BPTNMT là ở đường dẫn khí, nhu mô phổi và mạch máu phổi. Tắc nghẽn luồng khí thở mạn tính trong BPTNMT gây ra bởi sự kết hợp giữa bệnh lý đường thở nhỏ (viêm tiểu phế quản tắc nghẽn) và phá hủy nhu mô (khí phế thũng), vai trò của từng cơ chế bệnh sinh khác nhau ở từng cá thể. Viêm mạn tính gây ra những thay đổi cấu trúc và làm hẹp đường thở nhỏ. Phản ứng viêm phá hủy nhu mô phổi dẫn đến mất sự liên kết của phế nang với đường thở nhỏ và giảm đàn hồi phổi, làm giảm khả năng duy trì sự thông thoáng của đường dẫn khí trong suốt thì thở ra (4). Hơn một thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ cơ chế bệnh học và vai trò của rối loạn chức năng đường thở nhỏ trong BPTNMT để từ đó có thể đưa ra những biện pháp điều trị tối ưu. Trong bài viết này, chúng tôi nêu ra những quan điểm hiện nay về sinh bệnh học, vai trò, phương pháp đánh giá các rối loạn chức năng đường thở nhỏ và những ứng dụng trong điều trị BPTNMT. 2. SINH BỆNH HỌC VÀ VAI TRÒ ĐƯỜNG THỞ NHỎ TRONG BPTNMT Đường thở nhỏ được định nghĩa là đường thở có đường kính trong <2 mm và không có sụn, bao gồm các nhánh phế quản từ thế hệ thứ 8 cho đến các phế nang (hình 1) (5,6). Đường thở nhỏ đóng góp rất ít vào sức cản đường thở ở người khỏe mạnh (khoảng 10% tổng sức cản đường thở), do đó vùng này đôi khi được gọi là “vùng im lặng” vì ngay cả khi có rối loạn chức năng đường thở nhỏ nhiều thì kết quả đo chức năng thông khí phổi thường quy vẫn có thể bình thường. Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường xâm lấn chỉ ra rằng, đây lại là vùng giới hạn ồng dẫn khí chính trong BPTNMT (7). Rối loạn chức năng đường thở nhỏ cùng với sự phá hủy cấu trúc các phế nang là hai cơ chế chính trong sinh bệnh học của BPTNMT (8). Tình trạng viêm mạn tính tiển triển trong BPTNMT đặc trưng bởi sự gia tăng của các đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu lympho B, lympho T quanh đường dẫn khí, đặc biệt là sự giải phóng yếu tố tăng trưởng chuyển dạng - beta (Transforming growth factor-beta, TGF-β), yếu tố tăng trưởng mô liên kết (Connective tissue growth factor, CTGF) và endothelin từ các tế bào biểu mô, đại thực bào phế Hình 1. Phân chia cây phế quản (Theo Usmani OS (6)). Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 13 nang làm kích thích các nguyên bào sợi phát triển dẫn đến sự xơ hóa đường thở nhỏ (hình 2) (7,8). Ở cấp độ vi thể, sự tái cấu trúc lại đường thở trong BPTNMT gây ra bởi các tế bào viêm mạn tính diễn ra lặp đi lặp lại làm xơ hóa đường thở nhỏ và phá hủy thành các phế nang, thêm vào đó là sự tăng chế tiết nhày trong lòng các phế quản. Tuy nhiên, khác với bệnh hen, người ta không thấy có sự dày lên của màng đáy và chỉ tăng sinh nhẹ lớp cơ trơn phế quản trong BPTNMT(hình 3) (9-11). Hình 2. Cơ chế bệnh sinh trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (theo Barnes PJ (8) ). Khói thuốc lá và các chất kích thích khác kích hoạt các tế bào biểu mô và các đại thực bào giải phóng một số yếu tố thu hút các tế bào viêm đến phổi, bao gồm CC-chemokine ligand 2 (CCL2) kích hoạt thụ thể CCL2 thu hút các bạch cầu đơn nhân; CXC-chemokine ligand 1 (CXCL1) và CXCL8 kích hoạt thụ thể CCL2 thu hút các bạch cầu đa nhân trung tính và bạch cầu đơn nhân; CXCL9, CXCL10 và CXCL11 kích hoạt thụ thể CXCR3 thu hút tế bào T helper 1 (TH1) và tế bào T cytotoxic type 1 (TC1). Các tế bào viêm cùng với đại thực bào và các tế bào biểu mô giải phóng một số protease như là matrix metalloproteinase 9 (MMP9) gây giáng hóa elastin và giãn phế nang; Neutrophil elastase gây ra sự tăng tiết nhày. Các tế bào biểu mô và đại thực bào giải phóng yếu tố tăng trưởng chuyển dạng- beta (TGF-β) kích thích các nguyên bào sợi phát triển dẫn đến sự sơ hóa đường thở nhỏ. Hình 3. Hình ảnh vi thể đường thở nhỏ và phế nang (Theo Van Den Berge M (9)). A. Cấu trúc đường thở nhỏ và phế nang bình thường; B. Xơ hóa đường thở nhỏ và phá hủy cấu trúc thành phế nang trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 14 3. ĐÁNH GIÁ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG ĐƯỜNG THỞ NHỎ TRONG BPTNMT Các phép đo sinh lý học: - Đo chức năng thông khí phổi thường quy: Đo chức năng thông khí phổi được xem là tiêu chuẩn vàng và sử dụng rộng rãi để đánh giá tắc nghẽn đường thở. Một chỉ số FEV1/FVC <70% xác nhận sự tắc nghẽn đường thở và sự giảm FEV1 giúp đánh giá mức độ tắc nghẽn. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, sức cản đường thở tập chủ yếu tại đường thở lớn. Do đó, mặc dù là vùng tổn thương chính trong cơ chế bệnh sinh của BPTNMT nhưng các rối loạn chức năng đường thở nhỏ lại ít biểu hiện rối loạn trên kết quả đo chức năng thông khí thường quy (6,7,12). Việc đánh giá lưu lượng thở ra khoảng giữa của dung tích sống gắng sức (FEF25-75) được McFadden và cộng sự đề cập đến từ khá lâu có thể cung cấp thêm thông tin về rối loạn chức năng đường thở nhỏ (13). Tuy nhiên, FEF25-75 phụ thuộc vào FVC và những thay đổi của FVC có thể ảnh hưởng đến kết quả xác định FEF25-75. Các nghiên cứu cho thấy kết quả của FEF25-75 có thể bị ảnh hưởng nếu kèm theo các tình trạng bẫy khí hoặc viêm đường thở nhỏ và cho kết quả bình thường nếu FEV1/FVC >75% (12,14-17). Do đó, trong các hướng dẫn hiện nay của Hội lồng ngực Mỹ và Hội Hô hấp châu Âu không khuyến sử dụng FEF25-75 để chẩn đoán rối loạn chức năng đường thở nhỏ (6,8). Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy thể tích thở ra tối đa trong 3 giây đầu tiên có thể hữu ích hơn FEF25-75 trong chẩn đoán loạn chức năng đường thở nhỏ. Sự sụt giảm của FEV1/FVC, FEV3/ FVC và chỉ số 1-FEV3/FVC tăng giúp đánh giá tắc nghẽn đường thở nhỏ (12,19). Ở một hướng khác, Cohen và cs cũng cho thấy sự giảm tỷ lệ FVC/SVC hữu ích để đánh giá tình trạng tắc nghẽn đường thở nhỏ (20). Đo thể tích ký thân: Đo thể tích ký thân là phương pháp hữu ích để đánh giá tình trạng khí cạm (air trapping) và căng phồng phổi (lung hyperinflation). Sự tắc nghẽn đường thở nhỏ trong BPTNMT sẽ làm ứ khí trong lòng các phế nang dẫn đến tăng thể tích phổi cuối thì thở ra (6,12,17). Thể tích khí cặn RV (residual volume) là một chỉ số quan trọng và tương quan với những biến đổi cấu trúc đường thở nhỏ trong BPTNMT (12). Chỉ số RV có thể tăng khá sớm khi có tắc nghẽn đường thở nhỏ ngay cả khi FEV1/FVC bình thường trên phép đo chức năng thông khí phổi (21,22) . Tuy nhiên, giới hạn trên giá trị bình thường của RV thay đổi theo theo tuổi và giới, do đó tỷ lệ phần trăm của RV so với trị số lý thuyết phản ánh tốt hơn tình trạng khí cạm so với giá trị tuyệt đối. Bên cạnh đó, tỷ số RV/TLC có thể hữu ích hơn trong việc đánh giá tình trạng khí cạm, khi mà TLC thường tăng trong BPTNMT (12,17). Phép đo sức cản đường thở (Raw) trong thể tích ký thân được xác định bằng sự chênh lệch lưu lượng dòng qua miệng với phế nang. Chỉ số này tăng lên trong BPTNMT và khá nhạy với những thay đổi của đường thở nhỏ sau khi sử dụng các thuốc giãn phế quản (23). Tuy nhiên, chỉ số này cũng không đặc hiệu và có những giới hạn trong đánh giá và theo dõi rối loạn chức năng đường thở nhỏ (19). - Đo dao động xung ký: Dao động xung ký (Impulse Oscillometry, IOS) là phương pháp mới để thăm dò các đặc điểm cơ học của hệ hô hấp, bao gồm sức cản đường thở và sự giãn nở của phổi. Nguyên tắc của IOS là phát ra các xung với tần số từ 5-35Hz phóng vào đường dẫn khí và toàn bộ phổi của người đo. Sau đó các cảm biến đo lại áp suất, lưu lượng thở của người đo và bằng các thuật toán có thể tính ra kháng trở (resistance, Rrs), kháng lực (reactance, Xrs) và các thông số khác. Ưu điểm của dao động xung ký so với đo chức năng Hình 4. Đánh giá FEF25-75 trên đường cong thể tích- thời gian (Theo Konstantinos Katsoulis K (17)) Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 15 thông khí phổi là bệnh nhân không cần gắng sức, điều này sẽ thuận lợi khi đánh giá cho người già và trẻ em. Hiện nay, Hội lồng ngực Mỹ và Hội Hô hấp châu Âu đã khuyến cáo IOS như một phép đo chức năng hô hấp cho trẻ em và người lớn (24,25). Trong phép đo dao động xung ký, R 5 là tổng kháng trở đường thở, R20 là kháng trở đường thở trung tâm (đường thở lớn) và do đó sự chênh lệch hiệu số R 5 -R 20 phản ánh kháng trở đường thở nhỏ. Một chỉ số khác là X5 cũng liên quan đến rối loạn chức năng đường thở nhỏ (26,27). R 5 -R 20 và X5 được đánh giá là tương quan mật thiết với triệu chứng khó thở (đánh giá bằng bảng điểm MRC và SGRQ) hơn là FEV1 (28). - Phương pháp rửa trôi Nitơ: Kỹ thuật rửa trôi Nitơ hơi thở đơn giản (Single breath nitrogen washout, SBNW) là một phương pháp cổ điển để xác định nồng độ Nitơ trong khí thở sau khi hít vào một lượng Oxy tinh khiết (100%). Kỹ thuật sẽ xác định được thể tích khí cặn (RV) và dung tích toàn phổi (Total lung capacity, TLC) từ phép đo dung tích sống thở chậm (Slow vital capacity, SVC) (12,17). SBNW rất nhạy cảm với những thay đổi sớm trong đường thở ở những người hút thuốc với sự gia tăng VC nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi khi đánh giá BPTNMT. Và do đó, SBNW không được xem như một phương pháp hữu ích để đánh giá rối loạn chức năng đường thở nhỏ (29). Kỹ thuật rửa trôi Nitơ hơi thở phức hợp (Multiple breath nitrogen washout, MBNW) là một cải tiến của SBNW. Bệnh nhân hít 100% Oxy liên tục cho đến khi nồng độ khí Nitơ thở ra bằng khoảng 1/40 so với ban đầu (khoảng 2%) giúp đánh giá chính xác hơn thể tích khí lưu thông (Tidal volume, TV) và dung tích cặn chức năng (Functional residual capacity, FRC) (30). Mặc dù vậy, kỹ thuật này hiện nay vẫn chỉ áp dụng trong các trung tâm nghiên cứu lớn, chưa phổ biến rộng rãi để đánh giá bệnh lý đường thở nhỏ (17). - Đo Nitric oxide trong khí thở ra: Nitric oxide (NO) là một chất khí và là một chất dẫn truyền thông tin phổ biến cơ thể với nhiều vai trò sinh lý. Sự tổng hợp NO tăng lên khi có đáp ứng viêm của cơ thể, do đó phương pháp xác định phân suất nồng độ NO trong khí thở ra (fraction of exhaled nitric oxide, FeNO) cho phép phát hiện viêm đường dẫn khí (12,17). FeNO nhạy cảm với các đáp ứng viêm qua bạch cầu ái toan, do đó nó được xem là phương pháp không xâm nhập hữu ích để đánh giá tình trạng viêm đường thở và đáp ứng với corticosteroid trị liệu trong bệnh hen (31- 33). Tuy nhiên, vai trò của FeNO trong đánh giá viêm đường thở ở bệnh nhân BPTNMT cho đến nay còn chưa rõ ràng (12,34). Một số nghiên cứu cho thấy FeNO tăng trong BPTNMT mặc dù không cao như trong bệnh hen (35,36). Trong khi đó, một số nghiên cứu khác không thấy sự khác biệt ở bệnh nhân BPTNMT so với nhóm không bệnh (34,37). Một số nghiên cứu khác cho thấy mức tăng FeNO có thể giúp dự đoán đáp ứng lâm sàng với ICS của bệnh nhân BPTNMT đánh giá bởi sự cải thiện FEV 1 , đặc biệt ở những bệnh nhân có tăng bạch cầu ái toan (38,39). Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: Chẩn đoán hình ảnh là phương pháp thăm dò rất quan trọng trong chuyên ngành hô hấp. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác nhau được áp dụng trong chẩn đoán các bệnh lý phổi. Tuy nhiên, các phương thức chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ lồng ngực thường quy có nhiều hạn chế khi đánh giá các bất thường của đường thở nhỏ. Những cải tiến về độ phân giải, phóng đại hình ảnh kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh chức năng hiện nay giúp đánh giá các bất thường của đường thở nhỏ tốt hơn, từ đó đối chiếu với lâm sàng để có thể đưa ra các phân loại kiểu hình, giúp tối ưu hóa điều trị. - Chụp cắt lớp vi tính: Đường thở nhỏ (kích thước <2mm) khó đánh giá thông qua hình ảnh cắt lớp vi tính ngực thường quy. Sử dụng cắt lớp vi tính độ phân giải cao (high-resolution computed tomography, HRCT) cũng chỉ cho phép đánh giá các phế quản có đường kính 2-2,5mm, tuy nhiên kỹ thuật này có thể gián tiếp đánh giá các tổn thương đường thở nhỏ thông qua đánh giá các tổn thương đường thở trung gian (40-42). Một chỉ số đo lường sự chênh lệch tỷ trọng giữa hình ảnh cắt lớp vi tính lúc hít vào và thở ra MLD E/I (Mean Lung Density between Expiratory and Inspiratory) cho phép đánh giá Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 16 trình trạng khí cạm (12,43). MLD E/I được xác định là khá nhạy cảm với những thay đổi sớm của đường thở nhỏ. Chỉ số này tương quan với tình trạng viêm của đường thở nhỏ được đánh giá qua chỉ số bạch cầu đa nhân trung tính trong đờm và cũng tương quan với giai đoạn SIII trong phép đo rửa trôi Nitơ hơi thở đơn giản (SBNW) (44). Tuy nhiên, kết quả đo lường MLD E/I có thể có sự dao động giữa những lần chụp khác nhau trên cùng một bệnh nhân, do đó chỉ số này khó có thể sử dụng để đánh giá sự đáp ứng điều trị (12). Gần đây, những ứng dụng đồ họa như PRM (parametric response map) cho phép tái tạo từ hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân giải cao, qua đó giúp phân chia thành các kiểu hình khác nhau của BPTNMT (hình 5), bổ sung cho các kiểu hình lâm sàng trong cá thể hóa điều trị (45,46). Những thành tựu mới về công nghệ hình ảnh cắt lớp vi tính vi thể (microtomography, MicroCT) cho phép đánh giá rõ ràng hơn về bệnh lý đường thở nhỏ, chi tiết đến các tiền tiểu phế quản tận cùng (hình 6). Trong tương lai gần, dựa trên hình ảnh MicroCT, người ta có thể phân chia ra các kiểu hình khác nhau (hình 7), từ đó có thể tối ưu hóa điều trị BPTNMT (47-49). - Hình ảnh cộng hưởng từ: Chụp cộng hưởng từ có ưu điểm là không chịu bức xạ như chụp cắt lớp vi tính, tuy nhiên kỹ thuật chụp cộng hưởng từ thường quy cũng bị giới hạn về độ phân giải khi đánh giá tổn thương đường thở nhỏ. Vấn đề này có thể được giải quyết với phương pháp chụp cộng hưởng từ siêu phân cực với Helium (3He MRI) (12,50). Hình ảnh tái tạo cấu trúc đường thở nhỏ dựa trên sự khuếch tán của 3He trong đường dẫn khí (hình 8). Một hệ số khuếch tán ADC (apparent diffusion co-efficient) được tính toán để đánh giá mức độ tổn thương đường dẫn khí (51). Hình 5. Các kiểu hình của BPTNMT xác định bởi PRM (Theo Galbán CJ (45)) Hình 6. Hình ảnh MicroCT đánh giá tiền tiểu phế quản tận cùng (Theo Tanabe N (48)) A: hình ảnh 3 chiều tiền tiểu phế quản tận cùng (preTB) và phế quản tận cùng (TB) B-E: hình ảnh các mặt cắt khác nhau và các phép đo lường tiền tiểu phế quản tận cùng Hình 8. Hình ảnh tái tạo 3He MRI (Theo Evans A (50)). A: hình ảnh MRI; B: hình ảnh mô phỏng khuếch tán 3He; C: biểu đồ khuếch tán 3He (hệ số ADC); i: người tình nguyện khỏe mạnh; ii: người BPTNMT mức độ trung bình; iii: người BPTNMT mức độ nặng. Nhóm A: hình ảnh bình thường; Nhóm B: kiểu hình ưu thế viêm đường thở nhỏ; Nhóm C: kiểu hình ưu thế giãn phế nang; Nhóm D: kiểu hình hỗn hợp. Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 17 ADC tăng lên ở những người hút thuốc và tương quan với tiền sử hút thuốc (52,53). Chỉ số nay tăng lên nhiều hơn trong BPTNMT và tương quan với chức năng phổi cũng như mức độ phá hủy phế nang (54,55). - Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh chức năng như xạ hình phổi (scintigraphy) với Tc99, chụp cắt lớp bằng bức xạ đơn photon (Single photon emission computed tomography, SPECT) và chụp cắt lớp bức xạ Positron (Positron emission tomography, PET) cũng cho phép đánh giá các tổn thương đường thở nhỏ. Tuy nhiên, giá trị cũng như phạm vi ứng dụng còn nhiều tranh cãi. Hơn nữa, đây là các kỹ thuật sử dụng phóng xạ và chi phí khá cao, do đó khó có thể trở thành phương pháp hữu ích trong thực hành lâm sàng (12, 56,57). 4. ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ Sử dụng thuốc hít là nền tảng trong quản lý BPTNMT, do đó những hiểu biết sâu về cơ chế tổn thương đường thở nhỏ trong BPTNMT là cơ sở để phát triển các thuốc có thể khuếch tán tới khu vực này, nâng cao hiệu quả điều trị (58). Thực tế hiện nay, phần lớn các thiết bị phân phối thuốc tạo ra các hạt có đường kính khoảng từ 2-6 μm MMAD (Median mass aerodynamic diameter), chủ yếu tập trung tại đường thở lớn. Chính vì vậy, việc điều trị có thể chưa mang lại hiệu quả tối ưu, đồng thời có thể gia tăng các tác dụng không mong muốn. Hướng tiếp cận để có thể đưa thuốc đến tận các đường thở nhỏ là tạo ra các thiết bị phân phổi thuốc với kích thước nhỏ (khoảng 1 μm MMAD), tốc độ di chuyển chậm (6,7,59). 5. KẾT LUẬN Những hiểu biết về vai trò của đường thở nhỏ trong BPTNMT ngày càng trở nên quan trọng vì sự cần thiết phải phân biệt các kiểu hình của bệnh. Điều đó sẽ giúp chúng ta có cách tiếp cận phù hợp hơn để đánh giá và điều trị bệnh nhân với mục tiêu cải thiện triệu chứng và chức năng. Bên cạnh đó, những hiểu biết về cơ chế bệnh sinh và tác dụng của các thuốc điều trị lên khu vực này sẽ là hướng tiếp cận để phát triển các dụng cụ phân phối thuốc mang lại hiệu quả điều trị tối ưu, đồng thời giảm bớt các tác dụng không mong muốn của thuốc. Tài liệu tham khảo 1. Lozano R, Naghavi M, Foreman K, et al. Global and regional mortality from 235 causes of death for 20 age groups in 1990 and 2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010. Lancet 2012; 380(9859): 2095-128. 2. Vos T, Flaxman AD, Naghavi M, et al. Years lived with disability (YLDs) for 1160 sequelae of 289 diseases and injuries 1990- 2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010. Lancet 2012; 380(9859): 2163-96. 3. Lopez AD, Murray CC. The global burden of disease, 1990-2020. Nat Med 1998;4:1241-1243. 4. GOLD. Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention of COPD, 2017 Report. strategy-diagnosis-management-prevention- copd/ 5. Ranga V, Kleinerman J. Structure and function of small airways in health and disease. Arch Pathol Lab Med 1978; 102: 609-617 6. Usmani OS, Barnes PJ. Assessing and treating small airways disease in asthma and chronic obstructive pulmonary disease. Ann Med. 2012 Mar;44(2):146-56. 7. Burgel PR. The role of small airways in obstructive airway diseases. Eur Respir Rev. 2011 Mar;20(119):23-33. 8. Barnes PJ. Cellular and molecular mechanisms of chronic obstructive pulmonary disease. Clin Chest Med. 2014 Mar;35(1):71-86. 9. Van Den Berge M, Ten Hacken NH, Cohen J, et al. Small airway disease in asthma and COPD: clinical implications. Chest.2011 Feb;139(2): 412- 23. 10. Martin C, Frija J, Burgel PR. Dysfunctional lung anatomy and small airways degeneration in COPD. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2013;8:7-13. 11. Bonini M, Usmani OS. The role of the small airways in the pathophysiology of asthma and chronic obstructive pulmonary disease. Ther Adv Respir Dis. 2015 Dec;9(6):281-93. 12. McNulty W, Usmani OS. Techniques of assessing small airways dysfunction. Eur Clin Respir J. 2014 Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 18 Oct 17;1:1-17 13. McFadden ER, Jr, Linden DA. A reduction in maximum mid-expiratory flow rate: a spirographic manifestation of small airway disease. Am J Med. 1972;52:725-37. 14. Boggs PB, Bhat KD, Vekovius WA, Debo MS. Volume-adjusted maximal mid-expiratory flow (Iso- volume FEF25–75%): definition of “Significant” responsiveness in healthy, normal subjects. Ann Allergy. 1982;48:137-8. 15. Sorkness RL, Bleecker ER, Busse WW, Calhoun WJ, Castro M, Chung KF, et al. Lung function in adults with stable but severe asthma: air trapping and incomplete reversal of obstruction with bronchodilation. J Appl Physiol. 2008;104:394- 403. 16. Sutherland ER, Martin RJ, Bowler RP, Zhang Y, Rex MD, Kraft M. Physiologic correlates of distal lung inflammation in asthma. J Allergy Clin Immunol. 2004;113:1046-50. 17. Konstantinos Katsoulis K, Kostikas K, Kontakiotis T. Techniques for assessing small airways function: Possible applications in asthma and COPD. Respir Med. 2016 Oct;119:e2-e9. 18. Pellegrino R, Viegi G, Brusasco V, et al. Interpretative strategies for lung function tests. Eur Respir J. 2005 Nov;26(5):948-68. 19. Hansen JE, Sun XG, Wasserman K. Discriminating measures and normal values for expiratory obstruction. Chest. 2006;129:369-77. 20. Cohen J, Postma DS, Vink- Klooster K. FVC to slow inspiratory vital capacity ratio: a potential marker for small airways obstruction. Chest. 2007 Oct;132(4):1198-203. 21. Turato G, Zuin R, Miniati M, et al. Airway inflammation in severe chronic obstructive pulmonary disease: relationship with lung function and radiologic emphysema. Am J Respir Crit Care Med. 2002;166:105-10. 22. Perez T, Chanez P, Dusser D, et al. Small airway impairment in moderate to severe asthmatics without significant proximal airway obstruction. Respir Med. 2013;107:1667-74. 23. Borrill ZL, Houghton CM, Woodcock AA, et al. Measuring bronchodilation in COPD clinical trials. Br J Clin Pharmacol. 2005;59:379-84. 24. Oostveen E, MacLeod D, Lorino H. The forced oscillation technique in clinical practice: methodology, recommendations and future developments. Eur Respir J. 2003 Dec;22(6):1026-41. 25. Beydon N, Davis SD, Lombardi E. An official American Thoracic Society/European Respiratory Society statement: pulmonary function testing in preschool children. Am J Respir Crit Care Med. 2007 Jun 15;175(12):1304-45. 26. Stevenson NJ, Walker PP, Costello RW, et al. Lung mechanics and dyspnea during exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease. Am J Respir Crit Care Med. 2005;172:1510-16. 27. Smith HJ, Reinhold P, Goldman MD. Forced oscillation technique and impulse oscillometry. In: Gosselink R, Stam H, eds. Lung Function Testing. Eur Respir Mon 2005; 31:72-105. 28. Haruna A1, Oga T, Muro S, et al. Relationship between peripheral airway function and patient- reported outcomes in COPD: a cross-sectional study. BMC Pulm Med. 2010 Mar 7;10:10. 29. Verbanck S. Physiological measurement of the small airways. Respiration. 2012;84:177-88. 30. Robinson PD, Goldman MD, Gustafsson PM. Inert gas washout: theoretical background and clinical utility in respiratory disease. Respiration. 2009; 78:339-55. 31. Essat M, Harnan S, Gomersall T, et al. Fractional exhaled nitric oxide for the management of asthma in adults: a systematic review. Eur Respir J. 2016 Mar;47(3):751-68. 32. Van Veen IH, Sterk PJ, Schot R, Gauw SA, Rabe KF, Bel EH. Alveolar nitric oxide versus measures of peripheral airway dysfunction in severe asthma. Eur Respir J. 2006;27:951-6. 33. Malinovschi A, Van Muylem A, Michiels S, et al. FeNO as a predictor of asthma control improvement after starting inhaled steroid treatment. Nitric Oxide. 2014;40:110-16. 34. Hynes G, Brightling C, Bafadhel M. Fractional exhaled nitric oxide in chronic obstructive pulmonary disease. Eur Respir J. 2015; 46(S59): PA3993 35. Ansarin K, Chatkin JM, Ferreira IM, et al. Exhaled nitric oxide in chronic obstructive pulmonary disease: relationship to pulmonary function. Eur Respir J. 2001;17:934-8. 36. Corradi M, Majori M, Cacciani GC, et al. Increased exhaled nitric oxide in patients with stable chronic obstructive pulmonary disease. Thorax. 1999;54:572-5. 37. Gelb AF, George SC, Silkoff PE, et al. Central and peripheral airway/alveolar sites of exhaled nitric oxide in acute asthma. Thorax. 2010;65:619-25. 38. Kunisaki KM, Rice KL, Janoff EN, et al. Exhaled nitric oxide, systemic inflammation, and the spirometric response to inhaled fluticasone propionate in severe chronic obstructive pulmonary disease: a prospective study. Ther Adv Respir Dis. 2008;2:55-64 39. Papi A, Romagnoli M, Baraldo S, et al. Partial reversibility of airflow limitation and increased exhaled NO and sputum eosinophilia in chronic obstructive pulmonary disease. Am J Respir Crit Care Med. 2000;162:1773-7. Hô hấp số 12/2017 Hô hấp số 12/2017 TỔNG QUAN 19 40. McDonough JE, Yuan R, Suzuki M, et al. Small- airway obstruction and emphysema in chronic obstructive pulmonary disease. N Engl J Med. 2011;365:1567-75 41. Nakano Y, Wong JC, de Jong PA, et al. The prediction of small airway dimensions using computed tomography. Am J Respir Crit Care Med. 2005;171:142-6. 42. Ohara T, Hirai T, Sato S, et al. Comparison of airway dimensions in different anatomic locations on chest CT in patients with COPD. Respirol Carlton Vic. 2006;11:579-85. 43. Hersh CP, Washko GR, Estépar RSJ, et al. Paired inspiratory-expiratory chest CT scans to assess for small airways disease in COPD. Respir Res. 2013;14:42. 44. Bommart S, Marin G, Bourdin A, et al. Relationship between CT air trapping criteria and lung function in small airway impairment quantification. BMC Pulm Med. 2014;14:29. 45. Galbán CJ, Han MK, Boes JL, et al. Computed tomography-based biomarker provides unique signature for diagnosis of COPD phenotypes and disease progression. Nat Med. 2012 Nov;18(11):1711-5. 46. Sheikh K, Coxson HO, Parraga G. This is what COPD looks like. Respirology. 2016 Feb;21(2):224- 36. 47. McDonough JE, Ren Yuan, Suzuki M, et al. Small- Airway Obstruction and Emphysema in Chronic Obstructive Pulmonary Disease. N Engl J Med. 2011 Oct 27; 365(17): 1567-1575. 48. Tanabe N, Vasilescu DM1, McDonough JE. Micro-Computed Tomography Comparison of Preterminal Bronchioles in Centrilobular and Panlobular Emphysema. Am J Respir Crit Care Med. 2017 Mar 1;195(5):630-638. 49. Hogg JC, McDonough JE, Suzuki M. Small airway obstruction in COPD: new insights based on micro-CT imaging and MRI imaging. Chest. 2013 May;143(5):1436-43. 50. Evans A, McCormack DG, Santyr G, el al. Mapping and quantifying hyperpolarized 3He magnetic resonance imaging apparent diffusion coefficient gradients. J Appl Physiol. 2008 Aug;105(2):693-9. 51. Van Beek EJR, Hoffman EA. Imaging in COPD. Imaging Decis MRI. 2009;13:11-17. 52. Kauczor HU, Ebert M, Kreitner KF, et al. Imaging of the lungs using 3He MRI: preliminary clinical experience in 18 patients with and without lung disease. J Magn Reson Imaging. 1997;7:538-43. 53. De Lange EE, Mugler JP, Brookeman JR, et al. Lung air spaces: MR imaging evaluation with hyperpolarized 3He gas. Radiology. 1999;210:851-7. 54. Salerno M, De Lange EE, Altes TA, et al. Emphysema: hyperpolarized helium 3 diffusion MR imaging of the lungs compared with spirometric indexes-initial experience. Radiology. 2002;222:252-60. 55. Yablonskiy DA, Sukstanskii AL, Leawoods JC, et al. Quantitative in vivo assessment of lung microstructure at the alveolar level with hyperpolarized 3He diffusion MRI. Proc Natl Acad Sci. 2002;99:3111-16. 56. Nagao M, Murase K, Ichiki T, Sakai S, Yasuhara Y, Ikezoe J. Quantitative analysis of technegas SPECT: evaluation of regional severity of emphysema. J Nucl Med. 2000;41:590-5. 57. Dolovich MB, Bailey DL. Positron emission tomography (PET) for assessing aerosol deposition of orally inhaled drug products. J Aerosol Med Pulm Drug Deliv. 2012;25(Suppl 1):S52-71. 58. Sturton G, Persson C, Barnes PJ. Small airways: an important but neglected target in the treatment of obstructive airway diseases. Trends Pharmacol Sci. 2008 Jul;29(7):340-5. 59. Usmani OS. Treating the small airways. Respiration. 2012;84(6):441-53.
File đính kèm:
roi_loan_chuc_nang_duong_tho_nho_trong_benh_phoi_tac_nghen_m.pdf

