Quản lý thai kỳ có tăng huyết áp mạn tính
Tăng huyết áp mạn tính là tình trạng tăng huyết áp xuất hiện
trước khi mang thai hoặc được phát hiện lần đầu trước 20 tuần tuổi
thai hoặc tồn tại kéo dài trên 12 tuần sau sinh. Đa số là tăng huyết
áp nguyên phát (90%), nhưng có khoảng 10% là thứ phát sau tình
trạng bệnh lý bất thường. Tăng huyết áp mạn tính được ước tính có
thể xuất hiện trong 1-5% thai kỳ và ngày càng phổ biến hơn. Những
kết quả nghiên cứu lớn gần đây cho thấy tăng huyết áp mạn tính
đưa tới nhiều kết quả bất lợi cho mẹ và thai nhi, cả ngắn và dài hạn.
Do đó, thai kỳ ở phụ nữ có tăng huyết áp mạn tính cần phải lên kế
hoạch và quản lý thật tốt. Bài viết trình bày cập nhật những kiến thức
mới giúp quản lý thai kỳ có tăng huyết áp mạn tính, nhấn mạnh đến
công tác tư vấn, quản lý trước khi mang thai, tối ưu hoá sức khoẻ mẹ
và thai nhi, điều trị bằng thuốc
Tóm tắt nội dung tài liệu: Quản lý thai kỳ có tăng huyết áp mạn tính
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 13 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 13 - 18, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Bùi Quang Trung Bệnh viện Mỹ Đức, TP. HCM QUẢN LÝ THAI KỲ CÓ TĂNG HUYẾT ÁP MẠN TÍNH Tác giả liên hệ (Corresponding author): Bùi Quang Trung, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Tóm tắt Tăng huyết áp mạn tính là tình trạng tăng huyết áp xuất hiện trước khi mang thai hoặc được phát hiện lần đầu trước 20 tuần tuổi thai hoặc tồn tại kéo dài trên 12 tuần sau sinh. Đa số là tăng huyết áp nguyên phát (90%), nhưng có khoảng 10% là thứ phát sau tình trạng bệnh lý bất thường. Tăng huyết áp mạn tính được ước tính có thể xuất hiện trong 1-5% thai kỳ và ngày càng phổ biến hơn. Những kết quả nghiên cứu lớn gần đây cho thấy tăng huyết áp mạn tính đưa tới nhiều kết quả bất lợi cho mẹ và thai nhi, cả ngắn và dài hạn. Do đó, thai kỳ ở phụ nữ có tăng huyết áp mạn tính cần phải lên kế hoạch và quản lý thật tốt. Bài viết trình bày cập nhật những kiến thức mới giúp quản lý thai kỳ có tăng huyết áp mạn tính, nhấn mạnh đến công tác tư vấn, quản lý trước khi mang thai, tối ưu hoá sức khoẻ mẹ và thai nhi, điều trị bằng thuốc. Abstract MANAGEMENT OF CHRONIC HYPERTENSION IN PREGNANCY Chronic hypertension in pregnancy is defined as blood pressure exceeding 140/90 mm Hg before pregnancy or before 20 weeks’ gestation or persistence of hypertension for >12 weeks after delivery. Primary hypertension is the most common cause of chronic hypertension in pregnant women (90%). Secondary hypertension can be due to one or more of the underlying disorders. Chronic hypertension is estimated to be present in 1% to 5% of pregnancies and is increasingly more commonly encountered. Reporting data from recent studies of pregnant women with chronic hypertension, shows that chronic hypertension in pregnancy is associated with increased rates of adverse maternal and fetal outcomes both acute and long term. Thus, pregnancy in women with chronic hypertension needs to be carefully planned and managed. This BÙI QUANG TRUNG 14 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 TỔ N G Q U A N article aims to provide new knowledge to manage pregnant women with chronic hypertension, emphasises counselling, pre-pregnancy management, optimising of maternal and fetal health, drug treatment. 1. Đại cương Tăng huyết áp (THA) mạn tính là một dạng của rối loạn THA trong thai kỳ, có thể ảnh hưởng đến 1-5% thai kỳ, tuỳ thuộc vào dân số nghiên cứu, và có xu hướng ngày càng tăng. THA mạn tính ngày càng tăng do tuổi mang thai ngày càng cao, tỉ lệ béo phì, tỉ lệ thai kỳ có kèm theo những bệnh lý khác như đái tháo đường, lupus, bệnh lý thận ngày càng tăng [1-4]. Phụ nữ có THA mạn tính xuất hiện các biến chứng trong thai kỳ với tỷ lệ cao: TSG ghép trên nền THA mạn tính (25,9%); mổ lấy thai (41,4%), sinh non dưới 37 tuần (28,1%), trẻ cân nặng < 2500g (16,9%), trẻ sơ sinh cần được chăm sóc đặc biệt (20.5%), và tử vong chu sinh (4,0%). Khi so sánh với các tỷ lệ tương ứng trong dân số chung: nguy cơ tương đối của TSG ghép trên nền THA mạn tính cao hơn 7,7 lần; mổ lấy thai cao hơn 1,3 lần, sinh non dưới 37 tuần cao hơn 2,7 lần, trẻ nặng < 2500g cao hơn 2,7 lần, trẻ sơ sinh cần được chăm sóc đặc biệt cao hơn 3,2 lần và tử vong chu sinh cao hơn 4,2 lần [5]. Đây là lý do để qua bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu về THA mạn tính, nhằm quản lý tốt hơn và đạt được kết cục thai kỳ tốt hơn. 2. Chẩn đoán tăng huyết áp mạn tính Mục đích của phân loại các rối loạn THA trong thai kỳ là để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp giữa các nhân viên y tế, tạo ra các phân nhóm có ý nghĩa tiên lượng khác nhau, kết cục khác nhau và tương ứng với mỗi nhóm có những cân nhắc khác nhau trong việc quản lý, giám sát. Theo đó, trong phân loại của ACOG năm 2013, các rối loạn THA trong thai kỳ chỉ được phân vào bốn nhóm: TSG – SG; THA mạn tính đơn thuần (vì bất kỳ nguyên nhân nào); TSG ghép trên nền THA mạn tính và THA thai kỳ. Phân loại này được đánh giá là đơn giản, chính xác và phù hợp với thực hành lâm sàng. Đồng thời còn giúp việc lưu trữ, quản lý và nghiên cứu gặp nhiều thuận lợi hơn [6]. Chúng ta thấy THA mạn tính được phân ra thành một nhóm riêng, không ghép chung với các dạng rối loạn khác. Việc tách THA mạn tính làm một phân nhóm riêng cũng được thấy trong phân loại của nhiều tổ chức khác [7]. THA mạn tính là tình trạng huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140mmHg và hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90mmHg trong 2 lần đo cách nhau ít nhất 4 giờ, xuất hiện trước khi mang thai hoặc được phát hiện lần đầu trước 20 tuần tuổi thai hoặc THA thai kỳ tồn tại kéo dài trên 12 tuần sau sinh [1]. THA hầu hết là nguyên phát và có khoảng 10% là THA thứ phát sau một tình trạng bệnh lý bất thường [1,8]. Các nguyên nhân gây THA thứ phát bao gồm các bệnh lý thận (viêm cầu thận, viêm thận kẽ, thận đa nang, hẹp động mạch thận); bệnh liên quan đến chất tạo keo (viêm thận lupus, xơ cứng bì, viêm đa động mạch nút); rối loạn nội tiết (biến chứng mạch máu do đái tháo đường, cường giáp, cushing); hẹp eo động mạch chủ [8-10]. 3. Quản lý trước khi mang thai Việc đánh giá sâu rộng trong giai đoạn này giúp đánh giá được nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng, xác nhận hay loại trừ các tổn thương cơ quan đích do THA gây ra hay sự hiện diện của những vấn đề sức khoẻ khác kèm theo [1,3,8,9,11]. Các mục tiêu cần hướng tới bao gồm xác định nguyên nhân THA, phân nhóm nguy cơ cao hay TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 15 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 13 - 18, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 nguy cơ thấp, kiểm soát tốt tình trạng THA và xử trí những rối loạn kèm theo [1,3,8,9,11] Với các trường hợp THA thứ phát, cần phải điều trị nguyên nhân gây ra THA. Quá trình thăm khám và điều trị có thể phối hợp hoặc chuyển đến các tuyến chuyên khoa, các chuyên gia điều trị tăng huyết áp [1,3,8,10]. Cần ghi nhận những đặc điểm làm gia tăng nguy cơ TSG ghép trên nền THA mạn tính như đái tháo đường, béo phì, bệnh thận, THA nặng và kéo dài trước khi mang thai và THA thứ phát Sau đó tư vấn bệnh nhân có hướng điều chỉnh phù hợp trước khi mang thai [1,8]. Kết cục thai kỳ trước của mẹ và thai nhi, đặc biệt cần ghi nhận tiền sử TSG, nhau bong non, sinh non, trẻ cân nặng nhỏ hơn so với tuổi thai, thai lưu và các kết cục sơ sinh xấu khác [1,8,9]. Các xét nghiệm cơ bản cần thực hiện bao gồm creatinine huyết thanh và protein nước tiểu để đánh giá bệnh lý thận, đồng thời sử dụng để đối chiếu trong giai đoạn sau của thai kỳ hay để giúp chẩn đoán khi có những dấu hiệu nghi ngờ TSG [1,3,8,9]. Nếu bệnh thận mạn tính được chẩn đoán hay có tiền sử gia đình thì cần thực hiện siêu âm thận để loại trừ bệnh thận đa nang [1]. Với các trường hợp THA mạn tính kéo dài, nhất là THA nặng cần đo điện tâm đồ và siêu âm tim để đánh giá chức năng thất trái cũng như chức năng tim toàn bộ [1,3,9]. Với những thai phụ có nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ cần thực hiện sớm nghiệm pháp dung nạp đường [1]. Đồng thời có thể xét nghiệm HbA1C để xác định xem có bệnh lý đái tháo đường trước khi mang thai không [3]. Những xét nghiêm cơ bản khác cũng cần thực hiện là điện giải đồ, acid uric, men gan, số lượng tiểu cầu chủ yếu sử dụng để đối chiếu trong giai đoạn sau của thai kỳ [1,8,11]. Đối với những phụ nữ đang điều trị THA, cần tìm hiểu kỹ về thời gian THA, thời gian sử dụng thốc hạ huyết áp, các loại thuốc và đáp ứng của mỗi loại [9]. Một điều cần lưu ý đó là các thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin và thuốc đối kháng mineralocorticoid cần tư vấn phải ngưng sử dụng trước khi mang thai, bởi có thể gây hại cho thai nhi [1,8,10]. Các thuốc nhóm statin cũng cần tránh sử dụng bởi có những bằng chứng đối lập về sự an toàn trong thai kỳ [1]. Cần thảo luận với những phụ nữ này về các thuốc được khuyến cáo sử dụng trong thai kỳ và trong giai đoạn trước khi mang thai là methyldopa, nifedipine hay labetalol [10]. Sau giai đoạn thăm khám, nhằm quản lý và tư vấn tốt hơn các thai kỳ có THA mạn tính, thai phụ có THA mạn tính thường được chia thành 2 nhóm nguy cơ: nguy cơ cao và nguy cơ thấp [3,11]. Các trường hợp nguy cơ thấp có khoảng 15% sẽ phát triển thành TSG ghép trên nền THA mạn tính, trong khi các trường hợp nguy cơ cao có thể lên đến trên 30% [3]. Kết cục thai kỳ ở thai phụ nguy cơ thấp không phát triển TSG thường tương tự như kết cục sản khoa nói chung [11]. Cần lưu ý những trường hợp nguy cơ thấp có thể phát triển thành nguy cơ cao trong giai đoạn sau của thai kỳ khi tuân thủ điều trị kém, THA nặng, phải tăng liều thuốc hạ áp [11]. 4. Quản lý trong thai kỳ Bước tiếp cận ban đầu Khi tiếp cận với một thai phụ có tình trạng THA mạn tính đã biết trước đó hay mới được chẩn đoán, việc đầu tiên là cần xác nhận hay loại trừ THA thứ phát (nếu chưa được thăm khám trước khi mang thai), thực hiện các khảo sát để đánh giá tình trạng các cơ quan đích, các vấn đề bệnh lý kèm theo nếu chưa có những khảo sát tương tự trước khi mang thai [1,3,8]. Điều trị tăng huyết áp mạn tính Trong thai kỳ mục tiêu điều trị chủ yếu tập trung vào việc ngăn ngừa những biến chứng cấp tính của THA gây ra cho mẹ và duy trì thai kỳ khoẻ mạnh lâu nhất có thể [1,8]. Đặc điểm Nguy cơ thấp (khi có tất cả các đặc điểm) Nguy cơ cao (khi có một trong các đặc điểm) Mức độ THA HA < 160/110 mmHg THA nặng ≥ 160/110 mmHg trước khi mang thai hay từ lần khám đầu tiên Loại THA THA nguyên phát không biến chứng THA thứ phát Số lượng thuốc điều trị ≤ 1 loại Cần ≥ 2 loại thuốc để kiểm soát huyết áp Tổn thương cơ quan đích Không Có bằng chứng tổn thương thận, rối loạn chức năng thất trái, bệnh lý võng mạc, tiền sử đột quỵ Tiền sử thai kỳ trước Không có kết cục xấu Tử vong chu sinh, nhau bong non, chấm dứt thai kỳ < 34 tuần Mức độ tuân thủ điều trị Tốt Tuân thủ điều trị kém Bảng1: Bảng phân nhóm nguy cơ của THA mạn tính BÙI QUANG TRUNG 16 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 TỔ N G Q U A N Các biện pháp điều trị không dùng thuốc như các chế độ ăn uống có lợi và vận động phù hợp được khuyến cáo tiếp tục duy trì, giảm cân và hạn chế muối không được khuyến cáo trong thai kỳ có THA mạn tính [1]. Năm 2013, ACOG đưa ra khuyến cáo điều trị bằng thuốc cho THA mạn tính khi HATT ≥ 160 mmHg hoặc HHATr ≥ 105 mmHg. Khuyến cáo tập trung chủ yếu vào ngưỡng HATTr, với ngưỡng điều trị thấp hơn 5 mmHg so với tiêu chuẩn THA nặng [1]. Đến thời điển hiện tại y văn vẫn chưa có thêm khuyến cáo mới hơn về ngưỡng điều trị cho THA mạn tính [3,11]. Với THA từ nhẹ đến trung bình, ACOG năm 2013 khuyến cáo không điều trị thuốc hạ huyết áp cho thai phụ THA mạn tính có HATT < 160 mmHg hoặc HHATr < 105 mmHg mà không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích [1]. Ngưỡng huyết áp mục tiêu khi điều trị ở thai phụ THA mạn tính được ACOG khuyến cáo là từ 80 – 105 mmHg với HATT và 120 – 160 mmHg với HATTr. Đối với riêng những trường hợp có bằng chứng tổn thương các cơ quan đích như có bệnh lý thận hay tim mạch, ngưỡng huyết áp được khuyến cáo thấp hơn (HATT < 140 mmHg và HHTTr < 90 mmHg) để tránh diễn tiến nặng của THA và những biến chứng khác trong thai kỳ. Ngưỡng thấp hơn nữa không được khuyến cáo do nguy cơ giảm tuần hoàn tử cung – nhau [1]. Có dữ liệu cho thấy nếu THA mạn tính nhẹ đến trung bình và kiểm soát tốt thì không làm tăng nguy cơ TSG, sản giật khi ngưng thuốc hạ huyết áp trong tam cá nguyệt đầu tiên [12]. Do đó, việc ngưng điều trị thuốc hạ huyết áp khi huyết áp đã ở mức thấp hơn huyết áp mục tiêu hay thấp hơn ngưỡng cao của huyết áp mục tiêu và sử dụng lại khi huyết áp tăng lên có thể là một chọn lựa phù hợp trên thực thế lâm sàng, tất nhiên cần đánh giá kỹ lưỡng từng trường hợp cụ thể, đồng thời phải có quá trình giám sát chặt chẽ khi quyết định ngưng thuốc. Tốt nhất cần thảo luận kỹ với thai phụ trước khi đưa ra quyết định tiếp tục hay ngưng điều trị [1]. Về thuốc, ngoài những lưu ý về các loại thuốc có chống chỉ định hay hạn chế sử dụng trong thai kỳ, việc lựa chọn thuốc sẽ phụ thuộc trước hết vào mục tiêu điều trị, vào những tác động có thể có của thuốc lên sức khoẻ của thai phụ và thai nhi [1,8,13]. Với THA nặng, khuyến cáo chọn lựa đầu tay là labetalol tiêm tĩnh mạch, hydralazin tiêm tĩnh mạch, hoặc nifedipine uống [1,14]. Để điều trị duy trì THA mạn tính trong thai kỳ, các thuốc được khuyến cáo lựa chọn đầu tay là labetalol đường uống, nifedipine phóng thích chậm và methyldopa [1,8,10]. Dự phòng TSG ghép trên nền THA mạn tính Trong một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu vừa được công bố đánh giá về hiệu quả của điều trị dự phòng TSG ở thai phụ THA mạn tính theo khuyến cáo của ACOG năm 2016 (Aspirin liều thấp từ 60 – 150 mg/ ngày, bắt đầu trong khoảng 12 – 28 tuần và kéo dài đến khi sinh) so với thời điểm chưa có khuyến cáo này. Trong số 715 thai phụ có THA mạn tính đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, có 80 thai kỳ sau khuyến cáo và 635 thai kỳ trước khuyến cáo của ACOG 2016 không khác biệt về các đặc điểm nhân khẩu học. Aspirin 81 mg được sử dụng sau khi khuyến cáo ra đời. Kết quả, tỷ lệ TSG ghép trên nền THA mạn tính sau khi khuyến cáo ra đời là 25 % (20/80), thấp hơn 57% so với trước khi khuyến cáo ra đời (37%, 232/635) (OR 0.43; 95% CI 0.26-0.73). Đồng thời, phân tích còn cho thấy hiệu quả đạt cao nhất khi thai phụ không có các yếu tố nguy cơ khác, với tỷ lệ tương ứng 4/41 (10%) so với 106/355 (30%) (OR 0.25; 95% CI 0.08-0.73). Đặc biệt, TSG nặng cũng giảm nhiều 2/41 (5%) so với 65/355 (18%) (OR 0.22; 95% CI 0.54-0.97) [15]. Quản lý thai kỳ THA mạn tính nguy cơ thấp Đối với thai phụ nhóm nguy cơ thấp, ngoài ưu tiên trong thai kỳ là kiểm soát huyết áp ở ngưỡng khuyến cáo, theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của TSG ghép trên nền THA mạn tính là những vấn đề cần quan tâm [3]. Thai phụ cần được hướng dẫn theo dõi và ghi chép các chỉ số huyết áp hằng ngày, theo dõi và báo cáo lại những triệu chứng nghi ngờ TSG. Tuỳ thuộc tình trạng THA và những diễn tiến khác, có thể có chỉ định sử dụng thuốc hạ huyết áp phù hợp [1,3]. Lịch thăm khám phù hợp nên là mỗi 3 tuần cho đến 28 – 30 tuần, sau đó là mỗi 2 tuần cho đến 36 tuần, rồi mỗi tuần cho đến khi CDTK. Tất nhiên, có thể thăm khám gần ngày hơn nếu tình trạng THA không được kiểm soát tốt [3]. Về phía thai nhi, cần thực hiện tầm soát dị tật trong TCN đầu tiên, cũng như thực hiện các siêu âm khảo sát dị tật ở TCN thứ 2 [3]. Một vấn đề cần đặc biệt TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 17 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 13 - 18, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 quan tâm đó là nguy cơ thai hạn chế phát triển trong tử cung (FGR) ở những thai phụ THA mạn tính. Để tầm soát, cần chú ý đo bề cao tử cung và siêu âm ước lượng trọng lượng thai nhi, tốt nhất là cần ghi chú và theo dõi trọng lượng thai nhi liên tục qua các lần khám thai [1]. Tần suất siêu âm có thể nên thực hiện cùng thời điểm mỗi lần khám thai của mẹ như đã nêu ở trên, với việc theo dõi sát diễn tiến cân nặng bắt đầu từ 34 tuần [3]. Việc phát hiện sớm và quản lý thích hợp FGR có thể giúp giảm được 20% thai lưu [16]. Nếu có bằng chứng của FGR thì những khảo sát về tuần hoàn nhau – thai ví dụ khảo sát siêu âm doppler động mạch rốn được khuyến cáo [1,3]. Trong đó khuyết dòng chảy cuối tâm trương hay dòng chảy đảo ngược là những dấu hiệu cần phải chấm dứt thai kỳ CDTK [1]. Ngoài ra các khảo sát sức khoẻ thai nhi (NST) cần thực hiện ở mỗi lần thăm khám, nếu có điều kiện có thể thực hiện khảo sát sinh trắc diện vật lý (BPP), đồng thời hướng dẫn thai phụ theo dõi cử động của thai nhi giúp tăng cơ hội phát hiện các tình trạng nguy hiểm có thể xảy ra [1,3]. Hiện tại chưa có dữ liệu nghiên cứu về thời điểm CDTK tối cứu cho thai phụ có THA mạn tính để giảm kết cục xấu cho mẹ và thai nhi. Tuy nhiên, ngoại suy từ những kết quả nghiên cứu ở nhóm thai phụ THA thai kỳ và TSG, ACOG khuyến cáo với nhóm thai phụ THA mạn tính nguy cơ thấp việc CDTK trước 38 tuần không được khuyến cáo [1]. Thởi điểm CDTK phù hợp được khuyến cáo là từ 38 – 39 tuần [2,3,11,17]. Quản lý thai kỳ THA mạn tính nguy cơ cao Đối với thai phụ nhóm nguy cơ cao, xu hướng theo dõi sớm thai kỳ và quản lý chặt chẽ hơn là cần thiết do kết cục thai kỳ thường nặng nề hơn cho mẹ và thai nhi, đồng thời còn có những nguy cơ tổn thương các cơ quan lâu dài. Đây cũng là chìa khoá để có một thai kỳ thành công [3,11]. Với nhóm nguy cơ cao này, cần duy trì thuốc hạ huyết áp nếu HATT ≥ 160 mmHg hoặc HHATr ≥ 105 mmHg. Với các trường hợp không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích, ý kiến chuyên gia cho rằng nên duy trì ngưỡng 140 – 150 mmHg với HATT và 90 – 100 mmHg với HATTr [11]. Đối với những trường hợp có bằng chứng tổn thương các cơ quan đích ngưỡng huyết áp được khuyến cáo thấp hơn (HATT < 140 mmHg và HHTTr < 90 mmHg) để tránh diễn tiến nặng của THA và những biến chứng khác trong thai kỳ. Lưu ý, ngưỡng thấp hơn nữa không được khuyến cáo do nguy cơ giảm tuần hoàn tử cung – nhau [1,3,11]. Ngoài những lưu ý tương tự nhóm thai phụ nguy cơ thấp, cần thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường sớm ở TCN thứ nhất và xem xét lặp lại ở TCN thứ hai cho nhóm thai phụ nguy cơ cao. Mật độ thăm khám có thể dày hơn, với những lưu ý cao hơn về các triệu chứng của TSG. Các xét nghiệm chức nặng thận, công thức máu và các xét nghiệm sinh hoá khác có thể cần xem xét lặp lại ở mỗi TCN. Nếu có những vấn đề sức khoẻ khác kèm theo, có thể phối hợp gửi khám các chuyên khoa khác [3]. Đối với thai nhi, cần đánh giá nghiêm ngặt hơn về sự tăng trưởng của thai nhi. Siêu âm khảo sát sự tăng trưởng của thai nhi nên bắt đầu từ 28 tuần và thực hiện mỗi 3 tuần hoặc có thể sớm hơn nếu lo lắng về FGR. NST hoặc BPP nên thực hiện hàng tuần, bắt đầu từ tuần 28 – 30 tuần và kéo dài cho đến thời điểm CDTK [3,11]. Có thể cần nhập viện nhiều lần để kiểm soát huyết áp nếu huyết áp khó kiểm soát hoặc những vấn đề khác như TSG ghép trên nền THA mạn tính, FGR[11]. Đa số các ý kiến chuyên gia đều cho rằng, những thai phụ này cần có một ngưỡng nhập viện thấp hơn vì những nguy cơ về một kết cục thai kỳ bất lợi cao hơn, cũng như nguy cơ tổn thương các cơ quan đích cao hơn [3]. Với thai kỳ ≥ 34 tuần, nếu xuất hiện bất kỳ biến chứng nào đều có chỉ định CDTK [11]. Với những trường hợp khác, cân nhắc CDTK khi thai 36 – 37 tuần [11] hay khi đủ 37 tuần [3]. 5. Quản lý giai đoạn hậu sản Phụ nữ có THA mạn tính nguy cơ cao và nguy cơ thấp nhưng có những diễn biến phức tạp (như TSG hay cơn THA nặng) có nguy cơ gia tăng các biến chứng trong giai đoạn hậu sản như phù phổi, bệnh não THA, suy tim sung huyết, suy thận. Đặc biệt nghiêm trọng nếu có phát triển TSG, nhau bong non hay có tổn thương các cơ quan đích. Ở những bệnh nhân này, huyết áp phải được kiểm soát chặt chẽ ít nhất đến 48 giờ sau khi sinh để tránh những biến chứng nghiêm trọng hơn [3,9]. Trong giai đoạn hậu sản, huyết áp thường cao hơn so với giai đoạn trước khi sinh, đặc biệt trong 1 – 2 tuần đầu. Huyết áp mục tiêu trong giai đoạn BÙI QUANG TRUNG 18 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 TỔ N G Q U A N hậu sản được đề nghị là HATT < 160 mmHg và HHTTr < 100 mmHg [1]. Tuỳ mức độ huyết áp, có thể sử dụng labetalol tiêm tĩnh mạch, hydralazine tiêm tĩnh mạch, hoặc nifedipine uống để hạ nhanh huyết áp xuống mục tiêu mong muốn [14]. Với trường hợp phù phổi hay ứ trệ tuần hoàn, cần xem xét sử dụng thuốc lợi tiểu [9]. Việc duy trì các thuốc hạ huyết áp đường uống có thể cần thiết trong giai đoạn hậu sản. Trong giai đoạn này, việc chọn lựa thuốc trở nên đơn giản hơn, có thể tiếp tục sử dụng các thuốc đã được sử dụng trong thai kỳ hoặc sử dụng trở lại các thuốc trước khi mang thai. Điều quan trọng là phải biết chọn lựa loại thuốc phù hợp với từng cá nhân [3,9]. Ví dụ, với phụ nữ có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc bệnh đái tháo đường thì thuốc ức chế men chuyển là lựa chọn phù hợp [3]. Trong giai đoạn hậu sản, nếu huyết áp vẫn còn nghiêm trọng dù đã sử dụng đầy đủ liều lượng của hai loại thuốc hạ huyết áp khác nhau thì cần gửi bệnh nhân đến chuyên gia THA để tìm nguyên nhân THA thứ phát [1]. Một điều cần lưu ý nữa khi sử dụng thuốc hạ huyết áp trong giai đoạn này, đó là khả năng phù hợp với việc cho con bú. Hầu hết các thuốc hạ huyết áp đều có thể tìm thấy trong sữa mẹ, dù nồng độ thường thấp hơn trong huyết tương. Tuy nhiên, vì lợi ích của việc cho con bú, nên phụ nữ THA mạn tính vẫn được khuyến khích cho con bú trong giai đoạn hậu sản, kể cả những phụ nữ phải tiếp tục điều trị hạ huyết áp [1-3]. 6. Kết luận THA mạn tính trong thai kỳ có liên quan với kết cục xấu ở mẹ và thai nhi, cả kết cục cấp tính và dài hạn. Quản lý thai kỳ có THA mạn tính nên được bắt đầu từ trước lúc có thai hoặc ngay từ lần khám thai đầu tiên. Để thuận lợi cho việc quản lý, những phụ nữ này nên được chia ra làm hai nhóm: nguy cơ thấp và nguy cơ cao với những lưu ý khác nhau trong quản lý thai kỳ. Việc quản lý thai kỳ THA mạn tính dựa vào những chứng cứ hiện nay trong y văn có thể giúp cho tiên lượng của thai kỳ trở nên tốt hơn. Tài liệu tham khảo 1. ACOG. Chronic Hypertension in Pregnancy and Superimposed Preeclampsia. In: Pregnancy TFoHi, editor. Hypertension in pregnancy Task Force on Hypertension in Pregnancy, ACOG ACOG; 2013. 2. Seely EW, Ecker J. Chronic Hypertension in Pregnancy. Circulation. 2014;129(11):1254-61. 3. Ankumah NE, Sibai BM. Chronic Hypertension in Pregnancy: Diagnosis, Management, and Outcomes. Clinical obstetrics and gynecology. 2017;60(1):206-14. 4. Bateman BT, Bansil P, Hernandez-Diaz S, Mhyre JM, Callaghan WM, Kuklina EV. Prevalence, trends, and outcomes of chronic hypertension: a nationwide sample of delivery admissions. American journal of obstetrics and gynecology. 2012;206(2):134.e1-8. 5. Bramham K, Parnell B, Nelson-Piercy C, Seed PT, Poston L, Chappell LC. Chronic hypertension and pregnancy outcomes: systematic review and meta- analysis. Bmj. 2014;348. 6. ACOG. Classification of Hypertensive Disorders. In: Pregnancy TFoHi, editor. Hypertension in pregnancy Task Force on Hypertension in Pregnancy, ACOG 2013b. 7. Gillon TER, Pels A, von Dadelszen P, MacDonell K, Magee LA. Hypertensive Disorders of Pregnancy: A Systematic Review of International Clinical Practice Guidelines. PloS one. 2014;9(12):e113715. 8. ACOG. Practice Bulletin No. 125: Chronic Hypertension in Pregnancy. Obstetrics & Gynecology. 2012;119(2):396-407. 9. Chronic Hypertension in Pregnancy [Internet]. The Global Library Of Women’s Medicine. 2008. Available from: view/heading/Chronic Hypertension in Pregnancy/item/156 - ref. 10. Whelton PK, Carey RM, Aronow WS, Casey DE, Jr., Collins KJ, Dennison Himmelfarb C, et al. 2017 ACC/AHA/AAPA/ABC/ACPM/AGS/APhA/ASH/ ASPC/NMA/PCNA Guideline for the Prevention, Detection, Evaluation, and Management of High Blood Pressure in Adults: Executive Summary: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines. Hypertension. 2018;71(6):1269-324. 11. Sibai BM. Chronic Hypertension. In: John T. Queenan CYS, Charles J. Lockwood, editor. Protocols for High-Risk Pregnancies: An Evidence-Based Approac. 6 ed. USA: Wiley blackwell; 2015. 12. Nakhai-Pour HR, Rey E, Bérard A. Discontinuation of antihypertensive drug use during the first trimester of pregnancy and the risk of preeclampsia and eclampsia among women with chronic hypertension. American journal of obstetrics and gynecology. 2009;201(2):180.e1-.e8. 13. Duley L, Meher S, Jones L. Drugs for treatment of very high blood pressure during pregnancy. The Cochrane database of systematic reviews. 2013(7):Cd001449. 14. ACOG. Committee Opinion No. 692: Emergent Therapy for Acute-Onset, Severe Hypertension During Pregnancy and the Postpartum Period. Obstetrics and gynecology. 2017;129(4):e90-e5. 15. Banala C, Cruz Y, Moreno C, Schoen C, Berghella V, Roman A. Impact of ACOG Guideline Regarding Low Dose Aspirin for Prevention of Superimposed Preeclampsia [27O]. Obstetrics & Gynecology. 2018;131:170S. 16. Imdad A, Yakoob MY, Siddiqui S, Bhutta ZA. Screening and triage of intrauterine growth restriction (IUGR) in general population and high risk pregnancies: a systematic review with a focus on reduction of IUGR related stillbirths. BMC Public Health. 2011;11(Suppl 3):S1-S. 17. Spong CY, Mercer BM, D’Alton M, Kilpatrick S, Blackwell S, Saade G. Timing of indicated late-preterm and early-term birth. Obstetrics and gynecology. 2011;118(2 Pt 1):323-33.
File đính kèm:
quan_ly_thai_ky_co_tang_huyet_ap_man_tinh.pdf

