Phương pháp đo độ bão hòa oxy qua da trong sàng lọc bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

Mục tiêu: Xác định giá trị của phương pháp đo độ bão hòa oxy qua

da trong phát hiện bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên

1.102 trẻ sơ sinh có chỉ số APGAR bình thường được sinh thường hoặc

mổ lấy thai tại khoa Phụ sản bệnh viện Trung ương Huế có tuổi thai ≥

35 tuần, từ tháng 3/2014 đến tháng 05/2015.

Kết quả: Số trẻ có độ bão hòa oxy < 95%="" chiếm="" tỷ="" lệ="" 3,9%="" (43="">

trong đó 83,7% (36/43) có dị tật tim bẩm sinh, 2 trường hợp tim bẩm

sinh nặng. Độ nhạy của phương pháp là 64,3% (95% KTC 51,7 - 76,8).

Độ đặc hiệu là 99,3% (95% KTC: 98,8 - 99,8). Giá trị dự báo dương tính

là 83,7% (95% KTC 72,6 - 94,7).

Kết luận: Đo độ bão hòa oxy qua da là một phương pháp hiệu quả

trong sàng lọc bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Phương pháp đo độ bão hòa oxy qua da trong sàng lọc bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phương pháp đo độ bão hòa oxy qua da trong sàng lọc bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

Phương pháp đo độ bão hòa oxy qua da trong sàng lọc bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh
TRẦN THỊ HOÀN, NGUYỄN VIẾT NHÂN, BẠCH CẨM AN, HOÀNG BẢO NHÂN, HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU,
HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, HOÀNG THỊ KIM VÂN, NGUYỄN THỊ HẬU
50
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trần Thị Hoàn(1), Nguyễn Viết Nhân(2), Bạch Cẩm An(1), Hoàng Bảo Nhân(1), Hoàng Thị Liên Châu(1), Hoàng Thị Bích Ngọc(1), Hoàng Thị Kim Vân(1), Nguyễn Thị Hậu(1) 
(1) Bệnh viện Trung ương Huế, (2) Trường Đại học Y Dược Huế
PHƯƠNG PHÁP ĐO ĐỘ BÃO HÒA OXY QUA DA
TRONG SÀNG LỌC BỆNH TIM BẨM SINH
Ở TRẺ SƠ SINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Thị Hoàn,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Từ khoá: Sàng lọc, tim bẩm sinh 
trẻ sơ sinh. 
Key words: Pulse oximetry, 
newborn, congenital heart 
disease.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định giá trị của phương pháp đo độ bão hòa oxy qua 
da trong phát hiện bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 
1.102 trẻ sơ sinh có chỉ số APGAR bình thường được sinh thường hoặc 
mổ lấy thai tại khoa Phụ sản bệnh viện Trung ương Huế có tuổi thai ≥ 
35 tuần, từ tháng 3/2014 đến tháng 05/2015. 
Kết quả: Số trẻ có độ bão hòa oxy < 95% chiếm tỷ lệ 3,9% (43 trẻ) 
trong đó 83,7% (36/43) có dị tật tim bẩm sinh, 2 trường hợp tim bẩm 
sinh nặng. Độ nhạy của phương pháp là 64,3% (95% KTC 51,7 - 76,8). 
Độ đặc hiệu là 99,3% (95% KTC: 98,8 - 99,8). Giá trị dự báo dương tính 
là 83,7% (95% KTC 72,6 - 94,7). 
Kết luận: Đo độ bão hòa oxy qua da là một phương pháp hiệu quả 
trong sàng lọc bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.
Từ khóa: sàng lọc, tim bẩm sinh trẻ sơ sinh.
Abstract 
ROLE OF PULSE OXIMETRY IN SCREENING 
CONGENITAL HEART DISEASE IN NEWBORN
Objective: To estimate the role of pulse oximetry in screening 
congenital heart disease in newborns. 
Materials and Methods: A cross-sectional descriptive study on 1.102 
newborns with normal Apgar score, who was delivered vaginally or 
by Cesarean section, from March 2014 to May 2015 were included. A 
pulse oximetry reading is considered normal when ≥ 95%. 
Results: There were 3.9% (43) had abnormal pulse oximetry reading, 
in which 83.7% (36/43) had congenital heart disease, two of them had 
severe congenital heart disease. Sensitivity of pulse oximetry was 
64.3% (95%CI: 51.7-76.8), and specificity of the method was 99.3% 
(95% CI: 98.8-99.8), positive predictive value was 83.7% (95% CI: 
72.6-94.7). 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 
cắt ngang.
2.3. Xử lý số liệu: theo phương pháp thống 
kê y học.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Số trẻ nam cao hơn trẻ nữ.
Tuổi thai trung bình là 39±1,15 tuần
3.2. Giá trị của phương pháp đo độ bão 
hòa oxy 
Số trẻ có độ bão hòa oxy <95% chiếm tỷ lệ 3,9%.
Sau khi siêu âm có 56/1102 trẻ có phát hiện dị 
tật tim bẩm sinh.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 50 - 53, 2016
51
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Conclusion: Pulse oximetry is a good method for screening congenital heart disease.
Keywords: pulse oximetry, newborn, congenital heart disease.
1. Đặt vấn đề 
Bệnh tim bẩm sinh là loại dị tật khá phổ biến trong 
các loại dị tật bẩm sinh. Tỷ lệ bệnh khoảng 0,5%-0,8% 
trẻ sinh ra sống [3,10,18], khoảng 40–50% trẻ mắc 
bệnh tim bẩm sinh được chẩn đoán trong tuần đầu sau 
sinh [5,13,19]. Một số dạng tim bẩm sinh nặng ảnh 
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ và làm tăng 
nguy cơ tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử 
trí kịp thời, những trẻ sống được sẽ có nguy cơ bị tổn 
thương hệ thần kinh trung ương [12,14]. Phương pháp 
phát hiện tim bẩm sinh chủ yếu và chính xác nhất hiện 
nay là siêu âm tim. Trên thế giới trong những năm gần 
đây đã có rất nhiều nghiên cứu về sàng lọc tim bẩm 
sinh nặng bằng máy đo bão hòa oxy qua da, và đã 
cho thấy rằng đây là một phương pháp đơn giản, ít chi 
phí, dễ thực hiện và có hiệu quả trong việc phát hiện 
sớm dị tật tim bẩm sinh [6,9,15].
Tại Việt Nam, việc sử dụng máy đo bão hòa 
oxy qua da để sàng lọc phát hiện sớm tim bẩm 
sinh nặng vẫn còn đang được nghiên cứu và chưa 
được áp dụng rộng rãi. Xuất phát từ những lý do 
nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài nhằm xác định 
giá trị của phương pháp đo độ bão hòa oxy qua 
da trong phát hiện bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh 
có độ bão hòa oxy < 95%.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Gồm 1102 trẻ được sinh đường âm đạo hoặc 
mổ lấy thai tại khoa Phụ sản bệnh viện Trung ương 
Huế có tuổi thai ≥ 35 tuần, từ tháng 3/2014 - 
tháng 05/2015.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Tất cả các trẻ sơ sinh có 
chỉ số APGAR bình thường, sau sinh hoặc mổ lấy 
thai từ 24 giờ tuổi.
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ suy hô hấp; Trẻ bị ngạt 
lúc sinh ra hay sau đó; Trẻ bị sang chấn sản khoa: 
gãy chi, gãy xương đòn; Trẻ có kết quả siêu âm 
sàng lọc trước sinh có tim bẩm sinh.
Giới tính Số lượng Tỷ lệ %
Nam 605 54,9
Nữ 497 45,1
Tổng 1102 100,0
Bảng 1. Giới tính
Độ bão hòa oxy Số lượng Tỷ lệ %
Dương tính (<95%) 43 3,9
Âm tính (≥95%) 1059 96,1
Tổng 1102 100,0
Bảng 3. Kết quả đo độ bão hòa oxy qua da
Siêu âm Số lượng Tỷ lệ %
Bình thường 1046 94,9
Tim bẩm sinh 56 5,1
Tổng 1102 100,0
Bảng 4. Tỷ lệ trẻ sơ sinh mắc bệnh tim bẩm sinh khi siêu âm
Dị tật tim bẩm sinh Số lượng Tỷ lệ %
Có dị tật tim bẩm sinh 36 83,7
Không có dị tật tim bẩm sinh 7 16,3
Tổng 43 100,0
Bảng 5. Tỷ lệ dị tật tim bẩm sinh trong nhóm có độ bão hòa oxy < 95%
Tuổi thai (tuần) Số lượng Tỷ lệ %
35-37 60 5,4
38 - 42 1042 94,6
Tổng 1102 100
Tuổi thai trung bình 39±1,15
Bảng 2. Tuổi thai lúc sinh
Số trẻ có độ bão hòa oxy <95% mắc dị tật tim 
bẩm sinh là 36/43.
Có nhiều loại DTTBS được phát hiện, trong đó 
có 2 trường hợp DTTBS nặng.
Độ nhạy của phương pháp 36/56 = 64,3% 
(KTC 95% : 51,7% - 76,8%. 
Độ đặc hiệu : 1039/1046 = 99,3% (KTC 95%: 
98,8% - 99,8%). 
Giá trị dự báo dương tính : 36/43 = 83,7% 
(KTC 95%: 72,6% - 94,7%). 
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 
Tỷ lệ nam trong nghiên cứu của chúng tôi là 
54,9% và nữ là 45,1%. Điều này phù hợp với 
nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng và Võ Thị Hoa 
tỷ lệ nam cũng nhiều hơn nữ (70,8 và 29,2%) [2]. 
Tương tự kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lam 
Hồng tỷ lệ trẻ nam cũng lớn hơn trẻ nữ [1].
TRẦN THỊ HOÀN, NGUYỄN VIẾT NHÂN, BẠCH CẨM AN, HOÀNG BẢO NHÂN, HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU,
HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, HOÀNG THỊ KIM VÂN, NGUYỄN THỊ HẬU
52
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Thể bệnh
Độ bão hòa 
oxy < 95%
Độ bão hòa 
oxy ≥95% Tổng
n % n %
Còn ống động mạch 7 19,4 18 90,9 25
Hẹp van ĐM phổi, còn ống động mạch 3 8,3 0 0 3
Hẹp ĐM phổi, còn ống động mạch 2 5,6 0 0 2
Hẹp van ĐM chủ, Còn lỗ Botal 2 5,6 0 0 2
Thông liên thất, Thông liên nhĩ thứ phát 2 5,6 0 0 2
Thông liên nhĩ, Hở 3 lá 1 2,8 0 0 1
Hở van 3 lá, dãn nhẹ buồng nhĩ phải, còn ống động mạch 1 2,8 0 0 1
Tim 1 thất 1 nhĩ, 1 bộ máy van nhĩ thất 1 2,8 0 0 1
Thông liên nhĩ, còn ống động mạch 3 8,3 0 0 3
Thông liên thất, còn ống động mạch 4 11,1 2 9,1 6
Hẹp ĐMP, dãn nhẹ 4 buồng tim 1 2,8 0 0 1
Thông liên thất, hẹp nhẹ van ĐM phổi, còn ống động mạch 1 2,8 0 0 1
Teo tịt van phổi 1 2,8 0 0 1
Block A-V cấp 3 1 2,8 0 0 1
Hẹp eo ĐM chủ, thiểu sản thất trái 1 2,8 0 0 1
Thất trái dãn nhẹ, còn ống động mạch 1 2,8 0 0 1
Thất phải hai đường ra, thông liên thất, Hẹp eo ĐM 
chủ, còn ống động mạch, tăng áp phổi 1 2,8 0 0 1
Tim 1 thất, hẹp van ĐM phổi 1 2,8 0 0 1
Các dị tật tim bẩm sinh nặng (CCHD)
Chuyển vị đại động mạch 1 2,8 0 0 1
Tứ chứng Fallot 1 2,8 0 0 4
Tổng 36 100,0 20 100,0 56
Bảng 6. Các dị tật tim bẩm sinh phát hiện được
Kết quả sàng lọc Có dị tật tim bẩm sinh Không có dị tật tim bẩm sinh Tổng
Độ bão hòa oxy < 95% 36 7 43
Độ bão hòa oxy ≥ 95% 20 1039 1059
Tổng 56 1046 1102
Bảng 7. Giá trị của đo độ bão hòa oxy qua da trong sàng lọc tim bẩm sinh
Tuổi thai trung bình của các trẻ trong nghiên cứu 
của chúng tôi là 39 ± 1,15 tuần, tuổi thai phổ biến 
là 40 tuần, tuổi thai thấp nhất là 35 tuần và tuổi thai 
cao nhất là 42 tuần. Khi phân nhóm tuổi thai theo 
tuần kết quả cho thấy các trẻ trong nhóm tuổi thai từ 
38-42 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (94,6%), nhóm tuổi 
thai từ 35-37 tuần chiếm tỷ lệ 5,4%. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi gần với nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Lam Hồng 72,1% là trẻ đủ tháng [1]. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi tỷ lệ trẻ đủ tháng cao hơn nhiều so 
với trẻ non tháng do đối tượng nghiên cứu của chúng 
tôi chọn là trẻ có tuổi thai ≥ 35 tuần.
4.2. Giá trị của phương pháp đo độ bão 
hòa oxy 
Trong nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3 có 
43/1102 trẻ có độ bão hòa oxy < 95% chiếm tỷ 
lệ 3,9%. Kết quả nầy phù hợp với Romain A và 
cộng sự [16].
Số trẻ được phát hiện có dị tật tim bẩm sinh 
(DTTBS) sau khi siêu âm tim chiếm tỷ lệ 5,1% 
(56/1102) (bảng 4). Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi thấp hơn nhiều so với kết quả của tác 
giả Nguyễn Thị Lam Hồng là 46,2%. Sự khác nhau 
này do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là ở trẻ 
có APGAR bình thường trong khi đối tượng nghiên 
cứu của tác giả Lam Hồng là các trẻ nằm ở phòng 
hồi sức sơ sinh.
Kết quả ở bảng 5 cho thấy tỷ lệ trẻ có SpO2 < 
95% có DTTBS là 83,7% (36/43). Ở bảng 6 chúng 
tôi nhận thấy có hầu hết các loại DTTBS từ nhẹ như 
COĐM đơn thuần đến DTTBS nặng như tứ chứng 
Fallot, chuyển vị đại động mạch, tim một thất một nhĩ 
một bộ máy nhĩ thất, teo tịt van phổi... Có trẻ có một 
loại tật TBS nhưng cũng có trẻ có nhiều hơn hai tật.
Theo Sin Weon Yun các loại DTTBS là biến đổi 
từ nhẹ cho đến loại nguy hiểm [17]. Và các loại 
DTTBS nghiêm trọng đe dọa đời sống của trẻ có 
thể không có biểu hiện sớm ngay sau sinh để có 
thể phát hiện được.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 7 cho 
thấy độ nhạy 64,3% phù hợp với kết quả nghiên 
cứu của một số tác giả khác: Nguyễn Thị Lam Hồng 
67,4% [1], Granelli A. D 62% [9] và 62,5% [8], 
Ewer và cộng sự 75,0%. 
Độ đặc hiệu trong nghiên cứu của chúng tôi là 
99,3%, cao hơn so với của Nguyễn Thị Lam Hồng 
78,4% [1], nhưng phù hợp với kết quả của các tác 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 50 - 53, 2016
53
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
giả Granelli A.D 98,07% [8], Alf Meberg 99,4% 
[11] và của Tajwar Aamir là 96% [18].
Trong nghiên cứu của chúng tôi giá trị dự báo 
dương tính là 83,7%, phù hợp với kết quả của 
Chang và cộng sự 89% [7] và của tác giả Granelli 
A.D là 89% [9]. 
5. Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu phương pháp đo độ 
bão hòa oxy qua da trong sàng lọc bệnh tim bẩm 
sinh ở trẻ sơ sinh, chúng tôi có một số kết luận 
sau: Số trẻ có độ bão hòa oxy < 95% chiếm tỷ lệ 
3,9% trong đó 83,7% có dị tật tim bẩm sinh. Đo độ 
bão hòa oxy qua da là một phương pháp hiệu quả 
trong sàng lọc bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh 
với độ nhạy 64,3% và độ đặc hiệu là 99,3% giá trị 
dự báo dương tính là 83,7%. 
Kiến nghị
Nên áp dụng việc đo độ bảo hòa oxy qua da 
cho tất cả các trẻ sơ sinh tại các khoa Sản hoặc 
cơ sở y tế có chức năng chăm sóc sơ sinh trước khi 
xuất viện để sàng lọc các dị tật tim bẩm sinh, đặc 
biệt là các dị tật tim bẩm sinh nghiêm trọng.
Đưa sàng lọc dị tật tim bẩm sinh bằng phương 
pháp đo độ bão hòa oxy qua da vào chương trình 
sàng lọc sơ sinh quốc gia.
Xây dựng chế độ giá hoặc bảo hiểm y tế để tạo 
thuận lợi cho việc triển khai chương trình sàng lọc.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Lam Hồng (2013), “Nghiên cứu giá trị của đo độ 
bão hòa oxy qua da trong việc phát hiện sớm tim bẩm sinh ở trẻ 
sơ sinh”, Luận văn tốt nghiệp cao học , trường Đại học Y Hà Nội. 
2. Nguyễn Văn Hùng, Võ Thị Hoa (2003),“Nghiên cứu đặc điểm 
lâm sàng và cận lâm sang của tứ chứng Fallot ở trẻ em”, Luận văn 
bác sỹ Y khoa, Trường Đại học Y Dược Huế.
3. Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Thanh Liêm (2011), “Mô hình các dị 
tật tim bẩm sinh tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Trung ương tháng 
10 năm 2010”, Tạp chí Y học thực hành (756). Số 3, tr 63-65.
4. Lê Nguyễn Nhật Trung (2014), “Sàng lọc tim bẩm sinh nặng 
bằng máy đo độ bão hòa oxy qua da”, Hội nghị khoa học Nhi khoa 
toàn quốc lần thứ XXI, thành phố Huế, 5/2014.
5. Benton N, Hokanson J, (2010), Missed Congenital Heart Disease 
in Neonates, Congenital Heart Dis,5: 292-296.
6. Beissel DJ, Elizabeth MG, Hokanson JS (2012), “Pulse oximetry 
screening in Wisconsin”, Congenit Heart Dis, 7: 460-465
7. Chang RKR, Rodriguez S, Klitzner TS (2009), Screening 
Newborns for Congenital Heart Disease with Pulse Oximetry: Survey 
of Pediatric Cardiologists, Pediatric Cardiol, 30:20-25
8. Granelli AW, Wennergren M, Sandberg K, Mellander M et al 
(2009), Impact of pulse oximetry screening on the detection of 
duct dependent congenital heart disease: a Swedish prospective 
screening study in 39821 newborns,Bmj,338:a3037
9. Granelli AW, (2009) Pulse oximetry: Evaluation of a potential tool 
for early detection of critical congenital heart disease . Gothenburg, 
Sweden.
10. Hanning CD, Williams JMA, (1995) Pulse oximetry:a pracocal 
review, BMJ, Vol 311:367-370.
11. Meberg A, Sabine BP, Reidar DJ, Eskedal E, Fagerli N, et 
al (2008) First Day of Life Pulse Oximetry Screening to Detect 
Congenital Heart Defects,The Journal of Pediatrics, 152: 761-765.
12. Mahle WT, Martin GR, Robert H, Morrow WR, Rosenthal GL et al 
(2012) Endorsement of Health and Human Services Recommendation 
for Pulse Oximetry Screening for Critical Congenital Heart Disease, 
American Academy of Pediatrics,129,190-192 
13. Abu-Harb M, Wyllie J, Hey E, Richmond S, Wren C (1994), 
Presentation of obstructive left heart malformations in infancy, 
Archives of Disease in Chilhood, 71:179-183.
14. Mahle WT, Newburger JW, Matherne GP, Smith FC, Hoke TR 
(2009), Role of pulse oximetry in examining newborn for congenital 
heart disease, Circulation, 120(5):447-458 
15. Powell R, Pattison HM, Bhoyar A, Furmston AT, Middleton L et 
al (2013) Pulse oximetry screening for congenital heart defects in 
newborn infants: an evaluation of acceptability to mothers, Arch Dis 
Child Fetal Neonatal Ed, 98: F59-F63.
16. Romaine A, Bauschats AS, Monkhoff M, Essers B, Bauersfeld 
U (2006), The contribution of pulse oximetry to the early detection 
of congenital heart disease in newborns, Eur J Pediatr, 165: 94-98
17. Yun SW (2011), Congenital Heart Disease in the newborn 
requiring early intervention, Korean J Pediatr 2011, 54(5): 183-191.
18. Aamir T , Kruse L, Ezeakudo O, (2007) Delayed diagnosis of 
critical congenital cardiovascular malformations (CCVM) and pulse 
oximetry screening of newborns, Acta Pediatrica, 96: 1146-1149.
19. Wren C, Reinhardt Z, Khawaja K (2008), Twenty-year trends in 
diagnosis of life-threatening neonatal cardiovascular malformations, 
Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed, 93: F33-F35.

File đính kèm:

  • pdfphuong_phap_do_do_bao_hoa_oxy_qua_da_trong_sang_loc_benh_tim.pdf