Phòng bệnh phù thai do hemoglobin bart’s: sàng lọc người mẹ mang thai, phát hiện người mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh

Hb Bart’s - Α thalassemia thể nặng là một trong các nguyên nhân gây phù thai phổ biến nhất ở Đông Nam Á. mục tiêu nghiên cứu: Sàng lọc người mẹ mang thai, phát hiện người mang gen α0 thalassemia và chẩn đoán trước sinh hội chứng phù thai do Hemoglobin Bart’s ở các thai phụ có tiền sử và/hoặc bị phù thai. Đối tượng và phương pháp: 55 cặp vợ chồng có tiền sử và/hoặc đang có biểu hiện phù thai được sàng lọc người mang gen dựa trên các chỉ số RBC, HGB, HCT, MCV, MCH, HbA 2, phân tích ADN và chẩn đoán trước sinh bệnh Hb Bart’s. Kết quả: 100% là người dị hợp tử đột biến mất đoạn hai gen (--SEA/αα)). Chẩn đoán trước sinh cho 7 thai phụ có tiền sử phù thai nhưng chưa biểu hiện phù thai ở lần mang thai hiện tại: 6 thai nhi mắc Hb Bart’s (--SEA/--SEA), 1 thai nhi là người mang gen (-- SEA/αα). 3 thai nhi sau khi đình chỉ thai được xác định mắc Hb Bart’s bằng máu cuống rốn. Kết luận: Sàng lọc người mang gen và chẩn đoán trước sinh bệnh phù thai do Hb Bart’s có ý nghĩa quan trọng trong tư vấn di truyền, phòng bệnh

pdf 4 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Phòng bệnh phù thai do hemoglobin bart’s: sàng lọc người mẹ mang thai, phát hiện người mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phòng bệnh phù thai do hemoglobin bart’s: sàng lọc người mẹ mang thai, phát hiện người mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh

Phòng bệnh phù thai do hemoglobin bart’s: sàng lọc người mẹ mang thai, phát hiện người mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
23
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 23 - 26, 2013
PHÒNG BỆNH PHÙ THAI DO HEMOGLOBIN BART’S: 
SÀNG LỌC NGƯỜI MẸ MANG THAI, PHÁT HIỆN NGƯỜI 
MANG GEN BỆNH VÀ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
ngô Diễm ngọc(1), Lý Thị Thanh hà(1), ngô Thị Tuyết nhung(1), nguyễn Thị phương Mai(1), Trần Danh Cường(2), 
nguyễn Thị Tân Sinh(3), Trần hồng hà(1), Dương Bá Trực(1), Trần Thị Thanh hương(2), nguyễn Thanh Liêm(1)
(1) Bệnh viện Nhi Trung ương, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội 
tóm tắt
Hb Bart’s - α thalassemia thể nặng là một trong các 
nguyên nhân gây phù thai phổ biến nhất ở Đông Nam 
Á. mục tiêu nghiên cứu: Sàng lọc người mẹ mang 
thai, phát hiện người mang gen α0 thalassemia và chẩn 
đoán trước sinh hội chứng phù thai do Hemoglobin 
Bart’s ở các thai phụ có tiền sử và/hoặc bị phù thai. 
Đối tượng và phương pháp: 55 cặp vợ chồng có tiền 
sử và/hoặc đang có biểu hiện phù thai được sàng lọc 
người mang gen dựa trên các chỉ số RBC, HGB, HCT, 
MCV, MCH, HbA2, phân tích ADN và chẩn đoán trước 
sinh bệnh Hb Bart’s. Kết quả: 100% là người dị hợp tử 
đột biến mất đoạn hai gen (--SEA/αα)). Chẩn đoán trước 
sinh cho 7 thai phụ có tiền sử phù thai nhưng chưa biểu 
hiện phù thai ở lần mang thai hiện tại: 6 thai nhi mắc 
Hb Bart’s (--SEA/--SEA), 1 thai nhi là người mang gen (--
SEA/αα). 3 thai nhi sau khi đình chỉ thai được xác định 
mắc Hb Bart’s bằng máu cuống rốn. Kết luận: Sàng 
lọc người mang gen và chẩn đoán trước sinh bệnh phù 
thai do Hb Bart’s có ý nghĩa quan trọng trong tư vấn di 
truyền, phòng bệnh.
từ khóa: Phù thai, Hb Bart’s, đồng hợp tử α0 
thalassemia, α thalassemia thể nặng.
ABStRACt 
PrevenTion oF hb barT’s hydroP FeTalis: 
deTecTion oF α Thalassemia Through PrenaTal 
screening and PrenaTal diagnosis
In Southeast Asia, Hb Bart’s - α thalassemia 
major is the most common cause of Hydrop Fetalis. 
Aim: Screening for α0 thalassemia carrier and 
prenatal diagnosis for Hb Bart’s for couples affected 
with Hydrop Fetalis. materials and methods: 
55 couples affected with Hydrop Fetalis were 
screening by MCV, MCH, DNA analysis and prenatal 
diagnosis for Hb Bart’s. Results: 100% of them are 
heterozygote of (--SEA/αα). Prenatal diagnosis for 7 
pregnant women: 7 fetus were diagnosed by DNA 
testing of amniotic fluids (6 fetus were affected 
with Hb Bart’s, 1 fetus was carrier of (--SEA/αα)). 3 
fetus were confirmed by DNA testing of cord blood 
at birth was affected with Hb Bart’s. Conclusion: 
Screening for couples at risk and prenatal diagnosis 
for Hb Bart’s play an important role for genetics 
counseling and prevention of this disorder.
Key words: Hydrop Fetalis, Hb Bart’s, α 
thalassemia major.
Đặt vấn Đề
Phù thai là một bệnh lý nặng, có tiên lượng xấu đối 
với các thai nhi mắc bệnh, trong đó nguyên nhân gây 
phù thai phổ biến nhất là bệnh α thalassemia thể nặng, 
hay còn gọi bệnh Hemoglobin Bart;s (Hb Bart’s), chiếm 
tới 60-90% các trường hợp phù thai tại Đông Nam Á [1]. 
Bệnh α thalassemia là bệnh di truyền lặn trên nhiễm 
sắc thể thường, do đột biến gen α globin, gây nên tình 
trạng giảm hoặc không tổng hợp được chuỗi α globin, 
là thành phần cấu tạo nên phân tử Hemoglobin (Hb) 
của cả thai nhi (α2γ2) và của người trưởng thành (α2β2). 
Trong giai đoạn thai, loại Hb được sản xuất chủ yếu là 
HbF (α2γ2). Thai nhi không có gen α globin thì loại Hb 
được sản xuất chủ yếu sẽ là Hb Bart’s (γ4). Đây là loại 
Hb có ái lực cao với oxygen, do đó oxy không được vận 
chuyển đến tổ chức. Thai nhi mắc bệnh Hb Bart’s có biểu 
hiện thiếu oxy rất nặng, suy tim, phù thai, nhất là ở giai 
đoạn cuối của thai kỳ, dẫn đến tử vong ngay trong bụng 
mẹ hoặc ngay sau khi sinh. Bệnh lý này được mô tả đầu 
tiên vào năm 1960, có tên gọi là bệnh đồng hợp tử α0 
thalassemia hoặc bệnh phù thai do Hb Bart’s. [2]
Người mang gen (dị hợp tử) α0 thalassemia thường 
không có biểu hiện lâm sàng. Họ có cuộc sống bình 
thường và có khả năng sinh sản bình thường. Trong khi 
đó, người bệnh α0 thalassemia (đồng hợp tử) mất hoàn 
toàn 4 gen α globin lại không có khả năng thích nghi với 
cuộc sống. Nếu một cặp vợ chồng đều là người mang 
gen α0 thalassemia sẽ có 25% nguy cơ sinh một em bé bị 
phù thai do Hb Bart’s. Ngoài ra người mẹ mang thai em 
bé này còn có thể mắc nhiều biến chứng sản khoa nặng 
ngô DiễM ngọC, Lý Thị Thanh hà, ngô Thị TuyếT nhung, nguyễn Thị phương Mai, Trần Danh Cường, 
nguyễn Thị TÂn Sinh, Trần hồng hà, Dương Bá TrựC, Trần Thị Thanh hương, nguyễn Thanh LiêM
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
24
SẢN KHOA VÀ SƠ SINH
nề như nhiễm độc thai nghén, chảy máu sau đẻ. Theo 
nghiên cứu tại Quảng Đông, Trung Quốc, trong quần 
thể người Đông Nam Á, có 4-20% dân số là người mang 
gen α thalassemia, và khi sàng lọc bệnh thalassemia cho 
53.495 sản phụ, tỷ lệ sản phụ được phát hiện mang gen 
α thalassemia là 5.7% [4].
Cụm gen α-globin bao gồm một gen ζ-globin (ζ2), 
hai gen α-globin (α2 và α1), và bốn giả gen khác. Cụm 
gen này có chiều dài khoảng 30 kb, nằm trên cánh 
ngắn NST 16 gần vị trí telomere. Ở Đông Nam Á, loại 
đột biến phổ biến nhất trong bệnh α thalassemia là 
loại đột biến mất đoạn hai gen (--SEA). Loại đột biến 
này có chiều dài 20.5 kb, bao gồm mất đoạn cả gen α1 
và gen α2, không bao gồm gen ζ-globin. Đồng hợp tử 
đột biến này, (--SEA/--SEA) là nguyên nhân phổ biến 
nhất gây hội chứng phù thai Hb Bart’s [3]. 
Hiện nay tại Việt Nam, hầu hết các cặp vợ chồng có 
nguy cơ cao với việc sinh con mắc hội chứng phù thai do 
Hb Bart’s vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu, thậm chí 
có những sản phụ có tiền sử phù thai nhiều lần mà vẫn 
chưa được xác định nguyên nhân. Do đó, chúng tôi kết 
thực hiện nghiên cứu với mục tiêu: Sàng lọc người mẹ 
mang thai, phát hiện người mang gen α0 thalassemia và 
chẩn đoán trước sinh bệnh Hb Bart’s ở các thai phụ có 
tiền sử và/hoặc bị phù thai.
Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu
Đối Tượng nghiên cứu:
55 cặp vợ chồng có tiền sử và/hoặc bị phù thai chưa 
rõ nguyên nhân được gửi đến Khoa Di Truyền và SHPT 
Bệnh Viện Nhi TƯ, từ Trung Tâm Chẩn đoán trước sinh 
Bệnh Viện Phụ Sản TƯ và Khoa Sản Bệnh Viện Bạch Mai, 
từ 1/2012-3/2013.
16 mẫu máu của người bình thường được sử dụng 
làm đối chứng. 
Phương PháP nghiên cứu:
1. sàng lọc người mang gen α thalassemia:
- Công thức máu: Đánh giá các chỉ số: số lượng
hồng cầu ()-RBC; nồng độ Hemoglobin (g/L)-HGB; thể 
tích trung bình hồng cầu (fL)-MCV, Huyết sắc tố trung 
bình hồng cầu (pg)-MCH
- Điện di thành phần Hemoglobin: HbA1 (%); HbA2(%).
2. Tiêu chuẩn người mang gen bệnh α0 thalassemia
- Hồng cầu nhỏ (MCV < 80fL), nhược sắc (MCH < 27pg).
- Chỉ số HbA2 bình thường hoặc giảm.
3. chẩn đoán xác định người mang gen bằng kỹ 
thuật phân tích adn
- Tách chiết ADN từ mẫu máu ngoại vi chống đông 
EDTA, Kit QiaAmp DNA mini kit (Qiagen)
- Kỹ thuật Multiplex GAP PCR nhận biết sự mất đoạn
của 3 loại đột biến mất đoạn 2 gen (--/αα): SEA (1349 bp); 
Thailand (1166 bp); Philippin (1800 bp). Trình tự mồi được 
thiết kế theo TPChen [5]. 
4. chẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật phân tích adn
- ADN của thai nhi được tách chiết từ mẫu dịch ối
trong khoảng thai từ 17-22 tuần, máu cuống rốn đối 
với những thai ngoài 30 tuần phù thai có chỉ định đình 
chỉ thai.
- Kỹ thuật Multiplex GAP PCR xác định genotype
của thai nhi. 
Kết quả
Bảng 1: Sàng lọc người mang gen bệnh α0 thalassemia
Nhóm 1: Bao gồm cả vợ và chồng của các cặp vợ 
chồng có tiền sử/có biểu hiện phù thai
Nhóm 2: Người vợ đang mang thai của các cặp vợ 
chồng có tiền sử/ biểu hiện phù thai
Nhóm 3: Người bình thường
So sánh giữa 3 nhóm, các chỉ số RBC, Hb, HCT , MCHC, 
HbA1, HbA2 của cả 3 nhóm không có sự khác biệt rõ rệt. 
Trong đó, các chỉ số MCV, MCH có sự khác biệt rõ rệt. 
Bảng 2: Tình trạng của sản phụ
Tuổi mẹ trung bình trong nghiên cứu là 27.02 ± 4.64 
tuổi, nhỏ nhất là 17 tuổi và lớn nhất là 36 tuổi. Tuổi thai 
trung bình trong nghiên cứu là 26.65±3.79 tuần, nhỏ 
nhất là 18 tuần, lớn nhất là 33 tuần. Tình trạng phù thai 
đánh giá theo siêu âm được chia thành 4 nhóm: 
- Có tiền sử phù thai, thai hiện tại đã phát hiện phù: 
24 trường hợp.
- Có tiền sử phù thai, thai hiện tại chưa có biểu hiện 
Mean±SD nhóm 1 nhóm 2 nhóm 3
n 106 53 16
rBC (109/ML)
hgB (g/dL)
hCT (%)
MCV (fL)
MCh (pg)
MChC (g/dL)
hba2 (%)
hba1 (g/dL)
5.41 ±1.025
12.19 ± 8.65
37.37 ± 12.34
67.40 ± 4.83
21.08 ± 1.53
31.01 ± 1.49
2.06 ± 0.86
95.99 ± 6.00
4.67 ± 0.61
9.78 ± 1.11
32.29 ± 5.52
68.26 ± 5.19
21.20 ± 1.63
30.88 ± 1.22
2.18 ± 1.04
95.90 ± 5.93
5.3 ± 0.31
12.98 ± 1.2
34.52 ± 5.25
91.53 ± 2.92
30.51 ± 0.9
33.15 ± 0.94
2.56 ± 1.11
95.95 ± 5.90
Tuổi mẹ Tuần thai Tiền sử phù thai 
Có Không 
Tình trạng thai hiện tại 
Có phù Không phù Có phù Không phù 
N 55 55 24 7 24 0 
Min 17 18 
Max 36 33 
Mean±SD 27.02 ± 4.64 26.65±3.79 
phù: 7 trường hợp. Các trường hợp này sẽ được tiến 
hành chọc dịch ối làm chẩn đoán trước sinh.
- Không có tiền sử phù thai, thai hiện tại có biểu
hiện phù: 24 trường hợp
- Không có tiền sử phù thai, thai hiện tại không có
phù: 0 trường hợp, hay loại khỏi đối tượng nghiên cứu.
Bảng 3: Chẩn đoán hội chứng phù thai do hb Bart’s ở thai nhi
Có 7 sản phụ có tiền sử phù thai, lần mang thai 
hiện tại chưa phát hiện có dấu hiệu phù trên siêu âm, 
được chỉ định chọc hút dịch ối làm chẩn đoán trước 
sinh phát hiện bệnh Hb Bart’s. Kết quả chỉ có 1 thai nhi 
là người dị hợp tử α0 Thalassemia (--SEA / αα). 6 thai 
nhi còn lại đều là người đồng hợp tử α0 Thalassewmia 
(--SEA/--SEA), mắc bệnh Hb Bart’s. 
Có 3 sản phụ có tiền sử phù thai, lần mang thai 
hiện tại đã có dấu hiệu phù, đã xác định nguyên nhân 
do Hb Bart’s, có chỉ định đình chỉ thai nghén, được
thu thập mẫu máu cuống rốn của thai nhi sau khi 
đình chỉ làm xét nghiệm khẳng định.
Hình 1: hình ảnh điện di kiểu gen người mang gen và chẩn đoán trước sinh 
bệnh hbBart’s
Hình 1(1): M Marker, L1: Chứng bình thường, L2: 
Chứng dị hợp tử đột biến SEA (1349bp), L11: Đồng 
hợp tử đột biến SEA (1349 bp).
HÌnh 1(2): M Marker, L1: Chứng bình thường, L2: 
Chứng dị hợp tử đột biến SEA, L3,4: Bố và mẹ dị hợp 
tử đột biến SEA, L5: Thai nhi dị hợp tử đột biến SEA
Bàn luận
Trong nghiên cứu này, có 55 cặp vợ chồng có tiền 
sử phù thai và/hoặc đang có biểu hiện phù thai được 
tiến hành sàng lọc người mang gen bằng các chỉ số 
huyết học. Chúng tôi so sánh các chỉ số RBC, HBG, HCT, 
MCV, MCH, MCHC, HbA1, HbA2 của ba nhóm: Nhóm 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
25
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 23 - 26, 2013
1: Bao gồm cả vợ và chồng của các cặp vợ chồng có 
tiền sử/có biểu hiện phù thai; Nhóm 2: Chỉ có người 
vợ đang mang thai của các cặp vợ chồng có tiền sử/
có biểu hiện phù thai; Nhóm 3: Người bình thường. 
Trong đó, mục đích của phân nhóm 1 và 2 là để đánh 
giá chính xác hơn tình trạng thiếu máu của sản phụ.
Chúng tôi nhận thấy các chỉ số RBC, HBG, HCT 
, MCHC, HbA1, HbA2 của cả 3 nhóm không có sự 
khác biệt rõ rệt. Trong đó, chỉ số RBC, HBG, HCT của 
nhóm 2 hơi thấp hơn so với nhóm 1 và 3, nhưng vẫn 
trong giới hạn bình thường, trong khi đó, các chỉ số 
MCV, MCH, có sự khác biệt rõ rệt. MCV của nhóm 1 
và 2 thấp, trung bình giao động trong khoảng 67.40 
± 4.83 fL đến 68.26 ± 5.19 fL. MCH thấp, giao động 
trong khoảng 21.08 ± 1.53 pg đến 21.20 ± 1.63 pg. 
Theo một nghiên cứu ở Ontario, Canada, ở người 
mang gen α0 thalassemia (--SEA/αα), chỉ số MCV 67.8 
± 3.3 fL, MCH 21.8 ± 1.2 pg [7]. Như vậy, điều này phù 
hợp với tiêu chuẩn đưa ra ban đầu, và chứng tỏ chỉ 
số MCV và MCH là 2 chỉ số phản ánh rõ rệt nhất tình 
trạng thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ, là một biểu 
hiện điển hình của người mang gen α0 thalassemia. 
Chỉ số HbA2 thấp hoặc bình thường, trung bình 
giao động trong khoảng 2.06 ± 0.86% đến 2.18 ± 
1.04%.Tuy nhiên, chỉ số HbA2 trong nghiên cứu này 
chưa loại trừ những trường hợp một người cùng 
mang gen α thalassemia và gen β thalassemia. Khi đó, 
chỉ số HbA2 có thể tăng cao hơn mức bình thường, 
HbA1 giảm thấp, hoặc có kèm theo các Hb bất thường 
khác như HbE, HbF. Trong nghiên cứu này, chúng tôi 
phát hiện 10 người vừa mang gen α và β thalassemia. 
Đặc biệt có 1 cặp vợ chồng cùng là người mang gen 
của cả 2 gen này. Như vậy cặp vợ chồng này vừa có 
25% nguy cơ sinh con mắc Hb Bart’s và 25% nguy cơ 
sinh con mắc β Thalassemia thể nặng.
55 cặp vợ chồng có tiền sử và/hoặc đang biểu 
hiện phù thai, có hồng cầu nhỏ nhược sắc, chỉ số 
HbA2 thấp hoặc bình thường đã được tư vấn và tiến 
hành xác định kiểu gen của người mang gen α0 
thalassemia. Kết quả phân tích DNA của 12 cặp vợ 
chồng này cho thấy 100% trong số họ đều mang đột 
biến mất đoạn hai gen dạng (--SEA/αα). Có được tỷ 
lệ phát hiện này là do chúng tôi chỉ tiến hành nghiên 
cứu trên các đối tượng nguy cơ cao. Tỷ lệ phát hiện 
này cũng chứng tỏ chỉ số công thức máu, điện di Hb, 
kết hợp với khai thác tiền sử, là một công cụ tin cậy 
để sàng lọc người mang gen α0 thalassemia. 
Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp α0 
thalassemia không có thay đổi điển hình về các chỉ 
số huyết học, hoặc α0 thalassemia kết hợp với những 
Case Tuổi 
mẹ 
Tiền sử phù 
thai (lần) 
Tuần 
thai 
Genotype 
mẹ 
Genotype 
bố 
Genotype 
thai 
Mẫu bệnh 
phẩm 
1 29 1 22 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA / αα) Dịch ối 
2 26 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối 
3 27 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối 
4 26 2 17 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối 
5 28 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối 
6 29 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối 
7 36 2 17 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối 
8 29 1 32 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) MCR 
9 36 2 27 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) MCR 
10 25 2 31 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) MCR 
 Case Tuổimẹ
Tiền sử phù 
thai (lần)
Tuần 
thai
Genotype 
mẹ
Genotype 
bố
Genotype 
thai
Mẫu bệnh 
phẩm
1 29 1 22 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA / αα) Dịch ối
2 26 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối
3 27 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối
4 26 2 17 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối
5 28 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối
6 29 1 18 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối
7 36 2 17 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) Dịch ối
8 29 1 32 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) MCR
9 36 2 27 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) MCR
10 25 2 31 (--SEA / αα) (--SEA / αα) (--SEA/--SEA) MCR
Có 7 sản phụ có tiền sử phù thai, lần mang thai hiện tại chưa phát hiện có dấu hiệu phù
trên siêu âm, được chỉ định chọc hút dịch ối làm chẩn đoán trước sinh phát hiện bệnh Hb 
Bart’s. Kết quả chỉ có 1 thai nhi là người dị hợp tử α0 Thalassemia (--SEA / αα). 6 thai nhi 
còn lại đều là người đồng hợp tử α0 Thalassemia (--SEA/--SEA), mắc bệnh Hb Bart’s.
Có 3 sản phụ có tiền sử phù thai, lần mang thai hiện tại đã có dấu hiệu phù, đã xác định 
nguyên nhân do Hb Bart’s, có chỉ định đình chỉ thai nghén, được thu thập mẫu máu 
cuống rốn của thai nhi sau khi đình chỉ làm xét nghiệm khẳ g địn .
(1) (2) 
Hình 1: Hình ảnh điện di kiểu gen người mang gen và chẩn đoán trước sinh bệnh 
HbBart’s
Hình 1(1): M Marker, L1: Chứng bình thường, L2: Chứng dị hợp tử đột biến SEA 
(1349bp), L11: Đồng hợp tử đột biến SEA (1349 bp).
HÌnh 1(2): M Marker, L1: Chứng bình thường, L2: Chứng dị hợp tử đột biến SEA, L3,4: 
Bố và mẹ dị hợp tử đột biến SEA, L5: Thai nhi dị hợp tử đột biến SEA
BÀN LUẬN
 M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 M 1 2 3 4 5 
ngô DiễM ngọC, Lý Thị Thanh hà, ngô Thị TuyếT nhung, nguyễn Thị phương Mai, Trần Danh Cường, 
nguyễn Thị TÂn Sinh, Trần hồng hà, Dương Bá TrựC, Trần Thị Thanh hương, nguyễn Thanh LiêM
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
26
SẢN KHOA VÀ SƠ SINH
dạng bất thường Hb khác, có thể làm ảnh hưởng đến 
tính chính xác của kết quả sàng lọc. Trong những 
trường hợp này, phân tích DNA xác định đột biến là 
một phương pháp thực sự cần thiết. Trong nghiên 
cứu này, không có trường hợp nào phát hiện thấy đột 
biến mất đoạn hai gen dạng (--FIL/αα) hoặc (--THAI/ 
αα). Điều này hoàn toàn phù hợp với y văn vì đột biến 
dạng (--SEA/αα) là đột biến phố biến nhất tại khu vực 
Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, và hai đột biến 
còn lại chỉ gặp ở quần thể người có nguồn gốc là 
người Fillipin và Thailand. 
55 thai phụ có tiền sử và/hoặc đang có biểu hiện 
phù thai ở độ tuổi từ 17-36 tuổi, tuổi trung bình là 
27.02 ± 4.64 tuổi. Tuổi thai từ 18-33 tuần, tuổi thai 
trung bình là 26.65±3.79 tuần. Có 48 sản phụ có hoặc 
không có tiền sử phù thai và đang có biểu hiện phù 
thai ở lần mang thai hiện tại. Có 7 thai phụ chỉ có tiền 
sử phù thai và lần mang thai hiện tại vẫn chưa có dấu 
hiệu bất thường trên siêu âm, đã được chúng tôi tư 
vấn và tiến hành chọc hút dịch ối và chẩn đoán trước 
sinh. Kết quả cho thấy: 1 thai nhi là người mang gen 
(--SEA/αα), 6 thai nhi còn lại đều là người đồng hợp tử 
α0 thalassemia, mắc Hb Bart’s (--SEA/--SEA) và sẽ phát 
triển thành phù thai. (bảng 3).
Ngoài ra, có 3 thai phụ đã có biểu hiện phù thai ở 
3 tháng cuối của thai kỳ, đã được xác định cả hai vợ 
chồng đều là người mang gen bệnh α0 thalassemia 
ở mức độ huyết đồ và di truyền phân tử, có chỉ định 
đình chỉ thai, được chúng tôi thu thập máu cuống rốn 
để chẩn đoán xác định tình trạng của thai. Kết quả cả 
3 trường hợp thai này đều có kiểu gen đồng hợp tử 
α0 thalassemia, mắc Hb Bart’s (--SEA/--SEA), phù hợp 
với lâm sàng. 
Hiện nay, ở một số nơi trong khu vực Đông Nam 
Á, đặc biệt ở những nơi chưa thực hiện được kỹ thuật 
phân tích DNA, có một số quan điểm về chẩn đoán 
trước sinh phù thai do Hb Bart’s chỉ dựa trên hình 
ảnh siêu âm, không cần sử dụng các phương pháp 
chẩn đoán can thiệp như chọc ối, sinh thiết gai rau, 
Tuy nhiên, nhiều trường hợp thai nhi mắc Hb Bart’s 
chưa có biểu hiện phù thai trước 22 tuần thai [9]. Như 
trong nghiên cứu của chúng tôi, có hai trường hợp 
phát hiện phù thai ở tuần thứ 32 và 31 của thai kỳ. 
Do đó, kỹ thuật phân tích DNA của thai nhi vẫn là tiêu 
chuẩn để chẩn đoán xác định bệnh Hb Bart’s.
Kết luận
- Sàng lọc người mang gen bệnh α0 thalassemia của
55 cặp vợ chồng bị phù thai dựa trên các chỉ số MCV, 
MCH, HbA2, so sánh với chỉ số của người bình thường.
- Kết quả phân tích DNA của 55 cặp vợ chồng:
100% là người dị hợp tử đột biến mất đoạn hai gen 
(--SEA/αα).
- Chẩn đoán trước sinh cho 7 thai phụ: 6 thai nhi
mắc Hb Bart’s (--SEA/--SEA), 1 thai nhi dị hợp tử α0 
thalassemia (--SEA/αα)
- 3 thai nhi sau khi đình chỉ thai được xác định mắc 
Hb Bart’s bằng máu cuống rốn.
Kiến nghỊ:
Xác định người mang gen, tư vấn di truyền và 
chẩn đoán trước sinh bệnh phù thai do Hb Bart’s ở 
những tuần thai sớm là biện pháp quan trọng và cần 
thiết để giảm nguy cơ sinh những em bé mắc bệnh, 
giảm biến chứng sản khoa nặng nề cho người mẹ và 
giảm gánh nặng tâm lý cho gia đình người bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. David H.K.Chui, John S. Waye. Hydrops Fetalis 
Caused by α-Thalassemia: An Emerging Health Care 
Problem, Blood, 1998; Vol 91, No 7: 2213-2222. 
2. Elliott P. Vichinsky, Alpha Thalassemia major – new 
mutation, intrauterin manegement and outcomes, 2009, 
Hematology, 35-41.
3. Jingzhong Liu, Xingyuan Jia, Guifang Long. A 
novel large deletion causing Hb Bart’s Hydrop Fetalis in 
South China, Ann Hematol 2011; 90:125-126.
4. Cornelis L Hartevel, Douglas R Higg, 2010, Alpha 
Thalassemia, OJRD: 5-13
5. Tyen Po Chen, Ta Chin Liiu, Chao Sung Chang. 
PCR based analysis of alpha Thalassemia in Southern 
Taiwan, Int J of Hematol; 2001; 75:277-280.
6. Torpong Sanguansermsri, Pattra 
Thanaratanakorn. Prenatal Dignosis of Hemoglobin 
Bart’s Hydrops Fetalis by HPLC analysis of Hemoglobin 
in Fetal Blood Samples, Blood, 2001. Vol 32, No 1: 181-185.
7. Antonio Cao, Renzo Galanello, M. Christina 
Rosatelli. Prenatal Diagnosis and Screening of the 
Hemoglobinopathies, eJIFCC, 1999. No 3: 1-11
8. Vivian Chan, A Ghosh, T K Chan. Prenatal 
diagnosis of homozygous alpha Thalassemia by direct 
analysis of uncultured amniotic fluid cells, Brist Med J, 
1984. Vol 288: 1327-1329.
9. Le Lie Injo, A Solai, AR Herrera, Hb Bart’s Level in 
Cord Blood and Deletion of alpha globin genes, Blood, 
1982; 59: 370-376.

File đính kèm:

  • pdfphong_benh_phu_thai_do_hemoglobin_barts_sang_loc_nguoi_me_ma.pdf