Phổi biệt lập: kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương

46 trường hợp (18 nam, 28 nữ) chẩn đoán phổi biệt lập sau phẫu thuật giai đoạn 10/2009 – 07/2016 tại bệnh viện Phổi trung ương. Tuổi trung bình 33,3 ± 12,6 tuổi, 28 trường hợp có tiền sử điều trị các bệnh hô hấp khác nhau. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu đau ngực và ho, sốt, khó thở, XQuang ngực thường quy chủ yếu với dạng tổn thương: Mờ không đồng nhất 31,82 %, mờ đồng nhất 27,27 %, kén dịch khí 20,45%, kén khí/ hang 18,18%, đa kén khí 2,27%. Chẩn đoán xác định dựa trên CT-Scanner ngực có dựng hình mạch máu phát hiện mạch bất thường 84,78%. Hình ảnh tổn thương: khối đặc: 13,04%, nang dịch 28,26%, mờ không đồng nhất 21,74%, kén dịch khí 15,21%, kén khí 17,39%, đa kén khí 4,35%. Tổn thương bên phải: 18 trường hợp, trái: 28 trường hợp nằm phân thùy sau dưới. Chẩn đoán đúng trước mổ 39/46 (84,78%) trường hợp. Điều trị với phổi biệt lập trong thùy (40 trường hợp) cắt thùy phổi 95 %, cắt phần phổi chứa phổi biệt lập 5 %. Phổi biệt lập ngoài thùy 2/6 trường hợp cắt nguyên phổi biệt lập, 3/6 trường hợp cắt phổi biệt lập và 1 phần thùy phổi lân cận, 1/6 trường hợp phải cắt cả thùy phổi. Thời gian nằm viện sau mổ khi không có biến chứng rò thực quản sau mổ trung bình 16,2 ± 12,84 ngày

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Phổi biệt lập: kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phổi biệt lập: kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương

Phổi biệt lập: kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 36 
PHỔI BIỆT LẬP: KINH NGHIỆM CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ 
TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
Khiếu Mạnh Cường*, Nguyễn Lê Vinh*, Nguyễn Sỹ Khánh*, Đinh Văn Lượng*, 
Đinh Văn Tuấn*, Đoàn Quốc Hưng**, 
TÓM TẮT: 46 trường hợp (18 nam, 28 nữ) 
chẩn đoán phổi biệt lập sau phẫu thuật giai đoạn 
10/2009 – 07/2016 tại bệnh viện Phổi trung ương. 
Tuổi trung bình 33,3 ± 12,6 tuổi, 28 trường hợp 
có tiền sử điều trị các bệnh hô hấp khác nhau. 
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu đau ngực và ho, 
sốt, khó thở, XQuang ngực thường quy chủ yếu 
với dạng tổn thương: Mờ không đồng nhất 31,82 
%, mờ đồng nhất 27,27 %, kén dịch khí 20,45%, 
kén khí/ hang 18,18%, đa kén khí 2,27%. Chẩn 
đoán xác định dựa trên CT-Scanner ngực có dựng 
hình mạch máu phát hiện mạch bất thường 
84,78%. Hình ảnh tổn thương: khối đặc: 13,04%, 
nang dịch 28,26%, mờ không đồng nhất 21,74%, 
kén dịch khí 15,21%, kén khí 17,39%, đa kén khí 
4,35%. Tổn thương bên phải: 18 trường hợp, trái: 
28 trường hợp nằm phân thùy sau dưới. Chẩn 
đoán đúng trước mổ 39/46 (84,78%) trường hợp. 
Điều trị với phổi biệt lập trong thùy (40 trường 
hợp) cắt thùy phổi 95 %, cắt phần phổi chứa phổi 
biệt lập 5 %. Phổi biệt lập ngoài thùy 2/6 trường 
hợp cắt nguyên phổi biệt lập, 3/6 trường hợp cắt 
phổi biệt lập và 1 phần thùy phổi lân cận, 1/6 
trường hợp phải cắt cả thùy phổi. Thời gian nằm 
viện sau mổ khi không có biến chứng rò thực 
quản sau mổ trung bình 16,2 ± 12,84 ngày. 
Từ khóa: Phổi biệt lập 
SUMMARY 
PULMONARY SEQUESTRATION 
EXPERIENCES IN DIAGNOSIS AND 
TREATMENT 
46 cases with pulmonary sequestration were 
performed from 10/2009 to 07/2016 at National 
Lung Hospital : Sex ratio: male/female 18/28. 
Mean age: 33,3 ± 12,6. 28 cases with history of 
lung disease treatment. Image in Xray location of 
pulmonary sequestration: right /lef 18 /28 and all 
of them were in low lobe at both side with image 
as Homogeneous shadow (27,27%), 
inhomogeneous shadow (31,82%), Fluid level 
20,45%, bulae 18,18%, multibulae 2,27%. Image 
in CT- Scanner: tumer 13,04%, Fluid cyst 
28,26%, inhomogeneous shadow 21,74%, Fluid 
level 15,21%, bulae 17,39%, multibulae 4,35%. 
Blood supply were aorta thoracic descendens 
(27/46 cases) and aorta abdominalis (19/46 case). 
Correct preoperative diagnosis was in 39/46 
cases. Intrapulmonary sequestration’s treatment 
(40 cases) composed: lobectomy 95% cases, 
atypic lobectomy 5%. Extrapulmonary 
sequestration’s treatment 6 cases composed: 
sequestration’s resection: 2/6 cases, 
sequestration’s resection and atypic lobectomy: 
3/6 cases sequestration’s resection and 
lobectomy: 1/6 cases. Mean postoperative 
hospital stay was 16,2 ± 12,84 days (Whithout a 
case oesophageal fistula).* 
Keyword: Pulmonary sequestration, 
intrapulmonary sequestration, extrapulmonary 
sequestration. 
Connect author: 
Khiếu Mạnh Cường: [email protected] 
Đoàn Quốc Hưng: [email protected] 
*Bệnh viện Phổi Trung ương, 
** Bệnh viện Việt Đức - Đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
PHỔI BIỆT LẬP: KINH NGHIỆM CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
 37 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phổi biệt lập là dị tật bẩm sinh hiếm gặp 
của phổi, tỷ lệ thấp 1,5%- 6,4% trong các dị tật 
của phổi, không thông với cây phế quản và được 
cấp máu từ nhánh động mạch chủ. Phổi biệt lập 
có 2 loại: Phổi biệt lập trong thùy (chiếm > 75%), 
Phổi biệt lập ngoài thùy (chiếm <25%). Một số 
trường hợp có sự liên quan tới các dị tật bẩm sinh 
khác: rò tiêu hóa, thoát vị hoành, Năm 1777, 
Huber mô tả động mạch bất thường từ động mạch 
chủ cấp máu cho phần phổi tổn thương. Năm 
1861, Rokitansky và Rektorzick mô tả trường 
hợp phổi biệt lập ngoài thùy. Năm 1946, Pryce 
mô tả đầy đủ và phân loại hình thái học phổi biệt 
lập trong thùy và ngoài thùy, ông dùng thuật ngữ 
“sequestration: biệt lập” có nguồn gốc từ tiếng 
Latin: sequestrare có nghĩa là riêng biệt [1]. Chẩn 
đoán xác định nhờ cắt lớp vi tính ngực độ phân 
giải cao có dựng hình mạch máu. Điều trị phổi biệt 
lập chủ yếu bằng phẫu thuật. Ở Việt Nam phổi biệt 
lập hiếm khi được chẩn đoán và can thiệp sớm mà 
hầu hết được chẩn đoán và điều trị nhầm sang các 
bệnh lý khác: viêm phổi tái diễn, u phổi, kén phế 
quản, một số ít được phát hiện tình cờ. Mục tiêu 
nghiên cứu: “1. Mô tả một số đặc điểm chẩn đoán 
lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh. 2.Mô tả một số 
đặc điểm điều trị phẫu thuật phổi biệt lập” nhằm 
giúp chẩn đoán và điều trị sớm dị tật này. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Nghiên cứu hồi cứu 46 trường hợp được 
chẩn đoán là phổi biệt lập, điều trị phẫu thuật tại 
Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 10 năm 
2009 đến tháng 7 năm 2016. 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
Tất cả bệnh nhân có hồ sơ bệnh án đủ thông 
tin nghiên cứu với chẩn đoán sau mổ là phổi biệt 
lập và giải phẫu bệnh là tổ chức phổi. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
Hồ sơ bệnh án không đủ thông tin, chẩn 
đoán phổi biệt lập không mổ. 
2.2. Nội dung nghiên cứu: 
- Mô tả một số đặc điểm: Tuổi, giới, tiền sử 
bệnh hô hấp, triệu chứng lâm sàng, đặc điểm 
XQuang, CT-scanner ngực, chẩn đoán, kết quả 
sớm phẫu thuật. 
2.3. Phương pháp thu thập số liệu 
Sử dụng hồ sơ bệnh án có sẵn, khai thác 
thông tin hồ sơ bệnh án điền vào mẫu bệnh án 
thống nhất. 
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 
Xử lý phân tích số liệu bằng phần mềm 
Stata 10.0 Các thuật toán được sử dụng: tính tỷ lệ 
%, tính trung bình, độ lệch, X±SD, các thuật toán 
kiểm định. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân 
3.1.1. Theo tuổi và giới 
Bệnh phát hiện và điều trị phẫu thuật ở trẻ 
em dưới 16 tuổi (2/46) 4,35% trường hợp, chủ 
yếu ở người trưởng thành (44/ 46) 95,65% 
trường hợp. Trung bình: 33,3 ± 12,6 tuổi, thấp 
nhất: 11 tuổi, cao nhất: 62 tuổi. Theo giới: 18 
nam, 28 nữ. 
3.1.2. Tiền sử bệnh 
Có 28 trường hợp có tiền sử chẩn đoán và 
điều trị các bệnh hô hấp: Viêm phổi 21,43%, Áp 
xe phổi 19,08%, Viêm hô hấp tái diễn 16,67%, 
Lao phổi 14,29%, Giãn phế quản 9,52%, Ho máu 
7,14%, kén phổi 2,38%, Chấn thương ngực 
2,38%, Viêm mũi dị ứng 2,38%. 
3.1.3. Triệu chứng chủ yếu 
Có 2 trường hợp phát hiện tình cờ, 44 
trường hợp có triệu chứng: Đau ngực 77,27%, Sốt 
51,11%, Ho đờm 51,11%, Ho máu 27,27%, Khó 
thở 29,55%. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 38 
3.1.4. Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh của phổi biệt lập 
Bảng 3.1: Hình ảnh thương tổn XQuang thường quy và chẩn đoán trong mổ (n = 44) 
Hình ảnh 
tổn thương 
Mờ đồng 
nhất 
Mờ không 
đồng nhất 
Hang dịch 
khí 
Kén/ hang 
khí 
Đa kén khí 
n 12 14 9 8 1 Tổng % 27,27 31,82 20,45 18,18 2,27 
Bảng 3.2: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ngực (n=46) 
Hình ảnh tổn 
thương 
Dạng 
đặc 
Nang 
dịch 
Mờ không 
đồng nhất 
Kén/ hang 
dịch khí 
Kén khí/ 
hang khí 
Đa kén 
n 6 13 10 7 8 2 Tổng 
% 13,04 28,26 21,74 15,21 17,39 4,35 
39 trường hớp phát hiện mạch bất thường: 24 (52,17%) từ chủ ngực, 11 (23,91%) từ chủ bụng, 
4 (8,7%) từ động mạch than tạng, 7 trường hợp không phát hiện mạch. 
Số lượng mạch bất thường chủ yếu 1 mạch 76,09 %, trên 2 mạch 8,7 %. 
Bên tổn thương phải/trái: 18/ 28 
3.1.5. Đặc điểm cấu trúc động mạch bất 
thường 
Vi thể mạch bất thường có 6 trường hợp mô 
tả: 3/ 6 trường hợp động mạch chun, 3/6 trường 
hợp thành mạch xơ dày. 
3.2. Điều trị phẫu thuật 
3.2.1. Chẩn đoán trước mổ 
39/46 (84,78%) trường hợp chẩn đoán 
chính xác trước mổ, 1/46(2,17%) theo dõi phổi 
biệt lập. 6 trường hợp chẩn đoán các bệnh khác: 
U phổi 2/46 trường hợp, Phổi đa kén 1/46 trường 
hợp, u trung thất 1/46 trường hợp, giãn phế quản 
1/46 trường hợp. 
3.2.2. Chẩn đoán sau mổ và xử lý phổi 
biệt lập (n=46) 
Phổi biệt lập trong thùy 40 trường hợp: 
95% cắt thùy phổi, 5% cắt phân thùy. Phổi biệt 
lập ngoài thùy 6 trường hợp: 33,33% cắt nguyên 
phổi biệt lập, 50% có cắt thùy phổi kèm theo, 
16,67% cắt 1 phần thùy phổi kèm theo. 
Số lượng mạch bất thường trong mổ: 1 
mạch 80,43%, 2 mạch 4,35%, 3 mạch 8,7%, 4 
mạch 6,52%. 
Nguyên ủy động mạch bất thường: 27 
(58,7%) trường hợp từ động mạch chủ ngực có 4 
trường hợp đi vào tổn thương bên phải, 23 
trường hợp cho tổn thương bên trái. 19 (41,3%) 
từ động mạch chủ bụng có 14 trường hợp cho tổn 
thương bên phải, 5 trường hợp cho tổn thương 
bên trái. 
Thời gian mổ trung bình: 200,87 ± 59,4 
phút. Min: 105 phút; Max: 330 phút. Không viêm 
dính : 161,54 phút, có viêm dính: 216,36 phút. 
Biến chứng trong mổ: 2/46 trường hợp 
rách cơ hoành, 44/46 trường hợp không biến 
chứng, không có biến chứng liên quan tới mạch 
bất thường. 
3.2.3. Biến chứng sau mổ 
Có 27 trường hợp không biến chứng sau 
mổ, 19 trường hợp có biến chứng sau mổ trong 
đó: Rò khí kéo dài 13,04%, Ổ dịch khu trú 
13,04%,, chảy máu 4,35%, xẹp phổi 4,35%, rò 
thực quản 2,17%, rò dưỡng chấp 2,17%, nhiễm 
trùng vết mổ 2,17%. 
14/28 (50%) trường hợp có có tiền sử hô 
hấp có biến chứng sau mổ. 5/18(27,78%) trường 
PHỔI BIỆT LẬP: KINH NGHIỆM CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
 39 
hợp không có tiền sử bệnh hô hấp có biến chứng 
sau mổ, với tỷ xuất chênh OR = 2,6. 
3.2.4. Số ngày dẫn lưu sau mổ, số ngày 
nằm viện (trừ trường hợp rò thực quản) 
Số ngày dẫn lưu sau mổ trung bình 8,11 ± 
4,08 ngày, thấp nhất 3 ngày, lâu nhất 22 ngày, 
Không biến chứng 6,6 ± 3,04 ngày, có biến chứng 
trung bình 10,39± 4,45 ngày. 
Số ngày nằm viện trung bình sau mổ: 16,2 
±12,84 ngày. Không biến chứng 11,81 ± 5,4 
ngày, Có biến chứng 22,78 ± 17,49 ngày. 
3.2.5. Kết quả phẫu thuật: Tốt (các 
trường hợp sau mổ không có biến chứng): 58,7%, 
trung bình (các trường hợp có biến chứng nhưng 
không can thiệp phẫu thuật): 32,6%, Xấu (các 
trường hợp có biến chứng phải can thiệp phẫu 
thuật): 8,7%. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Mộ số đặc điểm dịch tễ 
4.1.1. Theo tuổi 
Tuổi trung bình 33 tuổi nói lên việc phát 
hiện và điều trị ở nước ta còn rất muộn. Tương tự 
với các nghiên cứu trong nước và thế giới đều 
cho thấy bệnh thường được chẩn đoán và điều 
trị muộn. 
4.1.2. Theo giới 
Tỷ lệ bệnh gặp ở nữ chiếm ưu thế với tỷ 
lệ nam/ nữ: 1/1,56, sự khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê với p =0,14 > 0,05 
4.2. Tiền sử bệnh 
28/46 (60,87%) số trường hợp có tiền sử 
chẩn đoán và điều trị các bệnh hô hấp. Dường 
như bệnh phổi biệt lập biểu hiện sớm nhưng 
thường bị chẩn đoán sang các bệnh hô hấp khác. 
Tác giả Dirk Van Raemdonck [2], cũng như 
nhiều tác giả xếp vào nhóm dấu hiệu và triệu 
chứng của bệnh như: bệnh nhân có viêm phổi, 
nhiễm trùng mạn tính tái phát, ho máu đó là dấu 
hiệu gợi ý đến phổi biệt lập. 
4.3. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của 
phổi biệt lập 
4.3.1. Triệu chứng cơ năng chủ yếu 
Các triệu chứng của phổi biệt lập khi có 
biến chứng rất đa dạng giống các bệnh lý hô hấp 
khác: đau ngực, sốt, ho, ho máu, khó thở..., không 
đặc hiệu. Nhưng khi có tiền sử bệnh hô hấp đặc 
biệt viêm phổi hay viêm đường hô hấp tái diễn thì 
cần phải nghĩ tới phổi biệt lập. Kết quả nghiên 
cứu các triệu chứng hay gặp của bệnh cũng tương 
tự như các tác giả trong nước và thế giới: Nguyễn 
Chi Lăng (2005) [3], triệu chứng chủ yếu tập 
trung vào ho, ho khạc mủ, ho máu, sốt, đau ngực. 
Savic nghiên cứu 540 trường hợp phổi biệt lập, 
phổi biệt lập trong thùy 37,2% trường hợp có 
triệu chứng xuất hiện trước 10 tuổi, 15,5% 
trường hợp không triệu chứng, còn lại triệu 
chứng chủ yếu: ho, ho khạc đờm, viêm phổi tái 
diễn, trong khi đó phổi biệt lập ngoài thùy có 
60% biểu hiện triệu chứng trước 10 tuổi [1]. 
Jolanta Hauer (2007) [4], ho, ho khạc đờm, sốt, 
đau ngực, ho máu là các triệu chứng chủ yếu. 
4.5. Cận lâm sàng 
4.5.1. XQuang ngực thường quy (bảng 1.) 
4.5.1.1. Bên thương tổn 
Tương tự trong các nghiên cứu khác, kết quả 
nghiên cứu cho thấy Phổi biệt lập tổn thương bên 
trái chiếm ưu thế với tỷ lệ phải/ trái: 18/28 = 1/1,56. 
4.5.1.2. Hình ảnh tổn thương XQuang 
Phổi biệt lập hình ảnh chủ yếu trên XQuang 
ngực thường quy có tính chất gợi ý: tổn thương 
khu trú thùy dưới phân thùy đáy sau, đặc biệt bên 
trái thì cần nghĩ đến phổi biệt lập. Các nghiên cứu 
trong nước: Nguyễn Chi Lăng thấy ưu thế phổi 
bên trái cao hơn hẳn so bên phải. Tổn thương 
theo tác giả này nằm phân thùy 10 và hình ảnh có 
3 dạng: mờ không đồng đều bờ không gọn, mờ 
không đồng đều có mức nước mức hơi, mờ đều 
gọn dạng u [3]. Tác giả Đinh Văn Lượng phân 
tích hình ảnh trên phim XQuang thành các dạng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 40 
tổn thương: dạng u, dạng viêm dạng kén có mức 
dịch khí hoặc không [5]. Savic nghiên cứu 540 
trường hợp phổi biệt lập, tỷ lệ phải/ trái: 1/1,7. 
Trong 100 trường hợp chụp XQuang phổi biệt lập 
trong thùy có hình ảnh tổn thương chủ yếu: nang 52 
trường hợp, mức dịch 26 trường hợp, mờ đồng nhất 
32 trường hợp, mờ không đồng nhất 16 trường hợp. 
Số ít còn lại có hình ảnh khoảng trống sau tim, 
nhiều mức dịch khí. Ngoài ra tác giả còn mô tả 6 
trường hợp có cả phổi biệt lập trong thùy và 
ngoài thùy, vị trí phổi biệt lập ngoài thùy có thể 
cùng bên với phổi biệt lập trong thùy hay ở bất cứ 
vị trí nào trong ngực [1]. Theo Yong Wei, 1159 
trường hợp chụp x quang ngực hình ảnh tổn 
thương, chủ yếu: khối (532 trường hợp 46,38%), 
nang (424 trường hợp 36,58%), khoang trống (69 
trường hợp, 5,87%), viêm phổi (118 trường hợp, 
10,18%) [6]. 
4.5.2. Chụp cắt lớp vi tính ngực có tiêm 
thuốc cản quang 
Hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi 
tính ngực rõ ràng hơn, nhưng cần chú ý các bất 
thường mạch máu xung quanh tổn thương trên. 
Trong nghiên cứu có 39 trường hợp phát hiện 
mạch bất thường, 7 trường hợp không phát hiện 
mạch (Bảng 2). Số lượng mạch bất thường chủ 
yếu 1 mạch 76,09 %, trên 2 mạch 8,7 %.Theo các 
tác giả trong nước và nước ngoài như: Nguyễn 
Chi Lăng chỉ có 4 trường hợp được chụp cắt lớp 
vi tính thì 3 trường hợp dạng áp xe, 1 trường hợp 
dạng u [3]. Theo các tác giả trên thế giới như 
Yong Wei, 1106 trường hợp chụp cắt lớp vi tính 
ngực thấy tổn thương chủ yếu: khối (49,01%), 
nang (28,57%), khoang chống (11,57%), các tác 
giả khác cho là khí thũng của phổi hay kén khí 
của phổi chúng tôi là kén khí hay hang không có 
mức nước hơi), viêm phổi (7,96%) [6]. Nhờ có 
chụp cắt lớp vi tính đa dãy và cắt lớp vi tính mạch 
đã thấy được mạch máu bất thường từ động mạch 
chủ, theo Yong Wei 1808 trường hợp thấy 
nguyên ủy động mạch bất thường chủ yếu động 
mạch chủ ngực (76,55%), từ động mạch chủ bụng 
(18,475), số còn lại từ các động mạch khác. Số 
lượng mạch bất thường 813 trường hợp chủ yếu 1 
mạch (97,09%), 2 mạch (15,99%), trên 2 mạch 
(4,92%) [6]. 
4.5.3. Giải phẫu bệnh động mạch bất 
thường sau mổ 
Mô tả vi thể mạch bất thường ít được mô tả, 
chỉ có 6 trường hợp mô tả động mạch bất thường 
là cấu trúc chun và thành mạch xơ dày. Tác giả 
Savic [1] vi thể động mạch bất thường là cấu trúc 
sợi chun chiếm ưu thế và sự biến đổi thông 
thường thành xơ cứng mạch thậm trí ngay ở trẻ 
nhỏ, điều này đặc biệt quan trọng với phẫu thuật 
viên phải biết để tránh biến chứng trong phẫu 
thuật liên quan tới động mạch bất thường này. 
4.6. Điều trị 
4.6.1. Chẩn đoán trước và trong mổ 
Phổi biệt lập trong thùy chẩn đoán đúng 
trước mổ 40/46 trường hợp, 6/ 46 trường hợp 
chẩn đoán nhầm các bệnh khác: u phổi, u trung 
thất, kén phế quản, phổi đa kén do trên phim chụp 
cắt lớp vi tính ngực không phát hiện mạch bất 
thường. Theo Savic trong 100 trường hợp phổi 
biệt lập trong thùy chỉ có 39 trường hợp chẩn 
đoán chính xác phổi biệt lập trong thùy, 8 trường 
hợp chẩn đoán theo dõi phổi biệt lập [1]. Yong 
Wei, trong 2625 trường hợp có tới 713 trường 
hợp chẩn đoán nhầm trước phẫu thuật [6]. Như 
vậy ngay cả phim chụp cắt lớp vi tính ngực cũng 
có chẩn đoán nhầm do hình ảnh thương tổn giống 
các bệnh thông thường hoặc các mạch máu bất 
thường thực sự khó thấy trên phim chụp. 
4.6.2. Điều trị phẫu thuật 
4.6.2.1. Mạch bất thường phát hiện trong mổ 
7 trường hợp không phát hiện mạch bất thường 
trên phim cắt lớp vi tính ngực thì 4 trường hợp từ 
động mạch chủ ngực, 3 trường hợp từ động mạch 
dưới cơ hoành (động mạch chủ bụng). Số lượng 
mạch bất thường phát hiện trong mổ nhiều nhất 4 
PHỔI BIỆT LẬP: KINH NGHIỆM CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
 41 
mạch. Như vậy luôn luôn cảnh giác với các mạch 
bất thường cũng như số lượng mạch nhằm hạn chế 
các biến chứng với mạch này. Các tổn thương bên 
trái nguyên ủy chủ yếu từ động mạch chủ ngực 
23/28 (82,14%) trường hợp, còn tổn thương bên 
phải nguyên ủy lại chủ yếu từ động mạch chủ bụng 
14/18 (77,78%) trường hợp, sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê với p< 0,05. Điều này giúp cho 
chúng ta tìm các mạch bất thường tránh bỏ sót các 
mạch này ngay cả các phim chụp không dựng hình 
mạch máu. 
4.6.2.2. Điều trị phổi biệt lập triệt để là 
phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập càng sớm càng tốt, 
đặc biệt chú ý các mạch máu bất thường hạn chế 
tối đa biến chứng liên quan tới các mạch máu 
này. Với phổi biệt lập trong thùy chủ yếu cắt thùy 
chỉ có ít trường hợp bảo tồn được phần phổi lành, 
trong khi đó phổi biệt lập ngoài thùy chỉ có 2/6 
trường hợp cắt được nguyên Phổi biệt lập còn lại 
phải cắt thùy hoặc phân thùy lân cận do viêm 
dính phá hủy phổi lành. Tại bệnh viện Nhi trung 
ương tác giả Tô Mạnh Tuân đã báo cáo ca mổ 
thành công bằng Robot điều trị phổi biệt lập phối 
hợp dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở bệnh nhi đây 
là ứng dụng công nghệ hiện đại trong điều trị [7]. 
Peter B. Kestonholz, ứng dụng phẫu thuật nội soi 
trong điều trị phổi biệt lập 13 trường hợp phổi 
biệt lập trong thùy, trong đó 1 trường hợp phải 
chuyển mổ mở vì móc đốt nội soi vào động mạch 
bất thường, 12 trường hợp còn lại thì 8 trường 
hợp cắt thùy phổi, 4 trường hợp cắt phân thùy 
không điển hình, 1 trường hợp biểu hiện chủ yếu 
ho máu nên động mạch bất thường đã được làm 
tắc bằng cắt stapler ngay từ đầu. 1 trường hợp cắt 
bỏ phổi biệt lập ngoài thùy. Thời gian mổ trung 
bình 133 phút. So với nghiên cứu của chúng tôi thì 
thời gian phẫu thuật nhanh hơn, có lẽ do tình trạng 
viêm dính kéo dài mà dẫn tới sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05 [8]. 
Tác giả Savic [1] cũng như các tác giả 
Halkic [9], cho biết phổi biệt lập được cắt bỏ ra 
sao: cắt phổi biệt lập, cắt thùy chứa phổi biệt lập 
hay cắt phân thùy chứa phổi biệt lập. 
4.6.2.3. Biến chứng trong mổ và sau mổ 
2/46 trường hợp có biến chứng trong mổ 
làm rách cơ hoành trong quá trình gỡ dính, không 
có trường hợp nào biến chứng liên quan tới mạch 
bất thường. Trong 28 trường hợp có có tiền sử hô 
hấp thì có tới 50% biến chứng sau mổ, trong khí 
đó các trường hợp không có tiền sử bệnh hô hấp 
thì chỉ có 27,78% có biến chứng sau mổ, với tỷ 
xuất chênh OR= 2,6 thì nhóm có tiền sử bệnh hô 
hấp có nguy cơ có biến chứng sau mổ cao gấp 2,6 
lần so với nhóm không có tiền sử bệnh hô hấp. 
Các biến chứng sau mổ thường nhẹ xử lý 
đơn giản. Đặc biệt có trường hợp rò thực quản 
sau mổ, bệnh nhân sau mổ phải thực hiện thêm 
nhiều thủ thuật và phẫu thuật hỗ trợ, thời gian 
nằm viện kéo dài > 375 ngày. Có lẽ đây là trường 
hợp phổi biệt lập có phối hợp với rò đường tiêu 
hóa hoặc do viêm dính làm thay đổi giải phẫu khi 
phẫu thuật cũng khó tránh được tổn thương vào 
thực quản. Theo Savic B phổi biệt lập có kèm 
theo các dị dạng trong đó rò thực quản phế quản 
trong phổi biệt lập ngoài thùy, nang thực quản 
phế quản trong phổi biệt lập trong thùy, ngoài ra 
còn có các dị dạng cơ hoành, hệ xương, tim mạch 
[1]. Peter B. Kestonholz có trường hợp biến 
chứng tổn thương mạch bất thường phải chuyển 
mổ mở[8]. 
4.6.2.4. Số ngày dẫn lưu và điều trị sau mổ 
Thời gian rút dẫn lưu lâu do đây là phẫu 
thuật nhiễm trùng viêm dính của phổi, và cần 
chẩn đoán và can thiệp sớm nhất có thể bệnh lý 
này. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trong 
nghiên cứu của chúng tôi là lâu hơn so với tác giả 
Peter B. Kestonholz thời gian nằm viện trung 
bình sau phẫu thuật 7,5 ngày[8] sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05. Nhưng tương tự so 
với tác giả Dirk Van Raemdonck thời gian nằm 
viện trung bình sau mổ 13 ngày[2] sự khác biệt 
không có ý nghĩa thống kê với p = 0,5 > 0,05. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 42 
4.6.3. Kết quả phẫu thuật 
Hầu hết các tác giả đều nhận định phẫu 
thuật phổi biệt lập mang lại kết quả tốt, tỷ lệ 
thành công cao, ít tai biến nặng nề. 
V. KẾT LUẬN 
Phổi biệt lập là dị tật bẩm sinh cần được 
chẩn đoán sớm dựa vào chụp CT scan ngực có 
dựng hình mạch máu và điều trị triệt để bằng 
phẫu thuật cáng sớm càng tốt. Cần phải nghĩ tới 
phổi biệt lập khi có tiền sử hô hấp + tổn thương 
trên xquang ngực thường quy ở đáy sau dưới của 
ngực đặc biệt bên trái. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Savic, B., et al., Pulmonary 
sequestration. Ergeb Inn Med Kinderheilkd, 
1979. 43: p. 57-92. 
2. Van Raemdonck, D., et al., Pulmonary 
sequestration: a comparison between pediatric 
and adult patients. Eur J Cardiothorac Surg, 
2001. 19(4): p. 388-95. 
3. Nguyễn Chi Lăng, Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng, xét nghiệm của 12 trường hợp 
phổi biệt lập trong thùy. y học thực hành, 
2007. 5: p. 76-78. 
4. Hauer, J., et al., Pulmonary 
Sequestration-Analysis of Diagnostic and 
Therapeutic Difficulties. Polish Journal of 
Surgery, 2007. 79(1): p. 24-28. 
5. Đinh Văn Lượng, K.M.C., Đoàn Quốc 
Hưng,, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm 
sàng và kết quả phẫu thuật phổi biệt lập. tạp chí 
Phẫu thuật tim mạch và lồng ngực Việt Nam, 
2015. 11: p. 41-45. 
6. Wei, Y. and F. Li, Pulmonary 
sequestration: a retrospective analysis of 2625 
cases in China. European Journal of Cardio-
Thoracic Surgery, 2011. 40(1): p. e39-e42. 
7. Tô Mạnh Tuân, Hoàng Ngọc Thạch, and 
Nguyễn Mạnh Hoàn và cộng sự, Nội soi Robot 
cắt thùy phổi dị dạng nang tuyến bẩm sinh phối 
hợp phổi biệt lập ở tre em nhân một trường hợp. 
Y Học Việt Nam, 2014. 2: p. 109-113. 
8. Kestenholz, P.B., et al., Thoracoscopic 
treatment of pulmonary sequestration. European 
journal of cardio-thoracic surgery, 2006. 29(5): p. 
815-818. 
9. Halkic, N., et al., Pulmonary 
sequestration: a review of 26 cases. Eur J 
Cardiothorac Surg, 1998. 14(2): p. 127-33. 

File đính kèm:

  • pdfphoi_biet_lap_kinh_nghiem_chan_doan_va_dieu_tri_tai_benh_vie.pdf