Phổ vi khuẩn và tình hình đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện An Sinh năm 2018

Đề kháng kháng sinh đang là một vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam. Mỗi bệnh viện

được khuyến cáo nên thực hiện khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh hàng năm.

Mục tiêu: Mô tả tình hình đề kháng kháng sinh ở bệnh viện An Sinh trong năm 2018.

Đối tượng & phương pháp: Mẫu bệnh phẩm nuôi cấy và kháng sinh đồ tại bệnh

viện An Sinh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2018.

pdf 9 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Phổ vi khuẩn và tình hình đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện An Sinh năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phổ vi khuẩn và tình hình đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện An Sinh năm 2018

Phổ vi khuẩn và tình hình đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện An Sinh năm 2018
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
99
PHỔ VI KHUẨN VÀ TÌNH HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH 
TẠI BỆNH VIỆN AN SINH NĂM 2018
Nguyễn Thị Bích Yến1, Lê Quốc Thu Vân1, Mai Văn Điển1
TÓM TẮT
Đề kháng kháng sinh đang là một vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam. Mỗi bệnh viện 
được khuyến cáo nên thực hiện khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh hàng năm. 
Mục tiêu: Mô tả tình hình đề kháng kháng sinh ở bệnh viện An Sinh trong năm 2018. 
Đối tượng & phương pháp: Mẫu bệnh phẩm nuôi cấy và kháng sinh đồ tại bệnh 
viện An Sinh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2018.
Kết quả: Trong 620 mẫu bệnh phẩm của 494 bệnh nhân được cấy vi sinh ở bệnh 
viện An Sinh năm 2018, tỷ lệ cấy dương tính chung là 30.2% (187 mẫu), với 24 mẫu vi 
khuẩn được phân lập. Mẫu cấy mủ có tỷ lệ cấy (+) cao nhất (74/95 mẫu, 77.9%), tiếp theo 
là mẫu đàm (44/143 mẫu; 30.8%) và nước tiểu (52/188 mẫu, 27.7%). Cấy máu có tỷ lệ 
(+) thấp (9/163 mẫu, 5.5%). Có 2 loài vi khuẩn thường gặp nhất là E. coli (64/187 mẫu, 
34.2%), thường gặp ở bệnh phẩm nước tiểu (34/64, 53.1%) và bệnh phẩm mủ (20/64, 
31.3%); Staphylococcus aureus (27/187 mẫu, 14.4%) gặp chủ yếu ở bệnh phẩm mủ (22/27, 
81.5%). 
Hầu như tất cả các nhóm kháng sinh đều bị đề kháng cao. Trong số 64 mẫu E. 
coli được phân lập, 37 mẫu có men ESBL (57.8%). Các KS mà nhóm Enterobacteriaceae 
còn nhạy > 80% gồm Vancomycin, Imipenem, Meropenem, Cefoperazone/Sulbactam, 
Amikacin, Piperacillin/Tazobactam, Ticarcillin/Clavulanic và Ampicillin/sulbactam. Tỷ lệ 
Staphylococcus aureus có kháng với Methicillin (MRSA dương tính) là 63% (17/27 mẫu) 
và đề kháng với hầu hết kháng sinh hiện có. Các KS mà các chủng Staphylococcus nhạy 
> 80% chỉ còn Vancomycin, Linezolid, Amikacin, Ampicillin/sulbactam và Doxycyclin. 
Trực khuẩn mủ xanh Pseudomonas aeruginosa (n=17) chỉ còn nhạy với Polymycin 
B (100%), Amikacin (73.7%), còn với các kháng sinh khác đều nhạy cảm dưới 54%. Nhóm 
Haemophilus influenzae & parainfluenzae (n=11) có tỷ lệ đề kháng thấp. 
Có 325/420 BN (77.2%) được điều trị kháng sinh trước khi cấy vi sinh. Trong số 
đó, 75.7% mẫu có kết quả cấy âm tính. Thời gian trung vị từ khi BN vào viện và từ khi điều 
1 Bệnh viện An Sinh
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thị Bích Yến ([email protected])
Ngày nhận bài: 18/10/2019, ngày phản biện: 8/9/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/9/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
100
trị kháng sinh đến khi lấy mẫu cấy đều là 21 giờ (0-518 giờ & 0-508 giờ). 67.5% phác đồ 
kháng sinh không phù hợp KSĐ. Có 50.6% trường hợp cấy (+) BN được đổi phác đồ sau 
khi có KSĐ.
Kết luận: Phổ vi khuẩn ở BV An Sinh ngày càng đa dạng. Vi khuẩn thường gặp 
nhất ở BV năm 2018 vẫn là E. coli & Staphylococcus aureus với tỷ lệ đa kháng thuốc 
(ESBL & MRSA dương tính) cao. Nên lấy mẫu cấy vi sinh càng sớm càng tốt và trước khi 
điều trị kháng sinh để lựa chọn được phác đồ điều trị tối ưu cho người bệnh.
EVALUATION OF SPECTRUM AND ANTIBIOTIC RESISTANCE OF 
BACTERIA AT AN SINH PRIVATE HOSPITAL IN 2018
SUMMARY
Antibiotic resistance is serious problem in Vietnam. Each hospital is recommended 
to have their antibiotic resistance data annually. 
Objective: This study was conducted to identify spectrum and antibiotic resistance 
of bacteria at An Sinh private hospital in 2018.
Materials and methods: Data regarding culture and susceptibility testing of the 
organisms isolated from clinical specimens such as urine, blood, wound swab/pus, stool, 
sputum and tracheal aspirations were collected from the records of the Microbiology 
Department at An Sinh private general hospital from January to December in 2018.
Results: Out of 620 specimen episodes in 494 patients, 187 (30.2%) were bacteria 
culture positive, in which, the highest positive culture rate was in wound swab/pus (74/95 
samples, 77.9%), then in sputum (44/143 samples, 30.8%), in urine (52/188 samples, 
27.7%). The positive blood culture rate was the lowest (5.5%) (9/163 samples). Among 24 
mycobacteria genera founded, two most commonly occurring pathogens were Escherichia 
coli (64/187, 34.2%), mostly in urine (34/64 samples, 53.1%) then in swab/pur (20/64 
samples, 31.3%). Staphylococcus aureus (27/187, 14.4%), usually in swab/pur (22/27 
samples, 81.5%). Prevalence of extended-spectrum beta-lactamase (ESBL) produced 
E. coli was 57.8% (37/64 species). Antibiotics that Enterobacteriaceae were sensitive 
more than 80% included vancomycin, imipenem, meropenem, amikacin, cefoperazone/
sulbactam, piperacillin/tazobactam, ticarcilin/calavulanic and ampicillin/sulbactam. 
And Staphylococcus were resistant to most antibiotics. There are 3 medications including 
vancomycin, amikacin and linezolid acid that Staphylococcus were sensitive more than 
80%. 17 Pseudomonas aeruginosa species were sensitive to only Polymycin B (100%), to 
Amikacin (73.7%) and below 54% to others.
325/420 patients received antibiotics before cultural samples taken. In which 
75.7% had negative cultural result. Median of time from using antibiotics to sample taken 
was 21 hours (0-508h). 67.5% patients received inappropriate antibiotic regimens and 
50.6% patients changed regimen as the susceptibility testing recommended.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
101
So far, Beta-lactams and Quinolones used usually as empiric treatment regimens 
at our hospital.
Conclusion: Bacteria spectrum at An Sinh hospital is diversity in 2018. The most 
common pathogens in the hospital were E. coli and S. aureus and often ESBL and MRSA 
producers (respectively). Samples for bacteria cultural shoul be taken as early as possible 
and before antibiotic used. This may select the most appropriate antibiotic for patient 
treatment.
Key words: Antibiotic resistance, bacteria, clinical speciments.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đề kháng kháng sinh vẫn là vấn đề 
nghiêm trọng ở Việt Nam. Kháng thuốc làm 
giảm hiệu quả điều trị, nhiễm khuẩn kéo 
dài, tăng khả năng tử vong và có thể lây lan 
vi khuẩn kháng thuốc cho người khác, cũng 
như làm chi phí điều trị gia tăng. Đã có rất 
nhiều báo cáo về tình hình kháng thuốc 
tại các bệnh viện trong cả nước[1, 3, 6]. Các 
phác đồ điều trị kháng sinh cũng đã được 
ban hành. Tình hình vi khuẩn kháng thuốc 
vẫn cần phải liên tục được cập nhật, vì phổ 
kháng thuốc của vi khuẩn (VK) ở các bệnh 
viện, các cơ sở y tế khác nhau có thể có 
những đặc điểm riêng biệt khác nhau.
Kể từ năm 2016 đến nay, bệnh viện 
An Sinh có khảo sát về phổ vi khuẩn & 
tình hình kháng thuốc hàng năm. Kết quả 
các khảo sát này giúp cho bác sĩ lâm sàng 
có thêm thông tin để lựa chọn và sử dụng 
kháng sinh điều trị cho bệnh nhân.
Mục tiêu: Khảo sát phổ vi khuẩn 
và tình hình đề kháng kháng sinh tại bệnh 
viện An Sinh năm 2018
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng: 
Các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân 
ở bệnh viện An Sinh làm cấy-kháng sinh đồ 
(KSĐ) từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2018. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
Kỹ thuật soi, cấy, định danh & làm 
KSĐ theo Hướng dẫn thực hành kỹ thuật vi 
sinh lâm sàng của Bộ Y tế 2017[10].
Bệnh phẩm nước tiểu cấy theo 
phương pháp cấy đếm, dương tính khi có 
lượng vi khuẩn ≥ 105 CFU/ml. Cấy đờm 
theo phương pháp bán định lượng trên các 
mẫu đàm đạt tiêu chuẩn (bạch cầu > 25, tế 
bào biểu mô < 10 trên vi trường x 100). Cấy 
máu 1 chai /lần trên môi trường BHI 2 pha, 
bệnh phẩm máu đựơc coi là dương tính khi 
có khúm vi khuẩn mọc trên pha rắn và/hoặc 
pha lỏng đổi màu, đục, lắng cặn, có màng.... 
Nhộm soi Gram để xác định nhóm vi khuẩn 
Gram âm hay dương trước khi định danh & 
làm KSĐ. 
Mẫu cấy dương sẽ được định danh 
vi khuẩn bằng phương pháp sinh vật hóa 
học. Kỹ thuật xác định tính nhạy cảm kháng 
sinh của vi khuẩn gây bệnh được thực hiện 
theo phương pháp khuếch tán trên thạch. 
Các kháng sinh dùng để xác định tính nhạy 
cảm kháng sinh của từng loại vi khuẩn được 
đặt theo sơ đồ hướng dẫn của CLSI 2017.
Sinh phẩm cấy, định danh & KSĐ 
sử dụng bộ thương phẩm của công ty Nam 
Khoa
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
102
Xử lý kết quả bằng phần mềm 
thống kê EPI INFO 7.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tuổi, giới: 
Trong số 494 bệnh nhân có mẫu 
cấy vi sinh được khảo sát, có 180 BN nam 
(36.4%), 314 BN nữ (63.6%). Đa số là 
người cao tuổi. Tuổi trung bình 59 ± 22; 
trung vị: 61 tuổi (từ 1-100 tuổi).
3.2. Kết quả phân lập vi khuẩn:
TT Vi khuẩn n % TT Vi khuẩn n %
1 Acinetobacter spp 5 2,7 13 Pseudomonas spp. 3 1,6
2 Burkholderia cepaciae 9 4,8 14 Proteus mirabilis 2 1,1
3 E. coli 64 34,2 15 Serratia marcescens 3 1,6
4 Enterobacter spp. 6 3,2 16 Serratia spp. 2 1,1
5 Enterococcus feacalis 2 1,1 17 Staphylococcus aureus 27 14,4
6 Enterococcus faecium 1 0,5 18 Staphylococcus epidermidis 8 4,3
7 Haemophilus influenzae 9 4,8 19
Staphylococcus 
nhóm D 1 0,5
8 H. parainfluenzae 2 1,1 20 Staphylococcus saprophyticus 1 0,5
9 Klebsiella pneumoniae 12 6,4 21 Stenotrophomonas maltophilia 1 0,5
10 Nesseria catarrhalis 3 1,6 22 Streptococcus agalactiae (nhóm B) 1 0,5
11 Nesseria gonorrhoeae 2 1,1 23 Streptococcus viridians 5 2,7
12 Pseudomonas aeruginosa 17 9,1 24 Streptomyces 1 0,5
Tổng 187 100,0
Bảng 1: Phổ vi khuẩn ở bệnh viện An Sinh năm 2018
3.3 Kết quả phân lập vi khuẩn 
theo mẫu bệnh phẩm:
E. coli thường gặp ở mẫu nước 
tiểu (34/52, 65.4%), sau đó là mẫu máu 
(4/9, 44.4%). Có nhiều loại vi khuẩn được 
tìm thấy trong mẫu đàm như H. influenza 
& H. parainfluenza (11/44, 25.0%), E. coli 
(5/44. 11.4%), Pseudomonas aeruginosa 
(5/44, 11.4%), Acinetobacter spp. (4/44, 
9.1%). Mẫu mủ thường gặp nhất là 
Staphylococcus aureus (22/74, 29.7%) và 
E. coli (20/74, 27.0%)
3.4 Kết quả KSĐ theo thuốc: 
Tỷ lệ kháng thuốc chung trong 
nghiên cứu này là 39.9% (1397/3504 mẫu 
thử KSĐ). Hầu hết các nhóm kháng sinh 
đều có tỷ lệ đề kháng cao. 
Ghi nhận độ nhạy cảm kháng 
sinh ở các nhóm vi khuẩn thường gặp 
nhất trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
103
các KS mà nhóm vi khuẩn đường ruột 
Enterobacteriaceae còn nhạy >80% gồm 
Vancomycin (100%), Imipenem (97.7%), 
Meropenem (96.6%), Cefoperazone/
Sulbactam (95.4%), Amikacin (95.3%), 
Piperacillin/Tazobactam (92%), 
Ticarcillin/Clavulanic (89.4%) và 
Ampicillin/sulbactam (85.1%). Nhóm tụ 
cầu Staphylococcus đề kháng với hầu hết 
kháng sinh hiện có. Còn rất ít kháng sinh 
mà nhóm tụ cầu nhạy > 80%: Vancomycin 
(100%), Linezolid (97.2%), Amikacin 
(97.1%), Ampicillin/sulbactam (82.9%) 
và Doxycyclin (81.8%). Trực khuẩn mủ 
xanh Pseudomonas aeruginosa (n=17) 
chỉ còn nhạy với Polymycin B (100%), 
Amikacin (73.7%). Tỷ lệ nhạy cảm với 
các kháng sinh khác đều dưới 54%. Nhóm 
Haemophilus influenzae & parainfluenzae 
(n=11) có tỷ lệ đề kháng thấp. Các 
kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3, 4 & 
Cacbapemem ít bị đề kháng 
Các VK khác gặp không đáng kể 
nên chúng tôi chưa có tỷ lệ đề kháng có ý 
nghĩa.
3.5 Tỷ lệ vi khuẩn có ESBL & 
tụ cầu kháng methicillin (MRSA/MRS): 
Có 41/90 (45,6%) mẫu vi khuẩn 
đường ruột Enterobacteriaceae sinh men 
kháng Beta-lactamase phổ rộng (ESBL+), 
riêng E. coli có ESBL (+) là 37/64 mẫu 
(57.8%). Có 22/36 (61,1%) tụ cầu 
Staphylococcus kháng methicillin, riêng 
S. Aureus MRSA (+) là 17/27 mẫu (63%)
3.6 Các nhóm KS được sử dụng 
tại BV An Sinh trong thời gian BN nằm 
viện:
2 nhóm kháng sinh thường được 
sử dụng nhất ở BV An Sinh vẫn là các 
cephalosporin thế hệ 2, 3 (32%) và nhóm 
quinolone (34%). 
4. BÀN LUẬN
4.1. Các mẫu bệnh phẩm 
thường được chỉ định cấy-KSĐ và tỷ lệ 
cấy dương tính:
Năm 2018 khoa Xét nghiệm nhận 
tổng cộng 620 mẫu bệnh phẩm của 494 
bệnh nhân bệnh viện An Sinh làm XN cấy 
vi sinh, trong đó có 163 mẫu máu (26,3%), 
188 mẫu nước tiểu (30,3%), 143 mẫu đàm 
(23,1%), 95 mẫu mủ (15,3%), 31 mẫu phân 
& các dịch khác (5,0%). Số loài vi khuẩn 
được phân lập năm 2018 (24 loài) cao hơn 
năm 2017 (20 loài). Tỷ lệ cấy dương tính 
chung là 33,4% (207 mẫu), trong đó cấy vi 
khuẩn (+) có 187 mẫu (30,2%), cấy nấm 
(+) 20 mẫu (3,2%). Tỷ lệ cấy (+) cao nhất 
ở bệnh phẩm mủ (74/95; 77,9%), sau đó 
là mẫu đàm (44/143; 30,8%), nước tiểu 
(52/188; 27,7%), các dịch khác (7/24; 
29,2%). Tỷ lệ cấy máu (+) năm 2018 
(9/163 mẫu; 5,5%) giảm hẳn so với năm 
2017 (25/123; 20,3%). Điều này phản ánh 
việc cấy máu đã được quan tâm hơn và 
có chỉ định rộng rãi hơn. So với các năm 
trước, tỷ lệ cấy (+) của chúng tôi đã tăng 
từ 25% (2016[9]) lên 35,5% (2017)[11] 
và giữ ổn định đến nay, cho thấy sự cải 
thiện & ổn định trong hoạt động labo vi 
sinh của chúng tôi. 
Khi BN nội trú nhập viện, chúng 
tôi thấy BN ít khi được lấy mẫu cấy vi sinh 
sớm, thời gian trung vị là 21 giờ (Từ 0-518 
giờ). Gần một nửa BN lấy mẫu sau 24 giờ 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
104
nhập viện (40,5%). Trong số 420 bệnh án 
BN nội trú, có 325 trường hợp (77,2%) 
được điều trị kháng sinh trước khi lấy mẫu 
cấy, đa số trường hợp BN được sử dụng 
KS trên 12 giờ (230/325; 70,8%). 
Trong 325 trường hợp BN được 
ghi nhận điều trị KS trước khi cấy, có 246 
trường hợp (75,7%) kết quả cấy âm tính, 
1 mẫu ngoại nhiễm, 78 mẫu cấy dương 
(24%). Việc lấy mẫu cấy trước khi BN 
được sử dụng kháng sinh là điều rất quan 
trọng, luôn được khuyến cáo, vì nó sẽ góp 
phần tăng khả năng cấy (+), phát hiện 
nguyên nhân gây nhiễm trùng sớm để có 
hướng điều trị cho BN phù hợp hơn.
4.2. Các chủng VK thường gặp 
ở BN bệnh viện An Sinh năm 2018:
Trong năm 2018, trong số các 
BN đến khám và điều trị tại bệnh viện An 
Sinh được cấy vi sinh các mẫu bệnh phẩm, 
chúng tôi nhận thấy phổ vi khuẩn phân 
lập đa dạng tương tự năm 2017, và 2 loại 
vi khuẩn thường gặp nhất vẫn là E. coli 
(64/187, 34,2%) & Staphylococcus aureus 
(27/187; 14,4%). Trực khuẩn mủ xanh 
Pseudomonas aeruginosa là 1 trong các tác 
nhân gây nhiễm trùng bệnh viện đã tăng 
chút ít (17/187; 9.1%) so với năm 2017 
(8/145; 5,5%). Các loài vi khuẩn khác gặp 
rải rác với số lượng ít (< 9%). 
Trong số các mẫu cấy dương tính, 
E. Coli thường gặp nhất ở mẫu nước tiểu 
(34/52; 65,4%) và mẫu máu (4/9; 44,4%). 
Mẫu đàm thường gặp nhiều loại tác nhân 
gây bệnh gồm Haemophillus influenza & 
H. parainfluenza (11/44, 25.0%), E. coli 
(5/44. 11.4%), Pseudomonas aeruginosa 
(5/44, 11.4%), Acinetobacter spp. (4/44, 
9.1%). Mẫu mủ thường gặp nhất là 
Staphylococcus aureus (22/74, 29.7%) và 
E. coli (20/74, 27.0%).
So sánh với một số nghiên cứu 
khác ở Việt Nam: Theo Nguyễn Văn 
Kính [6] trong một báo cáo năm 2010, 
tại một bệnh viện tuyến trung ương, các 
tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết thường 
gặp là: K. pneumonia (18,3%), E. coli 
(17,6%), Staphylococcus aureus (11,9%), 
Pseudomonas aeruginosa (5,9%) và 
Acinetobacter baumannii (4,4%). Trong 
khi đó, ở thành phố Hồ Chí Minh, các căn 
nguyên vi khuẩn thường phân lập được là: 
E. coli, S. typhi, Klebsiella pneumoniae và 
Streptococcus spp. Một nghiên cứu[8] ở 
bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Tp. HCM năm 
2010, khảo sát trên 396 mẫu cấy máu thấy 
tỉ lệ phân lập với Acinetobacter là 4% và 
Pseudomonas là 3%, trong khi chúng tôi 
không tìm thấy 2 loài vi khuẩn này trong 
mẫu cấy máu ở bệnh viện An Sinh từ năm 
2016[9, 11] đến nay.
Viêm phổi cũng là một bệnh lý 
thường gặp ở các bệnh viện, nhất là các 
khoa hồi sức tích cực có thông khí xâm 
lấn. Căn nguyên vi khuẩn gây viêm 
phổi tường gặp do S.pneumoniae, K. 
pneumonia, H. infuenzae, Moraxella 
catarrhalis, và S. aureus. Đáng chú ý là, 
K. pneumoniae là một nguyên nhân chủ 
yếu gây viêm phổi mắc phải cộng đồng ở 
người lớn[6]. Một khảo sát thực hiện trên 
181 bệnh phẩm dịch hút khí quản tại Bệnh 
viện Bệnh Nhiệt Đới TP Hồ Chí Minh 
trong năm 2010, Acinetobacter phân lập 
được với tỉ lệ cao 50,5% và Pseudomonas 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
105
là 31% [8]. Tương tự năm 2017, trong 
năm 2018 chúng tôi gặp 14 loại vi khuẩn 
trong mẫu cấy đàm, tỷ lệ gặp cao nhất vẫn 
là H. infuenzae (10/44; 22,7%), sau đó 
là Klebsiella pneumoniae (7/44; 15,9%), 
E. coli (5/44; 11,45%) & Pseudomonas 
aeruginosa (5/44; 11,45%), Acinetobacter 
spp. (4/44; 9,1%). Năm 2016, ở bệnh phẩm 
đàm, chúng tôi gặp Klebsiella sp. (56,5%), 
Streptococci beta hemolytic (13,1%), E. 
coli và Staphylococcus aureus (8,7%)[9] 
nhưng không thấy H. infuenzae; một số tác 
nhân thường gây viêm phổi bệnh viện như 
Pseudomonas aeruginosa hay Acinobacter 
spp. cũng không thấy hiện diện trong mẫu 
đàm của Bn, thì năm 2017, 2018 đã phân 
lập được, tuy tỷ lệ chưa cao. Một trong 
những lý do có thể giải thích cho việc ít 
thấy các tác nhân thường gây viêm phổi 
bệnh viện ở nghiên cứu của chúng tôi là 
bệnh viện An Sinh chưa có đơn vị thông 
khí xâm lấn, và bệnh nhân có thời gian 
nằm viện ngắn. 
4.3. Tình hình kháng thuốc:
Cũng như tình hình chung, vi 
khuẩn phân lập ở BN BV An Sinh năm 
2018 có đề kháng với kháng sinh cao. Đa số 
kháng sinh nhóm penicillin, cephalosforin, 
quinolone, macrolide bị đề kháng cao (từ 
40-100%). Chỉ còn 1 số penicillin kết hợp 
với thuốc ức chế Beta lactamase, amikacin, 
vancomycin, linezolid còn nhạy cảm khá 
tốt. So với 2016-2017, tỷ lệ đề kháng của 
các kháng sinh đã gia tăng đáng kể. 
Ghi nhận tỷ lệ vi khuẩn 
Enterobacteriaceae sinh men Beta 
lactamase (ESBL) năm 2018 vẫn ở mức 
cao là 44,4% (40/90 chủng), riêng E. coli 
có ESBL là 37/64 mẫu (57.8%) tương tự 
năm 2017 (47,6% - 30/63 mẫu). Có 22/36 
(61,1%) mẫu Staphylococcus aureus & 
Staphylococcus spp. có kháng methicillin 
(MRS hoặc MRSA), giảm hơn so với năm 
2017 (18/23 mẫu, 78,3%) tuy chưa có ý 
nghĩa thống kê (P > 0.05).
Phân tích đề kháng kháng sinh của 
4 nhóm vi khuẩn thường gặp ở nghiên cứu 
này, với họ vi khuẩn Enterobacteriaceae, 
còn 9 loại kháng sinh nhạy cảm > 80% 
là các KS trong nhóm Betalactam/kháng 
Betalactamase (Piperazin/tazobactam, 
cefoperazone/sulbactam, ticarciclin/
clavulanic, ampiciclin/sulbactam), 
cacbapenem (imipenem, meropenem), 
amikacin, vancomycin và linezolid acid, 
cho thấy việc điều trị với nhiễm khuẩn do 
Enterobacteriaceae sẽ gặp nhiều khó khăn 
và tốn kém.
Với Staphylococcus aureus và 
Staphylococcus spp., số kháng sinh mà 
vi khuẩn còn nhạy >80% chỉ còn 5 thuốc: 
vancomycin, linezolid acid, amikacin, 
ampi/sulbactam và doxyciline
Mặc dù nhiễm khuẩn do 
Pseumonas aeruginosa ở BV An Sinh năm 
2018 chưa nhiều (9.1%), nhưng số kháng 
sinh mà vi khuẩn này còn nhạy > 80% chỉ 
duy nhất có vancomycin. Điều này là 1 
thách thức rất lớn trong công tác điều trị 
cho bệnh nhân.
Trong khi đó, Haemophylus 
influenzae - 1 trong những tác nhân gây 
viêm phổi cộng đồng còn nhạy cảm cao với 
nhiều loại kháng sinh nhóm cephalosporin 
thế hệ 2, 3 và cacbapenem.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
106
Như chúng tôi đã đề cập từ năm 
2016[9], tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao tại 
bệnh viện chúng tôi những năm qua cũng 
phù hợp với tình hình chung của Việt Nam 
trong các báo cáo của nhiều tác giả khác. 
Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP[5] 
từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của 
14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á 
cho thấy tỷ lệ kháng cao của vi khuẩn S. 
pneumoniae. Trong số 685 mẫu vi khuẩn 
S. pneumoniae phân lập được từ người 
bệnh, có 483 (52,4%) mẫu không còn nhạy 
cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian 
và 29,4% đã kháng với penicillin (MIC ≥ 
2mg/l). Tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam 
cao nhất (71,4%) tiếp theo là Hàn Quốc 
(54,8%), Hồng Kông (43,2%) và Đài 
Loan (38,6%). Tỷ lệ kháng erythromycin 
cũng rất cao, ở Việt Nam là 92,1%, Đài 
Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng 
Kông là 76,8% và Trung Quốc là 73,9%. 
Số liệu từ nghiên cứu giám sát đa trung 
tâm đã chứng minh rõ ràng về tốc độ và 
tỷ lệ kháng của S. pneumoniae tại nhiều 
nước châu Á, những nơi có tỷ lệ mắc bệnh 
nhiều nhất thế giới [4]. Theo số liệu báo 
cáo của 15 bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh 
viện đa khoa tỉnh ở Hà Nội, Hải Phòng, 
Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, về kháng 
kháng sinh giai đoạn 2008 - 2009 cho thấy: 
năm 2009, 30 - 70% vi khuẩn gram âm đã 
kháng với cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 
4, gần 40-60% kháng với aminoglycosid 
và fluoroquinolon. Gần 40% chủng vi 
khuẩn Acinetobacter giảm nhạy cảm với 
imipenem[1]. 
Từ năm 2016 đến nay ở BV An 
Sinh vẫn có 2 nhóm kháng sinh thường 
được sử dụng nhất là nhóm quinolone 
(34%) và nhóm cephalospotin thế hệ 2, 
3 (32%), là những nhóm KS có tỷ lệ vi 
khuẩn đề kháng cao. Kết quả của nghiên 
cứu này ghi nhận trong 114 BN nội trú có 
kết quả cấy VK (+), đa số BN được điều trị 
kháng sinh với phác đồ không phù hợp với 
KSĐ (77/114, 67.5%). Sau khi có kết quả 
KSĐ, chỉ có 39 trường hợp được đổi phác 
đồ điều trị (50.6%)
5. KẾT LUẬN
Phổ vi khuẩn ở BV An Sinh 
ngày càng đa dạng. Vi khuẩn thường gặp 
nhất ở BV năm 2018 vẫn là E. coli & 
Staphylococcus aureus với tỷ lệ đa kháng 
thuốc (ESBL & MRSA dương tính) cao. 
Nên lấy mẫu cấy vi sinh càng sớm càng 
tốt và trước khi điều trị kháng sinh để 
lựa chọn được phác đồ điều trị tối ưu cho 
người bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo sử dụng kháng sinh và 
kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt 
Nam năm 2008-2009 (Report on AB use 
and resistance in 15 hospitals in Vietnam 
2008-2009).
2. Bùi Nghĩa Thịnh, Phạm Anh 
Tuấn, Phạm Thị Huỳnh Giao, Nguyên 
Hồng Trường, Nguyễn Thiên Bình, 
Nguyễn Thị Phương Lan, Nguyễn Anh 
Trí, Đỗ Quốc Huy, “Khảo sát rình hình 
đề kháng kháng sinh của vi khuẩn tại 
khoa hồi sức tích cực và chống độc bệnh 
viện cấp cứu Trưng Vương”, 
bvtrungvuong.vn/LinkClick.aspx?filetick
et=iH4cQ1DkOlY%3D&tabid=73 
3. Lý Ngọc Kính, Ngô Thị Bích 
Hà và cộng sự, “tìm hiểu thực trạng sử 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
107
dụng kháng sinh trong nhiễm khuẩn bệnh 
viện tại các đơn vị điều trị tích cực ở một số 
cơ sở khám, chữa bệnh” năm 2009-2010.
4. Nghiên cứu giám sát ANSORP 
từ 1/2000 đến 6/2001 (Song JH & 
ANSORP. Antimicrobial Agents And 
Chemotherapy, June 2004, p. 2101–2107).
5. Nghiên cứu KONSAR từ 2005-
2007 ở các bệnh viện Korea (Yonsei Med 
J. 2010 Nov; 51(6): 901-11)
6. Nguyễn văn Kính, “Phân 
tích thực trạng sử dụng kháng sinh và 
kháng kháng sinh tại Việt Nam, 2010” 
(Situation Analysis on Antibiotic Use 
and Resistance in Vietnam, 2010, GARP 
– Việt Nam) 
cddep.org/files/23-12_sit._an.-summary_
comments__vnese_version__-_271010.
pdf:
7.Nguyễn Thị Thu Ba, Dương Văn 
Dũng, Nguyễn Thị Thu Hồng, Lê Trương 
Minh Nguyên, Nguyễn Minh Doan, “Đánh 
giá tình hình dịch tễ học vi khuẩn kháng 
kháng sinh và thực trạng sử dụng các Kháng 
sinh nhóm Beta-lactamin phổ rộng tại 
bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng năm 2014”, 
userfiles/31/%C4%90%E1%BB%80%20
T % C 3 % 8 0 I % 2 0 D T H % 2 0
V K % 2 0 V A % 2 0 K S % 2 0
BETALACTAMIN_15%2012%2014.pdf
8.Nguyễn Phú Hương Lan, 
Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Đinh Nguyễn 
Huy Mẫn, Lê Thị Dưng, Nguyễn Thị 
Thu Yến, (2012), “Khảo sát mức độ đề 
kháng kháng sinh của Acinobacter và 
Pseudomonas phân lập tại bệnh viện Bệnh 
nhiệt đới năm 2010”, thời sự y học 3/2012 
- Số 68, p. 9-12
9.Nguyễn Thị Bích Yến (2017), 
“Phổ vi khuẩn và tình hình đề kháng kháng 
sinh ở bệnh viện An Sinh năm 2016”, 
wsID=1211&CatID=75&TypeID=6 
10. Bộ Y tế, Hướng dẫn thực hành 
kỹ thuật xét nghiệm vi sinh lâm sàng (Ban 
hành kèm theo Quyết định số 1539/QĐ-
BYT ngày 20/4/2017 của Bộ trưởng Bộ Y 
tế)
11.Yen Nguyen, Van Le & Dien 
Mai (2018), “Spectrum and antibiotic 
resistance of pathogens at An Sinh private 
general hospital in 2017”, Vietnam journal 
of infectiuos diseases, No. 6, pp. 120-121.

File đính kèm:

  • pdfpho_vi_khuan_va_tinh_hinh_de_khang_khang_sinh_tai_benh_vien.pdf