Phẫu thuật tạo hình van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ với cải tiến kĩ thuật bộc lộ van hai lá, hướng tới phẫu thuật nội soi toàn bộ tại Trung Tâm Tim Mạch Bệnh Viện E

Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu mô

tả 22 bệnh nhân được phẫu thuật sửa van hai

lá ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ tại Trung Tâm

Tim Mạch – Bệnh Viện E từ tháng 09/2015

đến tháng 05/2017. Tất cả các bệnh nhân

được phẫu thuật theo một quy trình thống

nhất: siêu âm thực quản trước mổ, tuần hoàn

ngoài cơ thể ngoại vi, đường mở nhỏ ngực

phải 4cm, cặp động mạch chủ qua thành

ngực, liệt tim xuôi dòng qua gốc động mạch

chủ. Phương pháp bộc lộ van hai lá được cải

tiến với miếng đệm tự chế và các mũi chỉ có

pledgets khâu treo qua thành ngực.

pdf 8 trang phuongnguyen 460
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật tạo hình van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ với cải tiến kĩ thuật bộc lộ van hai lá, hướng tới phẫu thuật nội soi toàn bộ tại Trung Tâm Tim Mạch Bệnh Viện E", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật tạo hình van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ với cải tiến kĩ thuật bộc lộ van hai lá, hướng tới phẫu thuật nội soi toàn bộ tại Trung Tâm Tim Mạch Bệnh Viện E

Phẫu thuật tạo hình van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ với cải tiến kĩ thuật bộc lộ van hai lá, hướng tới phẫu thuật nội soi toàn bộ tại Trung Tâm Tim Mạch Bệnh Viện E
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 
 36 
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN CÓ NỘI SOI HỖ 
TRỢ VỚI CẢI TIẾN KĨ THUẬT BỘC LỘ VAN HAI LÁ, HƢỚNG TỚI PHẪU 
THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH BỆNH VIỆN E 
Phạm Thành Đạt*, Nguyễn Công Hựu*, Lê Ngọc Thành* 
TÓM TẮT 
Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu mô 
tả 22 bệnh nhân đƣợc phẫu thuật sửa van hai 
lá ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ tại Trung Tâm 
Tim Mạch – Bệnh Viện E từ tháng 09/2015 
đến tháng 05/2017. Tất cả các bệnh nhân 
đƣợc phẫu thuật theo một quy trình thống 
nhất: siêu âm thực quản trƣớc mổ, tuần hoàn 
ngoài cơ thể ngoại vi, đƣờng mở nhỏ ngực 
phải 4cm, cặp động mạch chủ qua thành 
ngực, liệt tim xuôi dòng qua gốc động mạch 
chủ. Phƣơng pháp bộc lộ van hai lá đƣợc cải 
tiến với miếng đệm tự chế và các mũi chỉ có 
pledgets khâu treo qua thành ngực. Van hai lá 
đƣợc bộc lộ hoàn chỉnh, 22 bệnh nhân thực 
hiện thành công phẫu thuật. Không có trƣờng 
hợp nào phải mở rộng đƣờng mở ngực hay 
chuyển mở xƣơng ức. Tuổi trung bình là 45,7 
± 11,8 tuổi. 22,7% nữ và 77,3% nam. Các 
bệnh lý phổ biến nhất là bệnh thoái hoá van 
hai lá type II (77,3%), dựa trên phân loại 
Carpentier, bệnh van hai lá do thấp type I 
(18,2%). Thời gian chạy máy TNHCT 208.95 
± 43.68 phút, thời gian cặp động mạch chủ 
143.09 ± 39.95 phút. Kỹ thuật tạo hình van 
hai lá bao gồm: đặt vòng van 100%, cắt tứ 
giác 36%, khâu gấp nếp lá sau 50%, chồng 
dây chằng nhân tạo 14%. Tỉ lệ tử vong trong 
bệnh viện và 30 ngày sau mổ là 0%. Không 
có trƣờng hợp nào chảy máu phải mổ lại. Các 
biến chứng ghi nhận bao gồm 1 trƣờng hợp 
đột quỵ (4,5%), 1 tràn dịch màng phổi (4,5%) 
1 tràn dịch màng tim cần dẫn lƣu (4,5%). 
Thời gian hồi sức trung bình 3 2 ngày, thời 
gian thở máy 18.3 8.8 giờ. Siêu âm tim 
sau phẫu thuật (n=22) đánh giá mức độ hở 
van: không hở hoặc rất nhẹ (n=10; 45,5%), 
hở nhẹ (n=10; 45,5%), hở vừa (n=2; 9%), hở 
nặng (0; 0%). Có một trƣờng hợp van hai lá 
hẹp nhẹ sau mổ, không cần can thiệp. 5 
Từ khoá: Tạo hình van hai lá, ít xâm lấn, 
nội soi hỗ trợ, phẫu thuật tim hở 
SUMMARY 
This was a hospital-based cohort study 
including 22 prospective and retrospective 
patients who underwent minimally invasive 
mitral repair between 2015 and 2017. All 
enrolled patients had moderate to severe 
mitral regurgitation and transesophageal 
echocardiography done preoperatively. 
Operative techniques included peripheral 
cardiopulmonary bypass establishment, a 4cm 
right mini-thoracotomy, a transthoracic aortic 
* Trung tâm tim mạch, Bệnh viện E 
Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Thành 
Ngày nhận bài: 01/10/2017 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/10/2017 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ VỚI CẢI TIẾN KĨ THUẬT... 
 37 
cross-clamp, and antegrade cardioplegia. 
Mitral valve was exposed by using a self-
made pledgets and stitches hanging on the 
chest wall. Conventional left atrial retractor 
with supporting arm and rib retractor were not 
necessary. Almost all surgical manipulations 
were performed via thoracoscopic screen. The 
mitral valve exposure was good, 22 patients 
were operated on successfully. The mean age 
was 45.7 ± 11.8 years, 77.3% of the study 
population was male. The most predominant 
pathology was degenerative disease based on 
Carpentier classification, followed by 
functional mitral valve regurgitation Type II 
(77.3%), rheumatic disease Type I (18.2%). 
Cardiopulmonary bypass and aortic clamp 
times were 208.95 ± 43.68 and 143.09 ± 
39.95 minutes, respectively. Repair 
techniques included annuloplasty 100%, 
leaflet resection 36%, folding 50%, 
neochordae implantation 14%. Overall, in-
hospital and 30-day mortality were 0 %. 
There was no reoperation due to 
postoperative bleeding. The techniques were 
successfully applied in all patients without 
extending chest incision or conversion to 
median sternotomy. Major morbidities 
included 1 stroke (4.5%), 1 pleural effusion 
(4.5%) and 1 pericardial effusion (4.5%) 
requiring intervention. The ICU length of stay 
was 3 2 days, and average time to 
extubation was 18.3 8.8 hours. At 30 days 
after operation, an echocardiography was 
performed to evaluate the degree of mitral 
regurgitation (n = 22) which was none or 
trace (n=10, 45.5%), mild (n=10, 45.5%), 
moderate (n=2, 9%), or severe (n=0, 0%). 
Keywords: mitral valve repair;totally 
endoscopic procedure; mitral valve’s 
exposure 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phẫu thuật sửa van hai lá trong bệnh cảnh 
hở van hai lá đơn thuần là một phƣơng pháp 
mang lại nhiều ƣu điểm cho ngƣời bệnh. Kể 
từ năm 1983, những cải tiến mới của 
Carpentier đã chỉ ra những lợi ích của sửa van 
hai lá có ƣu thế hơn so với thay van hai lá 
nhân tạo [1]. Một số những ƣu điểm bao gồm 
: tăng tỷ lệ sống, giảm nguy cơ viêm nội tâm 
mạc nhiễm khuẩn, giảm thiểu huyết khối gây 
tắc nghẽn và biến chứng liên quan đến việc 
dùng thuốc chống đông. Carpentier, 
Cosgrove, và David từng cho thấy: 92 đến 95 
% bệnh nhân không cần mổ lại khi sửa van 
hai lá qua đƣờng mở ngực truyền thống trong 
vòng 10 năm sau mổ [2]. Chính những lợi ích 
này đã thuyết phục các phẫu thuật viên tim 
mạch lựa chọn phƣơng pháp sửa van hơn là 
thay van hai lá. 
Ngày nay, dƣới sự phát triển của phẫu 
thuật nội soi, nhiều phƣơng pháp tiếp cận van 
hai lá ít xâm lấn đã đƣợc nghiên cứu thực 
hiện trong đó phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm 
lấn qua đƣờng ngực phải đã chứng minh đƣợc 
những ƣu điểm nhƣ tính an toàn, tỷ lệ tử vong 
sau mổ thấp, giảm sang chấn, ít đau, ít chảy 
máu, giảm thời gian thở máy, hồi sức và nằm 
viện, tính thẩm mỹ cũng nhƣ giảm thiểu tỷ lệ 
nhiễm trùng vết mổ và các biến chứng liên 
quan đến xƣơng ức [3]. 
Tại trung tâm tim mạch bệnh viện E, 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 
 38 
chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật sửa van hai 
lá nội soi từ đầu năm 2015 và thu lại đƣợc 
những kết quả nhất định. Nghiên cứu này 
phân tích kinh nghiệm của chúng tôi về 
phƣơng pháp phẫu thuật này thông qua đánh 
giá kết quả lâm sàng của 22 bệnh nhân đã 
đƣợc sửa van nội soi trong vòng 20 tháng tại 
trung tâm tim mạch bệnh viện E. 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 
nghiên cứu:Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 
năm 2017, tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện 
E, chúng tôi tiến hành 22 ca phẫu thuật sửa 
van nội soi qua đƣờng mở nhỏ ngực phải. Tất 
cả các bệnh nhân đều đƣợc chẩn đoán hở van 
hai lá đơn thuần từ mức độ vừa đến nhiều 
theo phân loại của Carpentier và chấp thuận 
phƣơng án phẫu thuật/nghiên cứu này. 
2.1.1. Tiêu chuẩn loại trừ: Tiêu chuẩn 
loại trừ bao gồm bệnh nhân có tổn thƣơng vôi 
hoá van hai lá, chức năng tâm thu thất trái 
giảm (Phân suất tống máu EF < 30%), tăng áp 
lực động mạch phổi nặng (>70mmHg), động 
mạch vành có tổn thƣơng cần phẫu thuật bắc 
cầu nối chủ vành, bệnh lý van động mạch chủ 
kèm theo, bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật 
tim, chấn thƣơng lồng ngực bên phải, những 
trƣờng hợp đặc biệt nhƣ tổn thƣơng van hai lá 
do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn hoặc áp xe 
dƣới van, hở van hai lá bẩm sinh cũng không 
đƣợc chọn lựa vào nghiên cứu của chúng tôi. 
Ở những bệnh nhân trên 50 tuổi hoặc có 
yếu tố nguy cơ cao, chụp động mạch vành 
qua da để đánh giá tổn thƣơng mạch vành là 
thƣờng quy. Tất cả các bệnh nhân đều đƣợc 
siêu âm tim qua thành ngực trƣớc mổ, sau 
mổ, và siêu âm tim qua thực quản trong mổ. 
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu: Tất cả 
bệnh nhân đƣợc phẫu thuật theo một quy trình 
thống nhất. Bệnh nhân gây mê, ống nội khí 
quản một nòng, tƣ thế nằm nghiêng 300. Thiết 
lập tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi: đặt ống 
động mạch vào động mạch đùi chung phải 
qua đoạn mạch nhân tạo Dacron số 8, trong 
trƣờng hợp động mạch đùi nhỏ (không đủ áp 
lực tƣới máu ngƣợc dòng) đặt thêm ống động 
mạch thứ hai vào động mạch đùi chung trái 
(đặt trực tiếp với kĩ thuật Seldinger); Đặt ống 
tĩnh mạch thứ nhất vào tĩnh mạch đùi phải 
luồn lên tới tĩnh mạch chủ dƣới (siêu âm thực 
quản kiểm tra); Đặt ống tĩnh mạch thứ hai vào 
tĩnh mạch chủ trên, theo đƣờng tĩnh mạch 
cảnh trong phải qua da. Đặt trocart 6 mm 
khoang liên sƣờn IV đƣờng nách giữa bên 
phải đặt ống kính nội soi. Mở ngực nhỏ trƣớc 
bên phải 4 cm vị trí dƣới nếp lằn vú ở nữ, 
khoang liên sƣờn V ở nam, mở vào khoang 
màng phổi vị trí khoang liên sƣờn IV. Bảo vệ 
cơ tim bằng cặp động mạch chủ qua thành 
ngực (Clamp Chitwood –khoang liên sƣờn II 
đƣờng nách trƣớc) truyền dung dịch liệt tim 
xuôi dòng qua gốc động mạch chủ (dung dịch 
Custodiol HTK). Sau khi tim ngừng đập, 
phẫu tích rãnh liên nhĩ mở nhĩ trái bộc lộ van 
hai lá: khâu treo nâng nhĩ trái bằng chỉ 
prolene 3/0 hoặc 4/0 kim 26 và miếng nhựa 
đệm; các sợi chỉ khâu treo đƣợc luồn, kéo qua 
thành ngực, cố định bằng panh, qua đó vách 
liên nhĩ, cơ thành bên nhĩ trái đƣợc kéo căng 
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ VỚI CẢI TIẾN KĨ THUẬT... 
 39 
lên trên, ra trƣớc bộc lộ van hai lá cho các 
thao tác sửa van. 
III. KẾT QUẢ 
Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 
2017, tại trung tâm tim mạch bệnh viện E, 
chúng tôi đã tiến hành 22 ca phẫu thuật sửa 
van nội soi qua đƣờng mở nhỏ ngực phải. 
Tất cả các bệnh nhân đều đƣợc chẩn đoán 
hở van hai lá từ mức độ vừa đến nhiều theo 
phân loại của Carpentier và chấp thuận 
phƣơng án phẫu thuật này. Tiêu chuẩn loại 
trừ bao gồm những nhóm bệnh nhân có tổn 
thƣơng vôi hoá van hai lá nhiều, tăng áp lực 
động mạch phổi nặng ( áp lực động mạch 
phổi > 70mmHg), chức năng tâm thu thất 
trái kém ( Phân suất tống máu EF < 20%), 
và động mạch vành có tổn thƣơng cần phẫu 
thuật bắc cầu nối chủ vành. Ngoài ra những 
trƣờng hợp đặc biệt nhƣ tổn thƣơng van hai 
lá do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn hoặc 
áp xe dƣới van, hở van hai lá bẩm sinh cũng 
không đƣợc chọn lựa vào nghiên cứu của 
chúng tôi. Ở những bệnh nhân trên 50 tuổi 
hoặc có yếu tố nguy cơ cao, chụp động 
mạch vành qua da để đánh giá tổn thƣơng 
mạch vành là thƣờng quy. Tất cả các bệnh 
nhân đều đƣợc siêu âm tim qua thành ngực 
trƣớc mổ, sau mổ, và siêu âm tim qua thực 
quản trong mổ. 
3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 
Tuổi trung bình của những bệnh nhân 
phẫu thuật sửa van hai lá nội soi là 45,7 ± 
11,8 tuổi; 77,3% trong số nghiên cứu là nam. 
Thƣơng tổn phổ biến nhất dựa trên phân loại 
Carpentier là hở hai lá do thoái hoá Type II 
(77,3%), bệnh van hai lá do thấp I (18,2%). 
Các đặc điểm lâm sàng nhƣ NYHA, bệnh lý 
kèm theo, và các đặc điểm cận lâm sàng, 
thăm dò chức năng đƣợc mô tả trong bảng 1 
dƣới đây. 
Bảng 3.1 : Đặc điểm bệnh nhân 
Đặc điểm Giá trị 
Tuổi ( giá trị trung bình ± SD ) 
Tuổi ( khoảng dao động) 
Tiền sử và bệnh lý kèm theo 
Tăng huyết áp 
Đái tháo đƣờng 
Hút thuốc lá 
Rung nhĩ 
Bệnh động mạch vành đã can thiệp 
Suy thận 
Bệnh tim trƣớc đó (osler) 
Phân loại NYHA 
NYHA I 
45.7 ± 11.8 
20-64 
4 (18.2%) 
1 (4.5%) 
6 (27.2%) 
2 (9.1%) 
1 (4.5%) 
1 (4.5%) 
1 (4.5%) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 
 40 
NYHA II 
NYHA III-IV 
Các chỉ số trên siêu âm tim 
LVEF, giá trị trung bình ± SD (%) 
Dd 
Ds 
Kích thƣớc nhĩ trái 
Áp lực động mạch phổi - giá trị trung bình ± SD, mmHg 
Áp lực động mạch phổi - khoảng dao động, mmHg 
Tăng áp lực động mạch phổi 
Hở hai lá nhiều 
Hở ba lá vừa 
XQ tim phổi – chỉ số tim ngực 
2 (17.4%) 
17 (82.6%) 
 4 (17.4%) 
70.8 ± 8.6 
59.1 ± 6.3 mm 
34.6 ± 5.1 mm 
42.4 ± 8.1 
35.9 ± 13.1 
21-66 
12 ( 54.5%) 
21 (95.4%) 
12 (37.9%) 
0.6 ± 0.05 
*NYHA : New York Heart Association 
3.2. Đặc điểm trong mổ 
Kết hợp những ƣu điểm của nội soi vào phẫu thuật tim hở, chúng tôi đã áp dụng những kĩ 
thuật tạo hình van hai lá nhƣ : cắt tam giác/tứ giác lá sau, khâu gấp nếp lá sau, chồng dây 
chẳng nhân tạo lá trƣớc, đặt vòng van hai lá kín/ hở. Chúng tôi đang thử thách với những kĩ 
thuật khó hơn, có thể áp dụng nhiều hơn trong tƣơng lai gần nhƣ chuyển vị trí dây chẳng lá 
trƣớc, thu ngắn chiều dài cột cơ, sliding plasty, edge - to - edge  Tỉ lệ ứng dụng các kĩ thuật 
đƣợc thể hiện trong bảng 2 dƣới đây. 
Bảng 3.2 : Các kĩ thuật sửa van hai lá 
Đặc điểm Giá trị 
Đặt vòng van hai lá 
Kích thƣớc vòng van trung bình (khoảng dao động) 
Cắt tam giác/tứ giác lá sau 
Khâu gấp nếp lá sau 
Tạo hình dây chằng nhân tạo lá trƣớc 
22 (100%) 
29.8 ± 1.3 (28-32) 
8 (36%) 
11 (50%) 
3 (14%) 
Bảng 3 thể hiện những đặc điểm trong , sau mổ bao gồm : thời gian cặp động mạch chủ, 
thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), số lƣợng đơn vị máu truyền trong thời 
gian mổ và theo dõi bệnh nhân tại khoa hồi sức sau mổ. Trong nghiên cứu của chúng tôi ko có 
bệnh nhân nào phải chuyển mổ qua đƣờng mở xƣơng ức hay nặng nề hơn là tử vong trong mổ. 
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ VỚI CẢI TIẾN KĨ THUẬT... 
 41 
Bảng 3.3 : Các đặc điểm trong, sau mổ 
Đặc điểm Giá trị 
Thời gian chạy máy THNCT, phút 
Thời gian cặp ĐMC, phút 
Truyền máu 
Hồng cầu trong mổ, đơn vị (1đơn vị = 250ml) 
Hồng câu sau mổ 
Đặc điểm tim đập ngay sau thả cặp ĐMC 
Nhịp xoang 
Rung thất cần shock điện 
Nhịp chậm 
Thời gian ICU, giờ 
Thời gian rút ống NKQ, giờ 
Thời gian nằm viện, ngày 
212 ± 40.2 
145.1 ± 40.2 
3 ± 1.6 
0.64 ± 1.84 
4 (18.2%) 
1 (4.5%) 
17 (77.3%) 
76.8 ± 52.8 
18.1 ± 8.6 
14.6 ± 6.8 
3.3. Kết quả sớm sau mổ 
Đánh giá sớm sau mổ cho thấy không có 
bệnh nhân nào tử vong sớm sau mổ trong nghiên 
cứu của chúng tôi và không có trƣờng hợp nào 
cần mổ lại. Tuy nhiên chúng tôi cũng ghi nhận 
những biến chứng nhƣ: 2 trƣờng hợp có máu 
cục màng phổi, 2 trƣờng hợp nhiễm trùng nhẹ 
vết mổ cần làm sạch và dùng kháng sinh điều trị, 
3 trƣờng hợp tràn dịch màng phổi cần đặt dẫn 
lƣu, 1 trƣờng hợp viêm phổi cần điều trị kháng 
sinh và không có nhiễm khuẩn huyết. Trong đó 
có 1 trƣờng hợp biến chứng nặng nề nhất là tai 
biến mạch máu não với di chứng liệt không hoàn 
toàn tay trái và thất ngôn. 
3.4. Đánh giá kết quả thay đổi trên siêu 
âm tim và theo dõi bệnh nhân sau mổ 
Trình bày trong bảng 4 dƣới đây là kết 
quả siêu âm tim trƣớc khi ra viện của 22 bệnh 
nhân. Trong đó có 2 bệnh nhân hở hai lá vừa 
với các triệu chứng lâm sàng ổn định đƣợc 
tiếp tục theo dõi, các bệnh nhân còn lại mức 
độ hở rất nhẹ hoặc hở nhẹ van hai lá. Bên 
cạnh đó sự cải thiện đáng kể các chỉ số trên 
siêu âm cho thấy những kết quả khả quan 
bƣớc đầu khi theo dõi bệnh nhân phẫu thuật 
sửa van hai lá nội soi. 
Bảng 3.4 : So sánh siêu âm tim trƣớc mổ và sau mổ 
Các chỉ số SÂ tim 
SÂ trước mổ 
TB ± độ lệch 
SÂ lúc ra viện 
TB ± độ lệch 
p 
NT(mm) 42.4 ± 8.1 36.3 ± 5.8 0.0064 
Dd(mm) 59.1 ± 6.3 48.6 ± 5.1 < 0.0001 
Ds(mm) 34.6 ± 5.1 31.7 ± 4.3 0.0478 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 
 42 
EF (%) 70.8 ± 8.6 61.1 6.1 0.0001 
ALĐMPTT 35.9 ± 13.1 23.8 ± 4.1 0.0002 
Mức độ hở van hai lá 
Không hở hoặc 
rất nhẹ 
0 10 ( 45.5%) 
Nhẹ 0 10 ( 45.4%) 
Vừa 1 ( 4.5%) 2 (9.1%) 
Nhiều 21 ( 95.47%) 0 
IV. BÀN LUẬN 
Phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn có nội 
soi hỗ trợ đã đƣợc tiến hành tại nhiều trung 
tâm phẫu thuật tim trên thế giới với những kết 
quả xuất sắc. Bắt đầu từ ca sửa van đầu tiên 
năm 1996 của Carpentier và CS, phẫu thuật 
van hai lá ít xâm lấn đã có những bƣớc tiến 
mạnh mẽ, đặc biệt với sự hỗ trợ của robot, 
nhiều nghiên cứu đã đƣợc công bố với đƣờng 
mở ngực phải 4cm, hoặc nội soi hoàn toàn 
với đƣờng mở ngực chỉ1.5cm [4]. Tại Trung 
tâm tim mạch bệnh viện E phẫu thuật van hai 
lá ít xâm lấn nội soi hỗ trợ đã đƣợc triển khai 
từ 2013, cho tới nay thay van hai lá với 
phƣơng pháp này đã trở thành thƣờng quy. 
Đối với sửa van hai lá, chúng tôi thực hiện từ 
nửa đầu 2015, khi các thao tác với phẫu 
trƣờng mới bắt đầu trở nên thuần thục. Trong 
giai đoạn này, chúng tôi chủ động lựa chọn 
bệnh nhân với những tổn thƣơng đơn giản 
nhƣ đơn thuần lá sau – với các kĩ thuật tạo 
hình van hai lá không quá phức tạp 
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, một 
trong những khó khăn nhất của phẫu thuật là 
sự bộc lộ hoàn chỉnh van hai lá trong toàn bộ 
cuộc mổ, điều đó dẫn tới những thử thách 
nhất định trong quá trình sửa van bao gồm đặt 
vòng van hai lá (nhất là vòng van kín), sửa 
chữa các lá van, kiểm tra hoạt động của van. 
Trong thực hành lâm sàng có nhiều bộ dụng 
cụ khác nhau đƣợc sử dụng để kéo nâng tâm 
nhĩ bộc lộ van. Cấu hình kỹ thuật hầu hết sử 
dụng một cánh tay đòn xuyên qua thành ngực, 
sau đó gắn với một má kim loại mỏng áp sát 
vào vách liên nhĩ kéo vách liên nhĩ ra trƣớc, 
cánh tay đòn đƣợc cố định vào khung banh 
ngực [5]. Các bộ dụng cụ này thƣờng có giá 
thành cao nhƣng vẫn tồn tại nhƣợc điểm 
thƣờng phải tạo một lỗ 4-5mm qua thành 
ngực (nguy cơ chảy máu sau mổ). Trong 
nhiều tình huống lâm sàng chọn vị trí tối ƣu 
để đặt dụng cụ này gặp khó khăn, vƣớng vào 
phẫu trƣờng. Phƣơng pháp của chúng tôi sử 
dụng các mũi chỉ khâu kéo nâng thành tâm 
nhĩ không phải mở thêm lỗ qua thành ngực do 
đó hạn chế nguy cơ chảy máu sau mổ, dễ 
dàng chọn và thay đổi vị trí cho phù hợp mà 
không gây sang chấn, phƣơng tiện đơn giản 
(không cần bộ dụng cụ phức tạp, giá thành 
cao), thao tác dễ dàng và tiết kiệm thời gian 
phẫu thuật, đặc biệt đạt mục đích bộc lộ bộ 
máy van hai lá tốt nhất, phẫu trƣờng mổ rõ 
ràng không bị vƣớng bởi dụng cụ. Hơn nữa 
với những trƣờng hợp nhĩ trái nhỏ, trƣờng mổ 
sâu, có thể đặt thêm các mũi chỉ treo ở các 
―góc chết‖, qua đó việc bộc lộ van hai lá đƣợc 
thực hiện một cách linh hoạt. Kỹ thuật đã 
đƣợc áp dụng thành công cho toàn bộ 22 bệnh 
nhân nghiên cứu của chúng tôi. Không có 
trƣờng hợp nào phải chuyển mở xƣơng ức 
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ VỚI CẢI TIẾN KĨ THUẬT... 
 43 
hay mở rộng đƣờng mở ngực. Phƣơng pháp 
an toàn, kết quả sớm phẫu thuật không có 
bệnh nhân nào chảy máu phải mổ lại. Theo 
dõi 30 ngày sau phẫu thuật tỉ lệ tử vong là 0% 
Một trƣờng hợp đột quỵ đƣợc ghi nhận 
trong 22 bệnh nhân nghiên cứu, để lại di 
chứng yếu tay trái cơ lực 2/5 và thất ngôn 
broca. Tất cả các bệnh nhân chúng tôi dự kiến 
phẫu thuật sửa van hai lá nội soi đều đƣợc 
siêu âm mạch chi dƣới, động mạch chậu, 
động mạch chủ bụng để đánh giá tình trạng 
xơ vữa, vôi hoá mạch máu có thể trở thành 
nguy cơ với quá trình tƣới máu ngƣợc dòng. 
Với các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao về 
bệnh mạch máu ví dụ đái tháo đƣờng, tăng 
huyết áp, tiền sử hút thuốc lá nặng, chụp cắt 
lớp vi tính động mạch chủ có thể đƣợc cân 
nhắc. Mặc dù không thể loại trừ hết các yếu 
tố nguy cơ với quá trình tƣới máu ngƣợc 
dòng, song chúng tôi tin rằng với các xét 
nghiệm cận lâm sàng trƣớc mổ có thể giảm 
thiểu tối đa các biến chứng liên quan đến thần 
kinh. Trong suốt quá trình phẫu thuật, chúng 
tôi bơm CO2 với lƣu lƣợng 0,5l/phút để giảm 
thiểu các bọt khí xuất hiện trong nhĩ trái và 
thất trái, tuy nhiên tỷ lệ đột quỵ có thể xảy ra 
do quá trình đuổi khí khó khăn bởi phẫu 
trƣờng của phẫu thuật nội soi. 
Trên hết, chúng tôi cảm thấy hài hòng với 
những kết quả lâm sàng mà phẫu thuật sửa 
van hai lá nội soi đạt đƣợc. Chúng tôi tin rằng 
cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, 
đặc biệt ứng dụng của các hệ thống robot đã 
triển khai ở các nƣớc phát triển, chất lƣợng 
của phẫu thuật nội soi sửa van hai lá sẽ không 
ngừng cải thiện, ngày càng khả thi. Phẫu 
thuật tim hở nội soi toàn bộ sửa van hai lá sẽ 
trở thành một xu hƣớng tại các trung tâm 
phẫu thuật tim mạch Việt Nam. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn tại 
trung tâm tim mạch bệnh viện E, với những 
cải tiến kỹ thuật trong bộc lộ van hai lá: dễ 
thực hiện, đạt đƣợc mục đích bộc lộ van hai lá 
với những phƣơng tiện đơn giản. Kết quả 
ngay sau phẫu thuật và theo dõi sau một tháng 
hiệu quả, an toàn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. A.Carpentier, David H.Adams et al 
(2010), C A R P E N T I E R ’ 
SReconstructiveValve SurgeryFrom Valve 
Analysis to Valve Reconstruction. Saunders 
Elsevier; 3 – 5. 
2. Aubrey C. Galloway, et al (2009), A 
Decade of Minimally Invasive Mitral 
Repair:Long-Term Outcomes.Ann Thorac 
Surg 2009;88:1180–4 
3. Tayfun Aybek, MD,Selami Dogan, et 
al (2006), Two Hundred Forty Minimally 
Invasive Mitral Operations Through Right 
Minithoracotomy. Ann Thorac Surg, (81) 
1618 –24. 
4. L. Wiley Nifong, et al (2012), 540 
Consecutive Robotic Mitral Valve Repairs 
IncludingConcomitant Atrial Fibrillation 
Cryoablation.Ann Thorac Surg 2012;94:38–43 
5. Eugene A. Grossi, MD, Aubrey C. 
Galloway (2002). Minimally Invasive Mitral 
Valve Surgery: A 6-Year Experience With 714 
Patients. Ann Thorac Surg 
Paul Modi, Ansar Hassan (2008), Minima 
lly invasive mitral valve surger y: a syste 
matic revie and meta-ana lysis. European 
Journal of Cardio-thoracic Surgery; (34) 
943—952. 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_tao_hinh_van_hai_la_it_xam_lan_co_noi_soi_ho_tro.pdf