Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot cho trẻ từ dưới 6 tháng tuổi tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E

Đặt vấn đề: Tứ chứng Fallot là bệnh tim có tím phổ biến nhất. Tổn thương giải phẫu bao gồm: thông liên thất, hẹp đường ra thất phải, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên thất và dày thất phải. Phẫu thuật là phương pháp điều trị có hiệu quả duy nhất điều trị bệnh tứ chứng Fallot. Tuy nhiên, lựa chọn thời điểm thích hợp nhất cho phẫu thuật sửa toàn bộ hiện vẫn đang gây tranh cãi. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục đích mô tả kết quả phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot cho bệnh nhân từ dưới 6 tháng tuổi tại trung tâm tim mạch – Bệnh viện E giai đoạn 2015 – 2018. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu, giai đoạn 2015 – 2018; 43 BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu; tuổi trung bình BN là 4,48 tháng; cân nặng trung bình 6,4 kg; chênh áp ĐRTP trung bình 84,42 mmHg. Tất cả BN trong nghiên cứu đều được phẫu thuật sửa toàn bộ. Kết quả: không có BN tử vong; tỷ lệ bảo tồn vòng van ĐMP 20 BN (47%); chênh áp ĐRTP sau mổ trung bình 21,92 mmHg; mức độ hở van ĐMP: 50% không/hở nhẹ, 45% hở vừa, 5% hở nặng. Theo dõi sau thời gian trung bình 19,4 tháng: không có BN tử vong, chênh áp ĐRTP 23,21 mmHg; 1 BN mổ lại do chênh áp ĐRTP 80mmHg. Kết luận: phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot cho BN từ dưới 6 tháng tuổi là phương pháp an toàn và mang lại kết quả tốt

pdf 8 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot cho trẻ từ dưới 6 tháng tuổi tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot cho trẻ từ dưới 6 tháng tuổi tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E

Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot cho trẻ từ dưới 6 tháng tuổi tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E
PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ TỨ CHỨNG FALLOT CHO TRẺ TỪ DƯỚI 6 THÁNG TUỔI... 
 5 
PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ TỨ CHỨNG FALLOT CHO TRẺ TỪ 
DƯỚI 6 THÁNG TUỔI TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH – BỆNH VIỆN E 
Lương Thị Như Huyền*, Đỗ Anh Tiến*, Nguyễn Bá Phong*, Nguyễn Bằng Việt*, Lê Ngọc Minh*, 
Lưu Phương Linh*, Lê Ngọc Thành* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Tứ chứng Fallot là bệnh tim 
có tím phổ biến nhất. Tổn thương giải phẫu 
bao gồm: thông liên thất, hẹp đường ra thất 
phải, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên 
thất và dày thất phải. Phẫu thuật là phương 
pháp điều trị có hiệu quả duy nhất điều trị 
bệnh tứ chứng Fallot. Tuy nhiên, lựa chọn thời 
điểm thích hợp nhất cho phẫu thuật sửa toàn 
bộ hiện vẫn đang gây tranh cãi. Xuất phát từ 
thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu với 
mục đích mô tả kết quả phẫu thuật sửa toàn bộ 
tứ chứng Fallot cho bệnh nhân từ dưới 6 tháng 
tuổi tại trung tâm tim mạch – Bệnh viện E giai 
đoạn 2015 – 2018. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu, 
giai đoạn 2015 – 2018; 43 BN đủ tiêu chuẩn 
nghiên cứu; tuổi trung bình BN là 4,48 tháng; 
cân nặng trung bình 6,4 kg; chênh áp ĐRTP 
trung bình 84,42 mmHg. Tất cả BN trong 
nghiên cứu đều được phẫu thuật sửa toàn bộ. 
Kết quả: không có BN tử vong; tỷ lệ bảo tồn 
vòng van ĐMP 20 BN (47%); chênh áp ĐRTP 
sau mổ trung bình 21,92 mmHg; mức độ hở 
van ĐMP: 50% không/hở nhẹ, 45% hở vừa, 
5% hở nặng. Theo dõi sau thời gian trung bình 
19,4 tháng: không có BN tử vong, chênh áp 
ĐRTP 23,21 mmHg; 1 BN mổ lại do chênh áp 
ĐRTP 80mmHg. Kết luận: phẫu thuật sửa 
toàn bộ tứ chứng Fallot cho BN từ dưới 6 
tháng tuổi là phương pháp an toàn và mang lại 
kết quả tốt. 
SUMMARY: COMPLETE SURGICAL 
REPAIR OF TETRALOGY OF FALLOT 
FOR UNDER 6-MONTH-OLD PATIENTS 
IN CARDIOVASCULAR CENTER – E 
HOSPITAL 
Objectives: Tetralogy of Fallot (TOF) is 
the most common type of cyanotic congenital 
heart disease. The four abnormalities that make 
up the tetralogy of Fallot including: ventricular 
septal defect, right ventricular outflow tract 
obstruction, overriding aorta, right ventricular 
hypertrophy. Surgery is the only effective 
treatment for tetralogy of Fallot. However, the 
optimal time for complete surgery remains 
controversial. Therefore, we conducted this 
research to demonstrate the outcomes of complete 
repair of tetralogy of Fallot in patients under 6 
months in cardiovascular center – E hospital from 
2015 – 2018. Patients and methods: 
Retrospective descriptive study, from 2015 to 
2018; there were 43 patients eligible for the 
study; average age: 4,48 months; average weight: 
6,4 kg; average RV-PA pressure gradient: 84,42 
mmHg. Treatment: complete surgical repair. 
Results: 100% patients survived; Pulmonary 
valve annulus preservation rate: 20 patients 
(47%); RV-PA pressure gradient after 
surgery:21,92 mmHg; Pulmonary regurgitation: 
50% non/mild, 45% moderate, 5% severe. Mid-
term results (19,4 months): no incidence of death; 
RV-PA pressure gradient: 23,21 mmHg; only one 
patient needed re-operating because of RV-PA 
pressure gradient was 80 mmHg. Conclusion: 
complete repair for patients under 6 months old 
with tetralogy of Fallot is a safe and effective 
treatment.1 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Điều trị bằng phẫu thuật sửa toàn bộ tứ 
chứng Fallot tiếp tục có những tiến bộ và nhiều 
bệnh nhân có kết quả sống lâu dài tốt sau phẫu 
thuật sửa chữa. Tuy nhiên, việc lựa chọn thời 
điểm phẫu thuật tốt nhất vẫn còn đang gây nhiều 
* Khoa phẫu thuật tim mạch trẻ em, TTTM, Bệnh viện E 
Người chịu trách nhiệm khoa học: ThS Lương Thị Như Huyền 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 6 
tranh cãi. Phẫu thuật sớm được khuyến khích với 
điều kiện tỷ lệ tử vong và biến chứng thấp, quan 
trọng là không làm thương tổn chức năng van 
động mạch phổi [1], [2]. 
Trung tâm tim mạch bệnh viện E hàng năm 
phẫu thuật hàng trăm trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh, 
trong đó có phẫu thuật sửa toàn bộ trẻ mắc tứ 
chứng Fallot với nhiều trẻ từ dưới 6 tháng tuổi. 
Mục tiêu nghiên cứu: mô tả triệu chứng lâm sàng, 
cận lâm sàng và đánh giá kết quả sau phẫu thuật ở 
bệnh nhân tứ chứng Fallot từ dưới 6 tháng tuổi tại 
trung tâm tim mạch - Bệnh viện E. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, bệnh nhân từ 
dưới 6 tháng tuổi được chẩn đoán tứ chứng Fallot 
từ 01/2015 – 12/2018 được phẫu thuật sửa toàn 
bộ tại Trung tâm tim mạch, bệnh viện E – Hà 
Nội. Chỉ định phẫu thuật sửa toàn bộ: kích thước 
nhánh ĐMP phải và trái trong giới hạn > -2SD, 
không có bất thường vành, nếu tắc nghẽn đường 
ra thất phải không nặng thì phẫu thuật khi ở ngoài 
lứa tuổi sơ sinh (đặc biệt khi 3 – 4 tháng tuổi), 
ngoài ra còn phụ thuộc vào sự phát triển đồng bộ 
của trung tâm về gây mê hồi sức, phẫu thuật, 
chạy máy. Thăm dò trước mổ gồm lâm sàng, siêu 
âm Doppler tim, điện tim, Xquang ngực và các 
xét nghiệm cận lâm sàng về huyết học, sinh hóa. 
Vật liệu sử dụng trong mổ là miếng vá Xenosure 
và Conduit Contegra được làm từ màng tim và 
tĩnh mạch cảnh trong bò. Dữ kiện trong mổ được 
ghi nhận bao gồm: thời gian chạy tuần hoàn ngoài 
cơ thể, thời gian cặp động mạch chủ, can thiệp 
trong mổ, đo tỷ lệ áp lực thất phải – động mạch 
phổi trong mổ. Sau phẫu thuật bệnh nhân được 
đánh giá bằng lâm sàng và siêu âm Doppler tim. 
Diễn biến trong quá trình phẫu thuật, kết quả, 
biến chứng được thống kê, phân tích, so sánh từ 
đó đưa ra nhận xét về đặc điểm tổn thương, kết 
quả sớm và trung hạn của phẫu thuật. 
III. KẾT QUẢ 
Trong thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 
12/2018, có 43 BN Fallot 4 đủ các tiêu chuẩn 
nghiên cứu với các đặc điểm sau: tuổi trung bình 
của BN là 4,84 ± 1,11 tháng (lớn nhất là 6 tháng, 
nhỏ nhất là 3 tháng), nam giới chiếm 79,1% (34 
BN) trong khi nữ giới chỉ chiếm 20,9% (9 BN), cân 
nặng trung bình 6,42 ± 1,24 kg (nhẹ nhất 4,5 kg). 
3.1. Đặc điểm lâm sàng 
Bảng 3.1: Triệu chứng lâm sàng (n = 43) 
Triệu chứng n Tỉ lệ (%) 
Tím môi và đầu chi 27 62,8 
Mức độ suy tim theo Ross 
I 31 72,1 
II 12 27,9 
III, IV 0 0 
Cơn tím 6 14 
Viêm phổi 9 20,9 
Dị tật bẩm sinh ngoài tim phối hợp 4 9,3 
PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ TỨ CHỨNG FALLOT CHO TRẺ TỪ DƯỚI 6 THÁNG TUỔI... 
 7 
3.2. Đặc điểm siêu âm tim trước mổ 
Bảng 3.2: Đặc điểm siêu âm tim trước mổ (n = 43) 
Biến số siêu âm chung Giá trị Z trung bình Giá trị Z dao động 
Vòng van ĐMP -1,63 ± 1,90 -5,80 - 1,57 
Thân ĐMP -1,46 ± 1,73 -4,97 - 3,58 
Nhánh phải -0,24 ± 1,13 -3,27 - 2,34 
Nhánh trái 0,17 ± 1,31 -4,02 - 2,84 
Chênh áp qua ĐRTP (mmHg) 79,05 ± 12,87 55 - 97 
3.3. Đặc điểm phẫu thuật 
Bảng 3.3: Can thiệp trong phẫu thuật (n = 43) 
Can thiệp trong phẫu thuật n Tỉ lệ (%) 
Can thiệp 
van ĐMP 
Xẻ mép van 2 4,7 
Monocusp 10 23,2 
Thay conduit 2 4,7 
Không can thiệp van 29 67,4 
Vị trí mở 
rộng ĐRTP 
Phễu thất phải đơn thuần 28 65,1 
Phễu _ vòng van_ thân ĐMP 10 23,2 
Phễu_vòng van_thân_nhánh ĐMP 2 4,7 
Phễu_thân ĐMP 2 4,7 
Phễu_thân_nhánh 1 2,3 
Vá TLT 
Đường vào 
vá TLT 
Qua phễu thất phải 13 30,2 
Qua nhĩ phải 26 60,5 
Qua ĐMP 4 9,3 
Miếng vá nhân tạo 43 100,0 
Thời gian chạy CBP trung bình 82,3 phút (45 – 101 phút), thời gian cặp ĐMC trung bình 64,15 
phút (32 – 85 phút). Chênh áp đường ra thất phải trong mổ trung bình 14,5 mmHg (3 – 32 mmHg). 
3.4. Kết quả sau mổ 
Bảng 3.4: Thời gian điều trị sau mổ 
Biến số Giá trị trung vị Dao động 
Thời gian thở máy (giờ) 3 1 - 360 
Thời gian nằm hồi sức (ngày) 6 1- 37 
Thời gian hậu phẫu (ngày) 17 9 - 50 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 8 
Bảng 3.5: Siêu âm tim trước và sau phẫu thuật lúc ra viện (n = 43) 
Thông số 
Trước phẫu thuật 
(n = 43) 
Khi ra viện 
(n = 43) 
n % n % 
Thông liên thất 43 100 6 14,0 
Hở van ĐMP 
Nặng 0 0 2 4,7 
Vừa 0 0 13 30,2 
Nhẹ 43 100 28 65,1 
Chênh áp tối 
đa qua ĐRTP 
> 75 mmHg 33 76,7 0 0 
50 - 75 mmHg 10 23,3 2 4,7 
< 50 mmHg 0 0 41 95,3 
Chênh áp tối đa qua ĐRTP (mmHg) 84,4 ± 12,9 21,9 ± 12,7 
Thất phải giãn 0 0 0 0 
3.5. Một số đặc điểm kết quả theo dõi sau mổ (6 – 46 tháng) (n = 43) 
Thời gian theo dõi trung bình 19,4 tháng, không có bệnh nhân tử vong, 1 trường hợp mổ lại. 
Bảng 3.6: Thông số siêu âm kiểm tra trong quá trình theo dõi (n = 43) 
Thông số 
Khi ra viện 
(n = 43) 
Sau phẫu thuật 
6 tháng 
(n = 43) 
p 
n % n % 
Thông liên thất 6 13,9 2 4,7 p = 0,219 
Hở van ĐMP 
Nặng 2 4,7 6 14,0 
p = 0,006 Vừa 13 30,2 20 46,5 
Nhẹ 28 65,1 17 39,5 
Chênh áp tối 
đa qua ĐRTP 
> 50 mmHg 2 4,7 3 7,0 
p = 0,135 25 - 50 mmHg 10 23,2 12 27,9 
< 25 mmHg 31 72,1 28 65,1 
Trung bình (mmHg) 21,9 ± 12,7 23,21 ± 13,8 p = 0,069 
 01 BN mổ lại do chênh áp ĐRTP trên siêu âm 80mmHg. 
PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ TỨ CHỨNG FALLOT CHO TRẺ TỪ DƯỚI 6 THÁNG TUỔI... 
 9 
I. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm chungTất cả số liệu phải 
thêm Bảng hay biểu đồ nào 
Tuổi trung bình là 4,84 ± 1,11 tháng, tuổi 
lớn nhất là 6 tháng, tuổi thấp nhất là 3 tháng. Tuổi 
này thấp hơn so với nhiều so với các nghiên cứu 
khác gần đây như Nguyễn Thị Lan Anh là 36 ± 
48,2 tháng; Đoàn Hoài Thu là 12,3 ± 6,6 tháng; 
Đặng Thị Hải Vân là 3,4 ± 3,2 tuổi[3],[4],[5]. 
Quan điểm hiện nay là phẫu thuật cho trẻ ở lứa 
tuổi nhỏ đặc biệt dưới 6 tháng, có lợi điểm rất lớn 
không những giảm thời gian chịu đựng của quá 
tải áp lực thất phải và thiếu ôxy mô mạn tính mà 
còn giúp phát triển các động mạch phổi tốt và 
giảm nguy cơ phải phẫu thuật lại. Phẫu thuật ở 
lứa tuổi này so với các lứa tuổi lớn hơn khá an 
toàn, kết quả phẫu thuật sớm và trung hạn khá tốt, 
với tỉ lệ biến chứng hậu phẫu thấp, không có tử 
vong tại viện, nghiên cứu với 277 bệnh nhi chỉ 
11,6% có biến chứng[6]. Nghiên cứu lớn, với 
mẫu 1112 trẻ từ dưới 12 tháng, nhóm trẻ > 90 
ngày tuổi có nguy cơ biến chứng và thời gian hậu 
phẫu ngắn hơn nhóm < 90 ngày tuổi[7]. 
Cân nặng trung bình trung của bệnh nhi 
trước phẫu thuật là 6,42 ± 1,24 kg, thấp nhất 4,5 
kg. Cân nặng thấp hơn nhiều so với các nghiên 
cứu trước trong nước[8],[9]. Tại Việt Nam, cũng 
có nhiều nhiều trung tâm đã phẫu thuật được 
bệnh ở cân nặng thấp như Phan Cao Minh với cân 
nặng nhỏ nhất là 4,2 kg, Hoàng Anh Khôi với cân 
nặng nhỏ nhất 5 kg, tuy nhiên chỉ với số ít các 
bệnh nhi[10],[11]. 
Suy tim ở trẻ em đánh giá theo thang điểm 
Ross. Theo nghiên cứu của chúng tôi, không có 
bệnh nhi nào suy tim nặng, có 27,9% bệnh nhi có 
Ross II. Điều này phù hợp với đặc điểm bệnh lí tứ 
chứng Fallot là ít khi có suy tim nặng. Mệt, thở 
nhanh chủ yếu do tình trạng thiếu oxy mạn. Suy 
tim nặng chỉ xảy ra vào giai đoạn muộn, cơ tim 
xơ hóa. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên 
cứu của Nguyễn Sinh Hiền với NYHA II 
(76,13%) và NYHA III (23,23%). Là vì lứa tuổi 
phẫu thuật trong nghiên cứu này từ dưới 6 tháng, 
thất phải tổn thương còn bù. Phẫu thuật muộn, 
Ross cao là yếu tố nguy cơ gây đột tử sau phẫu 
thuật[8],[12]. 
4.2. Đặc điểm siêu âm tim trước phẫu thuật 
Hẹp đường ra thất phải là tổn thương quan 
trọng nhất trong TOF, là yếu tố dẫn đến dày thất 
phải, giãn và suy chức năng thất phải ở trẻ lớn, 
giảm lượng máu lên phổi làm giảm bão hòa oxy 
máu động mạch, gây ảnh hưởng xấu đến hậu 
phẫu cũng như kết quả lâu dài sau đó, do đó phẫu 
thuật sửa toàn bộ ở giai đoạn sớm cho trẻ nhỏ 
nhằm hạn chế các hậu quả này. Chênh áp tối đa 
ĐRTP là giá trị chính xác để xác định mức độ 
mức độ hẹp ĐRTP cũng như ĐMP, chênh áp 
càng cao thì mức độ hẹp càng nặng. Trong nghiên 
cứu, chênh áp tối đa qua ĐRTP đo được là 84,42 
± 12,87mmHg. Hẹp nặng ĐRTP cũng gây khó 
khăn hơn cho phẫu thuật viên trong quá trình giải 
phóng ĐRTP, là yếu tố quyết định hiệu quả của 
quá trình phẫu thuật, đòi hỏi phẫu thuật viên 
nhiều kinh nghiệm. 
-Kích thước hệ ĐMP: Giá trị Z trung bình 
hệ ĐMP nhỏ hơn bình thường, trong đó vòng van 
và thân ĐMP có giá trị âm nhiều hơn so với các 
nhánh ĐMP. Giá trị Z = - 2 làm ranh giới, khi các 
nhánh ĐMP có giá trị Z < - 2 thì nên làm cầu nối 
chủ - phổi tạm thời, khi giá trị Z vòng van ĐMP < 
- 2 thì cần mở rộng bằng miếng vá. Do vòng van 
ĐMP hẹp không ảnh hưởng đến chỉ định phẫu 
thuật sửa triệt để nên có tới 32,5% các trường hợp 
có giá trị Z vòng van ĐMP < -2. Chỉ định phẫu 
thuật sửa toàn bộ được áp dụng cho những bệnh 
nhân có giá trị Z nhánh ĐMP ≥ -2 (xác định trong 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 10 
mổ bằng nong Hegar). Điều có vẻ không logic 
khi nghiên cứu của chúng tôi có 4,7% nhánh phải 
và 7% nhánh trái ĐMP có giá trị Z < -2 trên siêu 
âm. Khi quan sát phim X - quang ngực những 
bệnh nhi này, kích thước nhánh ĐMP bình 
thường và tưới máu phổi tốt, kiểm tra bằng thông 
tim chụp hệ ĐMP cho thấy kích thước nhánh 
ĐMP đủ lớn nên vẫn có chỉ định phẫu thuật sửa 
toàn bộ[12],[13]. 
4.3. Kết quả điều trị 
4.3.1. Đặc điểm trong phẫu thuật sửa toàn 
bộ tứ chứng Fallot 
- Xử trí hẹp đường ra thất phải 
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 100% bệnh 
nhi đều phải khoét hẹp phễu thất phải, với 37,2% 
chỉ mở rộng phễu thất phải đơn thuần do không có 
hẹp vòng van và ĐMP kèm theo. Tỷ lệ mở rộng 
vòng van ĐMP là 27,9% (12), mở rộng lên tới 
nhánh ĐMP 7% (3) do có hẹp nhánh kèm theo. So 
sánh với các nghiên cứu khác, tỷ lệ có miếng vá 
xuyên vòng van là 27,9% thấp hơn nhiều so với các 
nghiên cứu khác như Nguyễn Sinh Hiền (2011) là 
38,7%, Lê Tuấn Anh (2014) là 52,4% hay của Lê 
Quang Thứu (2008) là 75,18% đồng thời với làm 
miếng vá qua vòng van là tạo hình một lá van phổi 
(monocusp) [3],[14],[15]. 
- Vá thông liên thất 
Lỗ thông liên thất được vá qua đường mở 
nhĩ phải chiếm tỷ lệ 60,4%, mở nhĩ phải có ưu thế 
thực hiện trên những bệnh nhi có ĐMV vắt ngang 
phễu thất phải, tránh được các nguy cơ suy chức 
năng thất phải sau phẫu thuật. Vá TLT chủ yếu 
qua đường mở nhĩ phải với tỉ lệ 60,5%, qua phễu 
thất phải và ĐMP với tỉ lệ thấp hơn lần lượt là 
30,2% và 9,3%. Vật liệu sử dụng vá TLT là miếng 
vá nhân tạo (Xenosure hay Gore – tex) ở tất cả các 
bệnh nhi 100%. Như vậy cho thấy tiến bộ rõ rệt 
trong kĩ thuật phẫu thuật. Theo Lan Anh, tỉ lệ vá TLT 
qua mở nhĩ phải chỉ dưới 10%[3]. 
4.3.2. Kết quả sớm sau phẫu thuật 
- Thời gian thở máy 
Thời gian thở máy có giá trị trung vị là 3 
giờ sau mổ, thời gian thở máy ngắn nhất 1 giờ, 
dài nhất là 360 giờ (15 ngày), 76,7% (33) thở 
máy dưới 24 giờ. Những trường hợp thở máy kéo 
dài hầu hết đều do suy tim phải nặng hoặc các 
biến chứng suy thận, biến chứng hô hấp sau mổ. 
Theo nhiều nghiên cứu thì thời gian thở máy cũng 
có liên quan đến một số yếu tố: tuổi phẫu thuật 
của bệnh nhân, thời gian chạy CBP, có mở rộng 
vòng van ĐMP hay không và các biến chứng hậu 
phẫu. So sánh với một số nghiên cứu thì thời gian 
thở máy của chúng tôi có thấp hơn rõ rệt so với: 
Lê Tuấn Anh tại Bệnh viện Nhi trung ương 
(2014) từ 3 – 585 giờ, trung bình 44,5 ± 56,8 giờ, 
Phan Cao Minh tại Bệnh viện Nhi đồng I (2010) 
từ 1 – 642 giờ, trung bình 74,7 ± 126,3 giờ, hay 
Nguyễn Sinh Hiền tại Bệnh viện Tim Hà Nội 
(2010) từ 3 giờ đến 11 ngày[14],[11],[8]. Trong 
nghiên cứu này, thời gian thở máy ngắn hơn, do 
lứa tuổi từ dưới 6 tháng tuổi nên hậu quả của các 
biến chứng trong bệnh lí TOF chưa nhiều, vậy 
sau phẫu thuật sẽ hồi phục nhanh hơn. Ngoài ra, 
có thể do trình độ phẫu thuật cũng như hồi sức 
hậu phẫu tốt [12]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có 
trường hợp nào tử vong sớm, trong khi tỉ lệ tử 
vong chung thế giới là 2,58% (172/6654), như vậy 
cho thấy phẫu thuật TOF có những bước phát triển 
mạnh mẽ, đạt kết quả tốt khi phẫu thuật ở lứa tuổi 
dưới 6 tháng[16]. 
- Kết quả siêu âm tim khi ra viện 
Tỷ lệ còn shunt tồn lưu qua TLT là 6/43 
(14%), đường kính chủ yếu là từ dưới 2mm 
(97,7%), chỉ có 1 trường hợp (2,3%) có lỗ thông 
PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ TỨ CHỨNG FALLOT CHO TRẺ TỪ DƯỚI 6 THÁNG TUỔI... 
 11 
là 2,8mm. Tỉ lệ này thấp hơn so với các nghiên 
cứu khác do với các nghiên cứu khác như Phan 
Cao Minh 20,5%, Lê Tuấn Anh 17%[11],[14]. 
Hở van ĐMP là một di chứng sau phẫu 
thuật phổ biến. Nguyên nhân hở van ĐMP thường 
do tổn thương thực thể: bản thân van ĐMP dày, 
thiểu sản hoặc do mở rộng vòng van nhưng không 
tạo hình lá van (monocusp). Trong nghiên cứu này, 
sau phẫu thuật tỉ lệ hở van ĐMP nặng và vừa là 
4,7% và 30,2%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu 
của Nguyễn Thị Lan Anh hay Van der Ven (tổng 
hợp nhiều nghiên cứu) với tỉ lệ lần lượt là: 61,5%, 
40 - 85%. Hở van ĐMP để lại hậu quả lâu dài như 
giãn thất phải, rối loạn chức năng thất phải và là yếu 
tố quan trọng quyết định tỷ lệ nhập viện và tử vong 
muộn. Khám toàn diện và định kì ở bệnh nhi sau 
phẫu thuật tứ chứng Fallot, bao gồm đánh giá cấu 
trúc và chức năng thất phải, là rất quan trọng để 
chăm sóc tối ưu cho những bệnh nhi này. 
Về chênh áp tối đa qua ĐRTP, kết quả siêu 
âm tim lúc ra viện cho thấy giảm rõ rệt từ 84,4 ± 
12,9mmHg trước phẫu thuật xuống 21,9 ± 
12,7mmHg, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 
Tuy nhiên, vẫn còn tỉ lệ nhỏ còn hẹp ĐRTP do 
chưa giải quyết triệt để trong phẫu thuật, có 4,7% 
(2) bệnh nhi có bất thường ĐMV phải bảo tồn 
vòng van ĐMP. Hẹp ĐRTP gây ra phì đại thất 
phải với tăng tỉ lệ khối cơ - thể tích, là yếu tố 
nguy cơ quan trọng khi theo dõi lâu dài về cơn 
nhịp nhanh thất và tử vong hơn cả giãn thất phải 
do quá tải thể tích. Vì vậy cần theo dõi định kì 
sau phẫu thuật, phát hiện tái hẹp ĐRTP và các 
biến chứng để có thể can thiệp kịp thời[17]. 
4.3.3. Kết quả theo dõi sau phẫu thuật (6 – 
46 tháng) 
 Không có bệnh nhân tử vong trong quá 
trình theo dõi 
- Kết quả siêu âm tim 
Theo Dodge - Khatami, đa số các TLT (83%) 
có kích thước nhỏ dưới 2mm sẽ đóng tự nhiên sau 
khi ra viện 1 năm, các bệnh nhi này hoàn toàn ổn 
định về huyết động và lâm sàng, không có nhu cầu 
dùng thuốc và không có viêm nội tâm mạc[18]. 
Trong nghiên cứu, TLT tồn lưu có 1 bệnh nhi lỗ 
thông kích thước 2,8mm và 1 bệnh nhi lỗ thông 
kích thước 2mm, 66,7% bít tự nhiên sau 6 tháng. 
Như vậy hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu 
khác, với các lỗ TLT nhỏ dưới 2mm, có thể chờ đợi 
bít tự nhiên, không ảnh hưởng tới chức năng thất 
trái và huyết động, không cần dùng thuốc[3],[8]. 
Không có bệnh nhi nào tiến triển giãn thất phải. 
Hở van ĐMP sau phẫu thuật tăng dần theo 
thời gian theo dõi. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, hở van ĐMP nặng tăng từ 4,7% - 14%, hở 
van ĐMP vừa tăng từ 30,2 – 46,5%, sự thay đổi 
này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Các nghiên 
cứu khác nghiên cứu khác cho thấy mức tăng này 
có ý nghĩa thống kê, như nghiên cứu của Nguyễn 
Thị Lan Anh tăng mức độ hở van ĐMP nặng từ 
11%, sau 6 tháng tăng 25,8%[3]. 
Chênh áp trung bình qua ĐRTP duy trì 21,9 ± 
12,7mmHg (khi ra viện) và 23,21 ± 13,8mmHg (khi 
khám lại). Chỉ có duy nhất 1 trường hợp bệnh nhân 
phải mổ lại do chênh áp ĐRTP là 80mmHg. 
Một số tác giả cho rằng hẹp van ĐMP tiến 
triển sau mổ có liên quan đến van ĐMP 2 lá van 
và không mở rộng vòng van ĐMP, tuy nhiên 
nghiên cứu của chúng tôi không có sự liên quan 
này, với p > 0,05[19]. 
Khi theo dõi sau phẫu thuật, không có bệnh 
nhi nào giãn thất phải trên siêu âm Doppler tim. 
II. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot 
cho trẻ từ dưới 6 tháng tuổi là phương pháp an 
toàn và mang lại kết quả tốt. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 12 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hock J. et al (2018). Functional outcome in 
contemporary children and young adults with 
tetralogy of Fallot after repair. Arch Dis Child. 
2. Kirklin J.W,Boyes B, Kouchoukos N.T (2003). 
Ventricular septal defect with pulmonary 
stenosis or atresia Cardiac surgery. Churchill 
Livingstone, Philadelphia, 1,, 946- 074. 
3. Nguyễn Thị Lan Anh (2017). Nhận xét kết quả 
điều trị Tứ chứng Fallot ở trẻ em tại Bệnh viện 
Hữu Nghị Việt Đức, Luận văn thạc sĩ y học, trường Đại 
học Y Hà Nội 
4. Đoàn Thị Hoài Thu (2017). Đánh giá chức 
năng thất phải trên siêu âm tim ở trẻ mắc tứ 
chứng Fallot sau phẫu thuật sửa toàn bộ, luận 
văn Thạc sĩ, trường Đại học Y Hà Nội 
5. Đặng Thị Hải Vân (2013). Biểu hiện lâm sàng, 
cận lâm sàng theo thể bệnh ở trẻ mắc bệnh tứ 
chứng Fallot. Tạp chí Nhi khoa 6(2), 28 - 32 
6. Kirsch R. E. et al. (2014). Results of elective 
repair at 6 months or younger in 277 
patients with tetralogy of Fallot: a 14-year 
experience at a single center. J Thorac 
Cardiovasc Surg. , 147(2), 713-7 
7. Chang-Ha Lee, Jae Gun Kwak,Cheul Lee 
(2014). Primary repair of symptomatic 
neonates with tetralogy of Fallot with or 
without pulmonary atresia. Korean journal of 
pediatrics, 57(1), 19-25. 
8. Nguyễn Sinh Hiền (2011). Nghiên cứu về 
nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật không mở thất 
phải trong điều trị phẫu thuật triệt để tứ chứng 
Fallot tại bệnh viện Tim Hà Nội, Luận án Tiến 
sĩ y học, , trường Đại học Y Hà Nội. 
9. Vũ Minh Phúc, Nguyễn Thị Tuyết Lan 
(2009). Đặc điểm tiền phẫu lâm sàng và cận 
lâm sàng các trường hợp tứ chứng Fallot dưới 
17 tuổi được phẫu thuật tại bệnh viện Chợ 
Rẫy, chuyên đề Nhi khoa, Khoa Hồi sức – 
Phẫu thuật tim Bệnh viện Chợ Rẫy, Trường 
ĐHYD TPHCM. 
10. Hoàng Anh Khôi và cộng sự (2011), Đánh 
giá và xử trí những rối loạn huyết động trên 
các bệnh nhân tứ chứng Fallot được phẫu 
thuật triệt để, 
hoi-suc, 14/07/2011 
11. Phan Cao Minh, Huỳnh Thị Duy Hương 
(2011). Đặc điểm trẻ tứ chứng fallot được 
phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tại bệnh viện 
nhi đồng 1 từ 11-2007 đến 05-2010 Tạp chí Y 
Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 16, Phụ bản của 
Số 1, 2012, 240 - 245. 
12. Robert H Anderson et al (2010). Tetralogy of 
fallot. Pediatric cardiology, 738 -758. 
13. K.Park Myung (2014). Tetralogy of Fallot. 
Park's Pediatric Cardiology for Practitioners,, 
378 - 389. 
14. Lê Tuấn Anh ((2014). Nghiên cứu kết quả 
điều trị phẫu thuật sửa toàn bộ Tứ chứng 
Fallot ở trẻ em, Luận văn Bác sĩ Nội trú, Đại 
học Y Hà Nội. 
15. Lê Bá Minh Du, Lê Quang Thứu (2011). Đánh 
giá kết quả phẫu thuật sửa chữa toàn phần bệnh tứ 
chứng Fallot ở trẻ dưới 18 tháng tuổi. hội phẫu 
thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 
id=126, 14/07/2011. 
16. Sarris G. E. et al. (2012). Results of 
reparative surgery for tetralogy of Fallot: data 
from the European Association for Cardio-
Thoracic Surgery Congenital Database. Eur J 
Cardiothorac Surg, 42(5), 766-74. 
17. Van der Ven, Jelle P. G. et al. (2019). 
Current outcomes and treatment of tetralogy of 
Fallot. F1000Research. 8, F1000 Faculty 
Rev-1530 
18. A. Dodge-Khatami, W. Knirsch, M. 
Tomaske (2007). Spontaneous closure of small 
residual ventricular septal defects after 
surgical repair. Ann Thorac Surg, 83(3), 902-5. 
19. Brojendra Agarwala (2017). Tetralogy of 
Fallot. Open Access Journal of Cardiology. 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_sua_toan_bo_tu_chung_fallot_cho_tre_tu_duoi_6_tha.pdf