Phẫu thuật sửa chữa hẹp khí quản và quai động mạch phổi bẩm sinh

Hẹp khí quản bẩm sinh thường đi kèm với dị dạng

quai động mạch phổi bẩm sinh.Nếu không phẫu thuật

sửa chữa, trẻthường khó thở, suy hô hấp kéo dài, suy

dinh dưỡng, suy kiệt, dẫn đến tử vong.

Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2013, có 4 bệnh

nhân từ 8 -12 tháng tuổi códị dạng khí quản đã được

phẫu thuật. Trong đó 3 trường hợp có dị dạng quai

động mạch phổi, 3 trường hợphẹp có dị dạngphế khí

quản. 1 trường hợp hẹp khí quản không dị dạng.

Đoạn khí quản hẹp được tái tạo dạng trượt (3 trường

hợp), cắt bỏ phối hợp trượt (1 trường hợp).3 trường hợp

quai mạch được chuyển trả về phía trước khí quản mà

không cần cắt cắm lại động mạch phổi trái.

Sau phẫu thuật, tình trạng khó thở, viêm nhiễm

đường hô hấp giảm rõ ở2 trường hợp và chấm dứt

hoàn toàn ở 2 trường hợp. Không có tử vong.

Phẫu thuật sửa chữa và tái tạo khí quản là phương

pháp hiệu quả đối với dị dạng khí quản bẩm sinh. Nếu

có quai mạch kèm theo, cần xử trí cả hai trong một lần

mổ. Theo dõi ngắn hạn sau mổ cho thấy kết quả tốt.

Cần có theo dõi dài hạn để đánh giá thêm.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật sửa chữa hẹp khí quản và quai động mạch phổi bẩm sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật sửa chữa hẹp khí quản và quai động mạch phổi bẩm sinh

Phẫu thuật sửa chữa hẹp khí quản và quai động mạch phổi bẩm sinh
PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HẸP KHÍ QUẢN VÀ QUAI ĐỘNG MẠCH PHỔI BẨM SINH 
 59
PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HẸP KHÍ QUẢN VÀ QUAI ĐỘNG MẠCH PHỔI BẨM SINH 
Vũ Hữu Vĩnh*, Nguyễn Văn Khôi* 
TÓM TẮT 
Hẹp khí quản bẩm sinh thường đi kèm với dị dạng 
quai động mạch phổi bẩm sinh.Nếu không phẫu thuật 
sửa chữa, trẻthường khó thở, suy hô hấp kéo dài, suy 
dinh dưỡng, suy kiệt, dẫn đến tử vong. 
Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2013, có 4 bệnh 
nhân từ 8 -12 tháng tuổi códị dạng khí quản đã được 
phẫu thuật. Trong đó 3 trường hợp có dị dạng quai 
động mạch phổi, 3 trường hợphẹp có dị dạngphế khí 
quản. 1 trường hợp hẹp khí quản không dị dạng. 
Đoạn khí quản hẹp được tái tạo dạng trượt (3 trường 
hợp), cắt bỏ phối hợp trượt (1 trường hợp).3 trường hợp 
quai mạch được chuyển trả về phía trước khí quản mà 
không cần cắt cắm lại động mạch phổi trái. 
Sau phẫu thuật, tình trạng khó thở, viêm nhiễm 
đường hô hấp giảm rõ ở2 trường hợp và chấm dứt 
hoàn toàn ở 2 trường hợp. Không có tử vong. 
Phẫu thuật sửa chữa và tái tạo khí quản là phương 
pháp hiệu quả đối với dị dạng khí quản bẩm sinh. Nếu 
có quai mạch kèm theo, cần xử trí cả hai trong một lần 
mổ. Theo dõi ngắn hạn sau mổ cho thấy kết quả tốt. 
Cần có theo dõi dài hạn để đánh giá thêm. 
Từ khoá: hẹp khí quản bẩm sinh, phế khí quản, 
quai động mạch phổi, tạo hình trượt 
SURGERICALREPAIR OFCONGENITAL 
TRACHEAL STENOSIS AND PULMONARY 
ARTERY SLING 
Congenital tracheal stenosis is commonly 
associated with pulmonary artery sling. Without 
surgical treatment, infants often have stridor, apnea, 
pneumonia, that make them to bemalnutrition and 
have high mortality. 
From July to November 2013, 4 patients with 
tracheal stenosis and pulmonary artery sling (range, 8 
to 12 months) underwent repair surgery. Ofthem, 
3patients had pulmonary artery sling, 3 patients had 
trachealbronchus anomaly, and 1 patient had tracheal 
stenosis alone. 
Tracheal stenosis repaired by slide tracheoplasty 
in three and slide plus resection in one. Pulmonary 
artery sling were managed by antetracheal 
translocation but not reimplantation. 
Postoperatively, apnea and respiratory 
inflammation were much improved in 2 patients and 
the other two were completely free of symptoms. No 
mortality. 
Surgical repair and reconstruction of the trachea is 
effective to treat congenital tracheal stenosis in infant. 
If it was associated with pulmonary artery sling, they 
should be managed together in one operation. 
Keywords: Congenital tracheal stenosis,pulmonary 
artery sling, slide tracheoplasty. 
ĐẶT VẤN ĐỀ * 
Hẹp khí quản bẩm sinh gây cản trở đường 
thở.Bệnh nhi có thể khó thở ở nhiều mức độ. Nhẹ có 
thể chỉ là những cơn khò khè, tăng tiết đờm giãi nhiều 
hơn.Nặng hơn là những cơn khó thở, viêm nhiễm 
đường hô hấp, viêm phổi, có thể gây suy hô hấp, thậm 
chí tử vong. 
Hẹp khí quản bẩm sinh có thể có hình dáng bình 
thường hoặc dị dạng kiểu phế khí quản (tracheal 
bronchus), phế quản thuỳ trên phải xuất phát trực tiếp 
từ khí quản, tạo ra hình dạng giống như có “2 carina”. 
Đoạn khí (phế) quản nối “2 carina” này gọi là cầu phế 
quản (bridge bronchus). 
Hẹp khí quản bẩm sinh thường gắn với dị dạng 
quai động mạch phổi (pulmonary artery sling) hoặc có 
thể có cả vòng mạch (vascular ring). 
Ở những trường hợp gây hẹp nặng khí quản, trẻ 
thường xuyên có khò khè, khó thở, viêm nhiễm đường 
hô hấp thì phẫu thuật là phương pháp cơ bản và triệt 
để nhất để tạo hình lại khí quản. 
Đối với khí quản, 2 phương pháp được đề cập tới 
nhiều nhất là tạo hình có mảnh ghép (patch 
tracheoplasty) và tạo hình trượt (slide tracheoplasty) 
(1, 2, 3). 
Việc giải quyết quai động mạch phổi cũng là vấn 
đề cần giải quyết vì yếu tố chèn ép của quai mạch này 
được cho là yếu tố gây hẹp khí quản bẩm sinh (4).Tuy 
* Bệnh Viện Chợ Rẫy 
Người chịu trách nhiệm khoa học:TS Vũ Hữu Vĩnh 
Ngày nhận bài: 15/01/2014 - Ngày Cho Phép Đăng: 17/02/2014 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Đặng Hanh Đệ 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 60
nhiên cũng có nhiều trường hợp có dị dạng hẹp khí 
quản bẩm sinh mà không có quai mạch. 
Phương pháp: 
Chúng tôi đã phẫu thuật cho 4 bệnh nhi tuổi từ 8 
đến 12 tháng tuổi có dị dạng hẹp khí quản bẩm sinh 
trong đó có 3 trường hợp có quai động mạch phổi phối 
hợp, một trường hợp có thêm dị dạng hệ động mạch 
chủ dạng vòng mạch, động mạch dưới đòn phải xuất 
phát từ động mạch chủ ngực xuống, chạy sau khí, thực 
quản tới vị trí bình thường dưới xương đòn phải. 
Về khí quản có 3 trường hợp hẹp dị dạng phế khí 
quản và 1 trường hợp chỉ hẹp mà không có bất thường 
về hình dạng. 
Kết quả: 
BN Tuổi (tháng) Giới Dị dạng KQ Dị dạng mạch máu PP phẫu thuật 
BYL 8 Nữ Phế khí quản Vòng/ quai mạch Tạo hình trượt 
NTT 12 Nữ Không Quai mạch Trượt + cắt 
NNH 12 Nam Phế khí quản Không Trượt 
LHQ 8 Nam Phế khí quản Quai mạch Trượt 
Sau mổ các bệnh nhi được theo dõi, tái khám và chụp lại CTscan ngực dựng hình khí quản cho thấy kết quả 
tốt. Đánh giá kết quả phẫu thuật được dựa trên lâm sàng, bệnh nhân tự thở tốt, không còn thở khò khè. Cận lâm 
sàng có CT scan và nội soi phế quản. 
Trước mổ 
Sau mổ 
Bn Nguyễn Thanh Tr. 12 tháng tuổi 
Vào viện 22/10/2013 
Phẫu thuật: 5/11/2013 
Chụp kiểm tra: 4/ 12/ 2013 
Quai mạch gây hẹp ngay trên carina đã được PT làm rộng 
PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HẸP KHÍ QUẢN VÀ QUAI ĐỘNG MẠCH PHỔI BẨM SINH 
 61
 Trước mổ 
 Sau mổ 
BN Nguyễn Nhật Hải N. 12 tháng tuổi Vào viện 2/12/2013 
PT: 10/12/2013 Chụp kiểm tra: 27/12/2013 
Hẹp cầu phế quản (bridge bronchus) đã được tạo hình sau mổ 
 Trước mổ 
 Sau mổ 
BN Bùi Yến L. 8 tháng tuổi Nhập viện: 26/8/2013 
PT: 16/9/2013 Chụp kiểm tra: 27/9/2013 
Hẹp cầu phế quản (bridge bronchus) đã được tạo hình sau mổ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 62
BÀN LUẬN 
Ở Việt nam, phẫu thuật sẹo hẹp khí quản ở 
người lớn đã được làm rộng rãi.Chúng tôi đã có 
những báo cáo về loại bệnh này từ nhiều năm trước 
(5).Sẹo hẹp khí quản ở trẻ em chúng tôi cũng áp 
dụng như đối với người lớn và không thấy có nhiều 
khác biệt.Đối với hẹp/ dị dạng khí quản bẩm sinh 
đương nhiên chỉ có ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chúng 
tôi chưa thấy những báo cáo (hoặc có thể chúng tôi 
chưa tiếp cận hết các nguồn thông tin) và còn được 
coi là kỹ thuật khó ở vào thời điểm viết bài 
này.Trên thế giới, có nhiều báo cáo về hẹp khí quản 
bẩm sinh cho thấy kết quả phẫu thuật tốt.Chúng tôi 
xin chia sẻ kinh nghiệm về loại phẫu thuât này với 4 
ca bệnh đã được mô tả trên mặc dù thời gian theo 
dõi sau mổ còn ngắn 
Hẹp khí quản bẩm sinh có thể có hình dáng bất 
thường hoặc bình thường, có thể có kèm theo quai 
động mạch phổi hoặc không có bất kỳ dị dạng mạch 
máu nào. Nó cũng có thể kèm theo các dị dạng bẩm 
sinh khác như vòng mạch, thông liên thất thông liên 
nhĩ Tuy nhiên quai mạch là dị dạng mạch máu phối 
hợp phổ biến nhất và được coi là nguyên nhân góp 
phần làm hẹp khí quản bẩm sinh. 
Một vài tác giả cho rằng khi độ dài đoạn hẹp dưới 
30% tổng chiều dài khí quản được coi là hẹp ngắn, có 
thể cắt bỏ nối trực tiếp được và khi trên 30% thì được 
coi là hẹp dài, cần phải tạo hình (trượt, vá ghép màng 
tim) (6) 
Phân loại hẹp khí quản bẩm sinh thường chia làm 
2 loại: loại có hình dáng khí quản bình thường (H.1) 
và loại phế quản thuỳ trên phải xuất phát bất thường 
trực tiếp từ khí quản (H.2). Loại có hình dáng bình 
thường còn được Cantrell JR, Guild HC phân thành 3 
loại: a. Type I (hay A): hẹp dài gần hết khí quản, b. 
type II (hay B): Hẹp hình phễu chỗ to chỗ nhỏ ở bất 
kỳ đoạn nào của khí quản, c. type III (hay C): hẹp 
ngắn (thường ngay trên carina) (7) (H.3). Loại phế 
quản thuỳ trên phải bất thường có nhiều cách gọi. H 
C. Grillo cho là type IV (hay D) (8), một vài tác giả 
cũng có cách gọi khác ví dụ như “phế khí quản” 
(tracheal bronchus) (9). Chúng tôi nghĩ nên gọi đơn 
giản là dạng 2 carina để phân biệt với dạng hẹp có 
hình dáng bình thường (1 carina) (H.3) 
Hình 1: Hẹp khí quản có hình dáng bình thường. Quai mạch quàng trên carina. 
(Bn Nguyễn Thanh Tr. 12 tháng tuổi) 
PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HẸP KHÍ QUẢN VÀ QUAI ĐỘNG MẠCH PHỔI BẨM SINH 
 63
Hình 2: Loại phế khí quản (2 carina), đoạn nối gọi là cầu phế quản. 
Quai mạch nếu có, quàng quanh cầu phế quản, ngay trên carina thứ 2. (Bn Lê Hoàng Q. 10 tháng tuổi) 
Hình 3: A, B, C là type I, II, III củaCantrell JR, Guild HC. 
D là dị dạng hay là type IV theo HC. Grillo. Là dạng phế khí quản(2 carina). Hình vòng tròn là quai mạch. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 64
Về kỹ thuật có thể dùng miếng vá màng tim, cắt 
bỏ đoạn hẹp nối trực tiếp hoặc tạo hình trượt. Chúng 
tôi áp dụng kỹ thuật tạo hình trượt cho cả 4 trường 
hợp vì cho rằng nó ưu việt hơn cả. Quai động mạch 
phổi được bóc tách rộng rãi đưa ra trước khí quản 
hoặc cầu phế quản khi cắt đoạn này để tạo hình mà 
không cần cắt cắm lại về bên trái. Việc cắt và cắm lại 
về bên trái được cho là làm tăng nguy cơ tử vong do 
huyết khối động mạch phổi (10) trong khi việc chuyển 
ra trước khí quản có thể gây đè khí quản từ mặt trước 
làm ảnh hưởng đến độ mở của khí quản (11). Tuy 
nhiên, nếu bóc tách rộng rãi triệt để động mạch phổi 
khỏi khí, phế quản thì việc đè ép này không còn 
nữa.Về thuật ngữ, nên gọi thể phế khí quản (type IV 
HC. Grillo) là dạng 2 carina vì đây là hình ảnh đặc 
trưng, dễ hiểu, thuật ngữ ngắn gọn và có ý nghĩa trong 
phẫu thuật vì 2 carina này đều quan trọng, cần mở 
rộng khẩu kính để thông khí tốt cho tất cả các phần 
của phổi 
KẾT LUẬN 
Hẹp khí quản bẩm sinh, nếu có triệu chứng hạn 
chế hô hấp rõ thì cần phẫu thuật tái tạo khí quản. Nếu 
có quai mạch phối hợp cần xử trí quai mạch này. Các 
dị dạng khác tuỳ theo chỉ định có thể làm cùng hoặc 
không trong một lần phẫu thuật. Kết quả phẫu thuật 
tốt, lâm sàng cải thiện ngay sau mổ, tái khám và theo 
dõi ngắn hạn cho thấy các bệnh nhân hết hẳn các triệu 
chứng về hô hấp. Vì số mẫu còn ít và thời gian theo 
dõi ngắn hạn, cần có thêm số liệu và thời gian theo dõi 
để có những nghiên cứu hoàn chỉnh hơn. 
REFERENCES: 
1. Fiore AC, Brown JW, Weber TR, Turrentine MW. 
Surgical treatment of pulmonary artery sling and 
tracheal stenosis. Ann Thorac Surg 2005; 79: 38–46. 
2. Backer CL, Mavroudis C, Gerber ME, Holinger 
LD. Tracheal surgery in children: an 18-year review 
of four techniques. Eur J Cardiothorac Surg 2001; 
19: 777–784 
3. Lang FJ, Hurni M, Monnier P. Long-segment 
congenital tracheal stenosis: treatment by slide-
tracheoplasty. J Pediatr Surg 1999; 34: 1216–1222 
4. Jacques A. M. van Son et al.Pulmonary Artery 
Sling: Reimplantation Versus Antetracheal 
Translocation. Ann Thorac Surg 1999;68:989–94 
5. Vũ Hữu Vĩnh, Ngô Quốc Hưng, Châu Phú Thi. Xử 
trí tổn thương sẹo hẹp khí quản và rò khí – thực quản 
bằng nối khí quản tận – tận trực tiếp và khâu đường 
rò thực quản. Y học Thành phố Hồ Chí Minh – Tập 14 
– Phụ bản số 2 – 2010. Tr. 124 – 129 
6. Juan L. Anto ́n-Pacheco et al. Management of 
congenital tracheal stenosis in infancy. Eur J of 
Cardiothoracic Surg 29 (2006) 991—996 
7. Cantrell JR, Guild HC. Congenital stenosis of the 
trachea. Am J Surg 1964;108:297–305. 
8. Hermes C. Grillo.Congenital and acquired tracheal 
lesions in children. Surgery of the trachea and 
bronchi. 2004 BC Decker Inc. Page 178. 
9. S Ikeno et al.Airway managment for patients with a 
tracheal bronchus. Br. J. Anaesth. 1996; 76: 573 - 575 
10. John H, Mitchell. Vascular ring, sling, and other arch 
anomalies. Mastery of cardiothoracic surgery. 
Page 674 
11. Yoshihiro Oshima, MD et al. Management of 
Pulmonary Artery Sling Associated With Tracheal 
Stenosis. Ann Thorac Surg 2008; 86: 1334–8 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_sua_chua_hep_khi_quan_va_quai_dong_mach_phoi_bam.pdf