Phẫu thuật nội soi vá thông liên thất qua đường mở ngực nhỏ
Thời gian gần đây bên cạnh chất lượng cuộc mổ,
người bệnh mổ tim dành ngày càng nhiều sự quan tâm
tới yếu tố thẩm mỹ. Từ tháng 6/2015 đến tháng
6/2016, 15 bệnh nhân từ 3 tuổi trở lên (nam/nữ: 10/5)
được phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất (TLT) qua
đường mở ngực nhỏ trước bên bên phải (n=8) và bên
trái (n=7). Chúng tôi so sánh những thông số liên
quan cuộc mổ của những bệnh nhân này với những
bệnh nhân có cùng độ tuổi (n= 25) được phẫu thuật
đóng lỗ thông liên thất trong khoảng thời gian trước
đó.Trong nhóm mở ngực nhỏ, các lỗ thông liên thất
bao gồm: quanh màng (n=6) và dưới các đại động
mạch (n=9).Thời gian theo dõi sau mổ từ 1 tháng đến 1 năm.
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi vá thông liên thất qua đường mở ngực nhỏ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi vá thông liên thất qua đường mở ngực nhỏ
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 36 PHẪU THUẬT NỘI SOI VÁ THÔNG LIÊN THẤT QUA ĐƢỜNG MỞ NGỰC NHỎ Đặng Quang Huy*, Nguyễn Công Hựu*, Trần Đắc Đại*,Nguyễn Thế Bình*, Nguyễn Văn Huynh*, Đỗ Văn Tư*, Phạm Ngọc Anh*, Lê Ngọc Thành* TÓM TẮT Thời gian gần đây bên cạnh chất lƣợng cuộc mổ, ngƣời bệnh mổ tim dành ngày càng nhiều sự quan tâm tới yếu tố thẩm mỹ. Từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016, 15 bệnh nhân từ 3 tuổi trở lên (nam/nữ: 10/5) đƣợc phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất (TLT) qua đƣờng mở ngực nhỏ trƣớc bên bên phải (n=8) và bên trái (n=7). Chúng tôi so sánh những thông số liên quan cuộc mổ của những bệnh nhân này với những bệnh nhân có cùng độ tuổi (n= 25) đƣợc phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất trong khoảng thời gian trƣớc đó.Trong nhóm mở ngực nhỏ, các lỗ thông liên thất bao gồm: quanh màng (n=6) và dƣới các đại động mạch (n=9).Thời gian theo dõi sau mổ từ 1 tháng đến 1 năm. Không có trƣờng hợp nào tử vong trong thời gian theo dõi. Thời gian chạy máy và thời gian cặp động mạch chủ của nhóm mở ngực nhỏ dài hơn so với nhóm cƣa xƣơng ức. Tất cả lỗ thông đƣợc đóng kín, 2 trƣờng hợp hẹp nhẹ đƣờng ra thất phải sau mổ qua đƣờng mở ngực trái, chênh áp giảm sau thời gian theo dõi, không có biến chứng liên quan tới thiết lập tuần hoàn ngoại vi. Không có sự khác biệt về thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện sau mổgiữahai nhóm. Bệnh nhân trong nhóm mở ngực nhỏ có mức độ hài lòng cao về vị trí và kích thƣớc sẹo mổ và chất lƣợng cuộc sống sau mổ. Phẫu thuật tim ít xâm lấn qua đƣờng mở ngực nhỏ an toàn và hiệu quả trong điều trị đóng thông liên thất ở trẻ lớn và ngƣời trƣởng thành. Từ khóa: phẫu thuật tim ít xâm lấn, mở ngực nhỏ trƣớc bên, bệnh thông liên thất Right and left anterolateral mini-thoracotomy for repair of congenital ventricular septal defect SUMMARY Much more concern is recently paid to the cosmetic when simple congenital heart disease (CHD) is repaired. From June 2015to June 2016, 15 patients (F/M: 5/10; aged from 3 to 50 years) underwent repair of congenital ventricular septal defects (VSDs) using right (n=8) and left (n=7) anterolateral mini- thoracotomy. We compared the peri-operative data of these patients with that of the same age patients (n=25) who underwent median sternotomy before that time. VSDs were of the peri-membranous (n=6) and sub-arterial infundibular (n=9) type in mini-thoracotomy group. Follow up time was from 1 month to 1 year. There was no in-hospital mortality in both groups. Mean Cardiopulmonary bypass (CPB) time and Aorta cross clamping (ACC) time in two mini-thoracotomy subgroups were longer than that of sternotomy subgroups, respectively. There were no differences between mean intubation time, ICU stay time and post- operative hospital stay time in two mini- thoracotomy subgroups and that of sternotomy subgroups. Closure of VSDs was successfully performed in all patients. There were no complications related to peripheral cannulation. All the patients and their family were satisfied with cosmetic result of the scars. This method was safe and effective especially for girls and women with VSDs. Keywords: Minimally invasive cardiac surgery, right anterolateral mini-thoracotomy, ventricular septal defect, pediatric cardiac surgery From Department of cardiovascular and thoracic surgery, Cardiovascular center, E hospital, 89 Trancung, Caugiay, Hanoi, Vietnam * I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thời gian gần đây, phẫu thuật tim ít xâm lấn đã và đang thay thế dần phƣơng pháp mổ kinh điển trong điều trị các bệnh tim bẩm sinh do ƣu điểm về vị trí, kích thƣớc sẹo mổ cũng nhƣ cho phép bệnh nhân sớm trở lại với sinh hoạt hàng ngày. Phẫu thuật tim ít xâm * Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Thành Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Bùi Đức Phú PHẪU THUẬT NỘI SOI VÁ THÔNG LIÊN THẤT QUA ĐƢỜNG MỞ NGỰC NHỎ 37 lấn trong điều trị bệnh thông liên thất có nhiều đƣờng tiếp cận khác nhau: cƣa bán phần xƣơng ức, mở ngực nhỏ có nội soi hỗ trợ và phẫu thuật nội soi toàn bộ. Nhiều tác giả nhƣ Kadner (2004), Nicholson (2001), Nishigaki (2005) đã báo cáo kết quả tốt từ việc sử dụng đƣờng đƣờng mổ cƣa bán phần xƣơng ức để đóng thông liên thất [1-3]. Sử dụng đƣờng mở ngực nhỏ có nội soi hỗ trợ để đóng lỗ thông liên thất chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi.Jung, S. H., et al. (2010) báo cáo sử dụng đƣờng mở ngực nhỏ trong đóng thông liên thất ở ngƣời lớn[4]. Rất ít báo cáo sử dụng đƣờng mổ này trong đóng thông liên thất ở trẻ nhỏđƣợc công bố trên các tạp chí chuyên ngành.Từ đó, chúng tôi báo cáo kinh nghiệm ban đầu về phẫu thuật đóng thông liên thất ở trẻ nhỏ và ngƣời trƣởng thành sử dụng đƣờng mở ngực trƣớc bên phải và trái. II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu: Từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016, có 15 bệnh nhân từ 3 tuổi trở lên (9 bệnh nhân ≤ 18 tuổi, nam/nữ: 10/5) đƣợc phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất qua đƣờng mở ngực nhỏ trƣớc bên. Nhóm chứng gồm 25 bệnh nhân có cùng độ tuổi đƣợc phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất qua cƣa toàn bộ xƣơng ức trong khoảng thời gian trƣớc tháng 6/2015. Trong cả hai nhóm, chúng tôi loại trừ những thông liên thất kèm theo bất thƣờng bẩm sinh khác, mổ lại, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng và phình xoang Valsalva. Tất cả bệnh nhân có nhịp xoang trên điện tâm đồ và không có biểu hiện suy tim nặng trƣớc mổ. Bảng 1. Các thông số nhân tr c học và thông số trước mổ Nhóm mở ngực nhỏ (n=15) Nhóm cƣa toàn bộ xƣơng ức (n= 25) P Tuổi (năm) 17.9 ± 13.2 11.04 ± 9.5 0.08 Giới (nam/nữ) 10:5 16:9 Cân nặng (kg) 35.5 ± 17.1 25.4 ± 14.7 0.047 Diện tích da (m2) 1.173 ± 0.399 0.933 ± 0.36 0.05 Loại TLT TLT typ I 6 10 TLT typ II 9 15 Đƣờng kính TLT 9.3 ± 2.8 8.1 ± 4.2 0.13 Sử dụng miếng vá (%) 100 100 TLT: thông liên thất, TLT typ I: thông liên thất dƣới các đại động mạch và thông liên thất phần phễu, TLT typ II: thông liên thất quanh màng Các thông số nhân trắc học (tuổi, cân nặng, diện tích da, kích thƣớc lỗ thông) trƣớc mổ giữa hai nhóm nghiên cứu và sự khác nhau về vị trí thông liên thất đƣợc trình bày trong Bảng 1. Phƣơng pháp phẫu thuật đƣợc hội đồng khoa học bệnh viện thông qua và đƣợc sự đồng thuận của gia đình bệnh nhân. Phƣơng pháp phẫu thuật Chúng tôi lựa chọn đƣờng mổ dựa vào vị trí của thông liên thất. Đƣờng mở ngực phải dành cho TLT quanh màng và TLT phần phễu dƣới van ĐMC. Đƣờng mở ngực trái dành cho TLT phễu (dƣới hai van hoặc dƣới van ĐMP). Bệnh nhân đƣợc gây mê bằng ống nội khí quản một nòng. Bác sĩ gây mê đặt catheter PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 38 tĩnh mạch trung ƣơng vào TM cảnh trong trái và đặt s n một kim luồn vào TM cảnh trong phải, tất cả đƣợc thực hiện vô trùng. Hình 1: (A) Cannula động mạch đùi được thiết lập gián tiếp qua một đoạn mạch nhân tạo (Dacron hoặc PTFE), và (B) TMC trên và TMC dưới được dẫn lưu qua TM cảnh trong phải và TM đùi theo k thuật Seldinger. Bệnh nhân đƣợc đặt tƣ thế nằm nghiêng trái 30º (mở ngực phải) hoặc nghiên phải 30º nếu mở ngực trái, hai tay xuôi theo thân ngƣời, đầu nghiên về phía bên trái bộc lộ kim luồn đã đƣợc đặt s n. Phẫu thuật viên vẽ s n đƣờng mổ dài 4-5cm trên đƣờng nếp lằn dƣới vú (ở ngƣời lớn) hoặc dọc theo xƣơng sƣờn số 5 (ở trẻ nhỏ). Để thiết lập tuần hoàn ngoại vi chúng tôi tạo một đƣờng rạch dài 2cm ngang ở nếp bẹn bên phải, bộc lộ ĐM chung và TM đùi. Thiết lập đƣờng động mạch một cách gián tiếp vào ĐM đùi chung qua một đoạn mạch nhân tạo (Dacron hoặc PTFE). Cannula TMC trên và TMC dƣới đƣợc đặt qua TM cảnh trong phải và TM đùi bằng phƣơng pháp Sheldinger. Trƣớc khi quyết định mở ngực, chúng tôi test thử đƣờng động mạch bằng cách chạy máy thử, nếu với toàn bộ lƣu lƣợng mà áp lực ĐM <200mmHg thì chấp nhận đƣợc. Nếu áp lực đƣờng động mạch tăng quá 200mmHg thì sẽ quyết định chuyển cƣa bán phần xƣơng ức. Sau khi rạch da theo đƣờng mổ định s n, chúng tôi vào khoang màng phổi qua khoang liên sƣờn 4. Vén mềm đƣợc sử dụng để bảo vệ tổ chức liên kết, sau đó chúng tôi sử dụng dụng cụ banh ngực nhỏ để mở rộng phẫu trƣờng một chút.Trocar 5mm cho đèn nội soi đƣợc đặt ở khoang liên sƣờn 4 đƣờng nách giữa. Sau khi vào đến khoang màng phổi, hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể bắt đầu hoạt động, nhiệt độ thực quản đƣợc hạ dần xuống 32ºC, màng tim đƣợc mở song song và phía trƣớc so với thần kinh hoành 1.5-2cm. PHẪU THUẬT NỘI SOI VÁ THÔNG LIÊN THẤT QUA ĐƢỜNG MỞ NGỰC NHỎ 39 Hình 2: K thuật của đường mở ngực nh trước bên phải. (A) đường mổ 4-5cm, vào khoang màng phổi qua khoang liên sườn 4, liệt tim xuôi dòng qua gốc ĐMC (1), dẫn lưu tim trái được đặt qua vách liên nhĩ hoặc TMP trên phải (2), Trocar cho camera (3) và clamp Chitwood (4) được đặt trên đường nách giữa; (B) Sử d ng miếng vá nhân tạo để đóng lỗ TLT với đường khâu vắt; (C) Kết thúc quá trình đóng lỗ TLT. Clamp Chitwood đƣợc đặt ở KLS 3 đƣờng nách giữa và đƣợc sử dụng để cặp cả ĐMC lên và thân ĐMP. Bảo vệ cơ tim xuôi dòng qua gốc ĐMC sử dụng dung dịch custodiol® HTK. Với đƣờng mở ngực phải, sử dụng đƣờng mở chéo cho nhĩ phải sau khi đã thắt TMC trên và TMC dƣới, dẫn lƣu tim trái đƣợc đặt qua vách liên nhĩ, toàn bộ dung dịch liệt tim đƣợc hút bỏ.Van ba lá thƣờng phải xẻ mép giữa lá trƣớc và lá vách hoặc xẻ chân lá trƣớc dọc theo vòng van để bộc lộ rõ tổn thƣơng. Lỗ thông đƣơ c đóng bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt. Với đƣờng mở ngực trái, không thắt TMC trên và dƣới, dẫn lƣu tim trái đƣợc đặt vào tiểu nhĩ trái, dung dịch liệt tim đƣợc hút về máy tim phổi nhân tạo và đƣợc lọc trong quá trình phẫu thuật.Thân ĐMP đƣợc mở dọc hoặc mở ngang trên vòng van để tiếp cận lỗ thông. Lỗ thông đƣợc đóng bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt kết hợp mũi rời từng vị trí. Hình 3: K thuật mổ cho đường mở ngực nh trước bên trái. (A), đường rạch da dài 4-5cm tại nếp lằn vú, vào khoang màng phổi qua khoang liên sườn 4. Cặp ĐMC và than ĐMP bằng clamp Chitwood. Vá lỗ TLT qua van ĐMP. (B), hoàn thành vá lỗ TLT, hai lá van ĐMP nằm sát phía trên miếng vá. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 40 Tất cả bệnh nhân sau mổ đƣợc kiểm tra bằng siêu âm qua thành ngực và siêu âm doppler mạch máu kiểm tra trƣớc khi ra viện. Theo dõi sau mổ: Bệnh nhân đƣợc hẹn khám lại sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. Bệnh nhân đƣợc khám, đánh giá tình trạng sẹo mổ, sự cân đối giữa hai ngực, tình trạng dị cảm quanh vị trí vết mổ ngực và đùi, sự hài lòng của gia đình và bệnh nhân về vị trí và kích thƣớc sẹo mổ.Bệnh nhân đƣợc siêu âm tim qua thành ngực và siêu âm doppler mạch kiểm tra. Phân tích số liệu: Số liệu đƣợc tính ra trung bình ± phƣơng sai (S.D.) cho những biến định lƣợng và tính ra số lƣợng với tỉ lệ phần trăm cho những biến định tính. Test Mann-Whitney U đƣợc sử dụng để xác định sự khác biệt giá trị trung bình của các biến định lƣợng giữa các nhóm và test Fisher sử dụng cho biến định tính. Giá trị P < 0.05 đƣợc cho là có ý nghĩa thống kê. Số liệu đƣợc quản lý và phân tích bởi phần mềm SPSS 14.0. III. KẾT QUẢ Không có trƣờng hợp nào của cả hai nhóm tử vong trong thời gian nằm viện. Trong nhóm mở ngực nhỏ không có trƣờng hợp nào cần mở ngực rộng hoặc chuyển cƣa xƣơng ức. Trong những bệnh nhân TLT quanh màng, thời gian chạy máy và thời gian cặp ĐMC của nhóm mở ngực phải dài hơn so với nhóm mở xƣơng ức (n=10), lần lƣợt là 183,4 ± 54,8 phút so với 61,2 ± 17,3 phút (p<0,001) và 129 ± 46,5 phút so với 38,4 ± 13,4 phút (p<0,001). Tuy vậy, thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện sau phẫu thuật của hai nhóm tƣơng đƣơng nhau (Bảng 2).Trong nhóm mở ngực phải, không có trƣờng hợp nào có biểu hiện block dẫn truyền nhĩ thất hoặc shunt tồn lƣu sau mổ. Mặc dù 6/8 bệnh nhân phải xẻ mép VBLvà 2 trƣờng hợp phải xẻ chân lá trƣớc VBL để bộc lộ lỗ thông, tất cả trƣờng hợp đều có van ba lá không hở hoặc hở nhẹ. Bảng 2: So sánh các thông số trong mổ của dưới nhóm mở ngực trước bên phải và dưới nhóm T T quanh màng có cưa toàn bộ xương ức. Dƣới nhóm mở ngực nhỏ trƣớc bên phải (n=8) Dƣới nhóm cƣa toàn bộ xƣơng ức (n= 10) P Thời gian chạy máy (phút) 183.4 ± 54.8 61.2 ± 17.3 < 0.001 Thời gian cặp ĐMC (phút) 129.0 ± 46.5 38.4 ± 13.4 < 0.001 Thời gian thở máy (giờ) 3.1 ± 1.0 2.7 ± 1.4 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Thời gian nằm hồi sức (giờ) 21.3 ± 3.5 25.9 ± 14.1 Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) 9.5 ± 2.2 10.1 ± 4.6 Ở những bệnh nhân TLT phần phễu, thời gian chạy máy và thời gian cặp ĐMC của nhóm mở ngực trái dài hơn so với nhóm mở xƣơng ức (n=15), lần lƣợt là 147,4 ± 58,8 phút so với 43,6 ± 13,7 phút (p<0,001) và 101,9 ± 43,6 phút so với 26,9 ± 12,7 phút (p<0,001). Thời gian hồi phục sau mổ của hai nhóm bệnh nhân không có sự khác biệt (Bảng 3). Trong nhóm mở ngực trái, không có trƣờng hợp nào bị hở van ĐMC hoặc van ĐMP sau mổ. 1 trƣờng hợp còn shunt tồn lƣu nhỏ đk 2mm sau mổ và dòng shunt này mất đi sau theo dõi 6 tháng. 2 trƣờng hợp hẹp nhẹ đƣờng ra thất phải (1 trƣờng hợp hẹp do miếng vá, chênh áp 26mmHg, sau 6 tháng chênh áp còn 9mmHg; 1 trƣờng hợp hẹp nhẹ trên van ĐMP tại vị trí đƣờng khâu với P: 24mmHg tồn tại sau 5 tháng). PHẪU THUẬT NỘI SOI VÁ THÔNG LIÊN THẤT QUA ĐƢỜNG MỞ NGỰC NHỎ 41 Bảng 3: So sánh các thông số trong mổ của dưới nhóm mở ngực trước bên trái và dưới nhóm T T phần phễu có cưa toàn bộ xương ức. Dƣới nhóm mở ngực nhỏ trƣớc bên trái (n=7) Dƣới nhóm cƣa toàn bộ xƣơng ức (n= 15) P Thời gian chạy máy (phút) 147.4 ± 58.8 43.6 ± 13.7 < 0.001 Thời gian cặp ĐMC (phút) 101.9 ± 43.6 26.9 ± 12.7 < 0.001 Thời gian thở máy (giờ) 3.7 ± 0.5 3.8 ± 2.1 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Thời gian nằm hồi sức (giờ) 22.9 ± 4.9 23.6 ± 6.9 Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) 8.1 ± 1.1 9.5 ± 3.0 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian chạy máy và thời gian cặp ĐMC giữa nhóm mở ngực nhỏ trƣớc bên phải và nhóm mở ngực nhỏ trƣớc bên trái với giá trị p lần lƣợt là 0,29 và 0,27. Tất cả bệnh nhân nhóm mở ngực không có biến chứng liên quan tới phẫu thuật và thiết lập tuần hoàn ngoại vi. Một bệnh nhân 6 tuổi bị phù và xuất huyết dƣới da ở chân đặt cannula ngay sau mổ, sau 5 ngày tình trạng phù và xuất huyết biến mất.Ở nhóm mở ngực nhỏ, chúng tôi ghi nhận tình trạng giảm đau đáng kể và sớm hơn so với nhóm mở xƣơng ức. Trong nhóm mở ngực nhỏ, sau thời gian theo dõi (từ 1 tháng đến 1 năm) không có trƣờng hợp nào tử vong muộn. Tất cả bệnh nhân và gia đình hài lòng với tính thẩm mỹ của vết mổ, không tê bì, dị cảm, bệnh nhân tƣ tin hòa nhập sớm với cuộc sống bình thƣờng. IV. BÀN LUẬN Trong thời đại ngày nay, ngƣời bệnh thông liên thất và gia đình không chỉ có nhu cầu điều trị khỏi bệnh mà còn dành nhiều sự quan tâm cho chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh trong khoảng thời gian dài sau mổ. Ở ngƣời trƣởng thành, lỗ thông liên thất thƣờng hạn chế, bệnh nhân không triệu chứng trong khi nhu cầu hòa nhập xã hội cao do đó sẹo mổ xấu và dài nằm ở những vị trí lộ có thể trở thành rào cản vô hình gây cản trở bệnh nhân trong những sinh hoạt hàng ngày. Ở trẻ nhỏ, biến dạng lồng ngực sau mổ tim là nguyên nhân dẫn tới mặc cảm của trẻ khi lớn lên. Biểu đồ 1: Thời gian chạy máy và thời gian cặp ĐMC của dưới nhóm đường mở ngực nh trước bên phải (A) và dưới nhóm mở ngực nh trước bên trái (B). Tr c ngang biểu thị bệnh nhân được mổ theo thời gian. Tr c dọc là thời gian mổ (phút). PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 42 Về thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể, theoJung, S. H. cùng cộng sự (2010) để phòng những biến chứng liên quan tới bơm máu ngƣợc dòng thì ở những bệnh nhân lớn tuổi phải đánh giá ĐMC xuồng bằng siêu âm qua thực quản hoặc CT scan trƣớc mổ, nếu ĐMC xuống của bệnh nhân có tình trạng xơ vữa mức độ vừa trở lên thì chống chỉ định tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi [4]. Ma, Z. S. cùng cộng sự. (2011) với kinh nghiệm phẫu thuật 119 trƣờng hợp phẫu thuậtvá TLT nội soi toàn bộ ở trẻ nhỏ đã đƣa ra khuyến cáo, nên lựa chọn bệnh nhân > 20 kg, loại ra khỏi nghiên cứu những trƣờng hợp động mạch và tĩnh mạch đùi quá nhỏ (đƣợc đánh giá bằng siêu âm mạch máu trƣớc mổ)[5]. Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên cả nhóm đối tƣợng ngƣời lớn và trẻ nhỏ, bệnh nhân lớn tuổi đƣợc siêu âm tim đánh giá tình trạng xơ vữa thành ĐMC xuống, động mạch cảnh và động mạch chi dƣới. Với nhóm bệnh nhân trẻ nhỏ, chúng tôi phẫu thuật thành công trên bệnh nhân nhỏ nhất 3 tuổi, 10 kg. Để tránh biến chứng thiếu máu chân khi mổ kéo dài và phòng hẹp động mạch chậu sau mổ chúng tôi đặt cannula động mạch gián tiếp qua đoạn mạch nhân tạo (Dacron hoặc PTFE). Theo dõi sau 6 tháng chúng tôi không gặp trƣờng hợp nào có biểu hiện hẹp mạch chi dƣới ngay cả ở những trẻ rất nhỏ. Hình 4: Hình (1) và (2) là hình ch p sẹo mổ của bệnh nhân 6 tuổi ngay sau mổ và khám lại sau mổ 5 tháng; hình (3) là hình ch p sẹo mổ trên ngực trái của bệnh nhi 6 tuổi khám lại sau mổ 6 tháng; hình (4) sẹo mổ trên ngực trái của bệnh nhi 9 tuổi sau mổ 7 tháng; hình (5) và (6) là sẹo mổ của bệnh nhân TLT người lớn. Gây mê bằng nội khí quản hai nòng hoặc sử dụng nội khí quản một nòng nhƣng thông khí riêng một phổi với tần số thở tăng lên đƣợc nhiều tác giả lựa chọn [6-8]. Tuy nhiên Ma, Z. S. cùng cộng sự. (2012) khuyến cáo chỉ nên sử dụng nội khí quản hai nòng ở bệnh nhân > 50 tuổi trong khi nhiều tác giả ghi nhận tổn thƣơng phổi sau mổ do thông khí đơn độc một phổi.Hầu hết bệnh nhân của chúng tôi có cân nặng thấp do đó chúng tôi lựa chọn phƣơng pháp gây mê bằng ống nội khí quản một nòng thông khí hai phổi, khi bắt đầu mở ngực cũng là lúc bắt đầu chạy máy do đó thời gian chạy máy của chúng tôi kéo dài. Nhiều yếu tố có thể ảnh hƣởng tới thời gian phẫu thuật, bao gồm: (1) chiều dài đƣờng rạch da, (2) mức PHẪU THUẬT NỘI SOI VÁ THÔNG LIÊN THẤT QUA ĐƢỜNG MỞ NGỰC NHỎ 43 độ banh xƣơng sƣờn, (3)đƣờng tiếp cận tổn thƣơng, (4) kinh nghiệm của phẫu thuật viên và (5) mức độ phức tạp của tổn thƣơng. Đƣờng rạch da ngắn hơn 1cm và banh xƣơng sƣờn ít hơn một chút có thể khiến thao tác trở nên khó khăn và kéo dài thời gian phẫu thuật nhiều hơn chúng ta nghĩ. Lin, P. J. cùng cộng sự (1998) sử dụng đƣờng mổ dọc cạnh ức trái để vá TLT – mặc dù thời gian phẫu thuật ngắn song đây là đƣờng mổ gây tổn thƣơng tuyến vú nhiều và không thẩm mỹ nhất là ở phụ nữ [9].Việc cố gắng đạt sẹo mổ nhỏ, đƣờng mổ khuất vị trí dƣới nếp lằn vú khiến chúng tôi chấp nhận thời gian mổ kéo dài và thời gian mổ này chỉ đƣợc rút ngắn lại khi phẫu thuật viên có nhiều kinh nghiệm hơn. Theo Jung, S. H. cùng cộng sự (2010), TLT phần phễu dƣới van ĐMC là vị trí không tiếp cận đƣợc qua đƣờng mở ngực trái và phải [4]. Tuy vậy Ma, Z. S. cùng cộng sự (2014) báo cáo có thể sửa chữa tất cả các vị trí thông liên thất qua nội soi toàn bộ [7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 bệnh nhân TLT phần phễu dƣới van ĐMC đƣợc phẫu thuật qua đƣờng mở ngực nhỏ bên phải, quá trình mổ khó khăn do lỗ thông nằm cao và bị tổ chức van ba lá che. Chúng ta có thể lựa chọn đƣờng mổ cƣa nửa trên xƣơng ức để thay thế sẽ giúp rút ngắn rất nhiều thời gian phẫu thuật.Trong nhóm mở ngực nhỏ bên trái, 1 bệnh nhân 9 tuổi hẹp nhẹ trên van tại vị trí mở thân ĐMP còn tồn tại tình trạng hẹp sau mổ 5 tháng. Chúng tôi thấy nguyên nhân hẹp do bệnh nhân nhỏ tuổi, thân ĐMP không giãn, sau khi khâu lại sẽ gây hẹp nhẹ. Để tránh hiện tƣợng này, chúng tôi khuyến cáo nên cân nhắc sử dụng miếng vá để mở rộng thân ĐMP. V. KẾT LUẬN Chúng tôi thấy rằng đƣờng mở ngực nhỏ trƣớc bên phảihoặc trái là phƣơng pháp phẫu thuật an toàn, hiệu quả trong điều trị bệnh lý TLT đơn thuần ở cả ngƣời lớn và trẻ nhỏ. Kết quả tốt cùng với khả năng sửa chữa TLT ở tất cả các vị trí ngay cả ở những bệnh nhân nhỏ tuổi khiến phƣơng pháp phẫu thuật này trở thành phƣơng pháp rất hứa hẹn trong tƣơng lai. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Kadner, A., et al., Inferior partial sternotomy for surgical closure of isolated ventricular septal defects in children. Heart Surg Forum, 2004. 7(5): p. E467-70. 2. Nicholson, I.A., et al., Minimal sternotomy approach for congenital heart operations. Ann Thorac Surg, 2001. 71(2): p. 469-72. 3. Nishigaki, K., et al., Minimal access via lower partial sternotomy for congenital heart defects. Asian Cardiovasc Thorac Ann, 2005. 13(1): p. 42-6. 4. Jung, S.H., et al., Right or left anterolateral minithoracotomy for repair of congenital ventricular septal defects in adult patients. Interact Cardiovasc Thorac Surg, 2010. 10(1): p. 22-6. 5. Ma, Z.S., et al., Totally thoracoscopic repair of ventricular septal defect: a short-term clinical observation on safety and feasibility. J Thorac Cardiovasc Surg, 2011. 142(4): p. 850-4. 6. Ma, Z.S., et al., Thoracoscopic closure of ventricular septal defect in young children: technical challenges and solutions. Eur J Cardiothorac Surg, 2012. 42(6): p. 976-9. 7. Ma, Z.S., et al., Totally thoracoscopic closure of ventricular septal defect without a robotically assisted surgical system: a summary of 119 cases. J Thorac Cardiovasc Surg, 2014. 147(3): p. 863-7. 8. Mishaly, D., P. Ghosh, and S. Preisman, Minimally invasive congenital cardiac surgery through right anterior minithoracotomy approach. Ann Thorac Surg, 2008. 85(3): p. 831-5. 9. Lin, P.J., et al., Minimally invasive cardiac surgical techniques in the closure of ventricular septal defect: an alternative approach. Ann Thorac Surg, 1998. 65(1): p. 165-9; discussion 169-70.
File đính kèm:
phau_thuat_noi_soi_va_thong_lien_that_qua_duong_mo_nguc_nho.pdf

