Phẫu thuật nội soi trung thất trong chẩn đoán một số bệnh lý u vùng trung thất
1. Lịch sử phát triển của phương pháp nội soi trung thất.
Phẫu thuật nội soi lồng ngực (PTNSLN) được tiến hành lần đầu tiên trong thực hành y khoa vào năm 1910 khi H. C Jacobeus sử dụng để chẩn đoán các bệnh lý trong lồng ngực. Nội soi trung thất được thực hiện lần đầu tiên bởi Jehn và Nissen vào năm 1927 và Harken vào năm 1954, nhưng họ không quan sát tới mức cung động mạch chủ. Năm 1959, Carlens đã giới thiệu nội soi trung thất đường cổ chuẩn được thực hiện như ngày nay.Đến năm 1989, Toni Lerut đề xuất ý tưởng nội soi trung thất có hỗ trợ video giống phẫu thuật nội soi lồng ngực.Hiện nay, nội soi trung thất chẩn đoán đã được áp dụng thường xuyên tại nhiều quốc gia, nhiều trung tâm phẫu thuật lồng ngực trên thế giới. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nội soi trung thất là phương pháp hiệu quả cao và an toàn , ngoài việc chẩn đoán các bệnh trung thất và phổi thì xác định giai đoạn ung thư, đặc biệt ung thư phổi là ứng dụng thông thường nhất hiện nay
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi trung thất trong chẩn đoán một số bệnh lý u vùng trung thất
PHẪU THUẬT NỘI SOI TRUNG THẤT TRONG CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BỆNH LÝ U VÙNG TRUNG THẤT 31 PHẪU THUẬT NỘI SOI TRUNG THẤT TRONG CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BỆNH LÝ U VÙNG TRUNG THẤT Ngô Quốc Hưng*, Vũ Hữu Vĩnh*, Lê Nữ Thị Hòa Hiệp** 1. Lịch sử phát triển của phƣơng pháp nội soi trung thất. Phẫu thuật nội soi lồng ngực (PTNSLN) đƣợc tiến hành lần đầu tiên trong thực hành y khoa vào năm 1910 khi H. C Jacobeus sử dụng để chẩn đoán các bệnh lý trong lồng ngực. Nội soi trung thất đƣợc thực hiện lần đầu tiên bởi Jehn và Nissen vào năm 1927 và Harken vào năm 1954, nhƣng họ không quan sát tới mức cung động mạch chủ. Năm 1959, Carlens đã giới thiệu nội soi trung thất đƣờng cổ chuẩn đƣợc thực hiện nhƣ ngày nay.Đến năm 1989, Toni Lerut đề xuất ý tƣởng nội soi trung thất có hỗ trợ video giống phẫu thuật nội soi lồng ngực.Hiện nay, nội soi trung thất chẩn đoán đã đƣợc áp dụng thƣờng xuyên tại nhiều quốc gia, nhiều trung tâm phẫu thuật lồng ngực trên thế giới. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nội soi trung thất là phƣơng pháp hiệu quả cao và an toàn , ngoài việc chẩn đoán các bệnh trung thất và phổi thì xác định giai đoạn ung thƣ, đặc biệt ung thƣ phổi là ứng dụng thông thƣờng nhất hiện nay[11]. Tại Việt Nam, Năm 1996, PTNSLN lần đầu tiên đƣợc ứng dụng ở nƣớc ta để lấy máu cục màng phổi trong điều trị vết thƣơng ngực tại Bênh viên 103. Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch lần đầu tiên đƣa vào ứng dụng nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán các bệnh của trung thất và phổi từ năm 2005, tiếp theo là Bệnh viện 108 (2009) và Bệnh viện Chợ Rẫy (2010). Chúng tôi nhận thấy ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về phƣơng pháp nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất hạch trung thất. Hiện nay, nhiều phƣơng tiện chẩn đoán hiện đại nhƣ PET-CT toàn thân, nội soi lồng ngực có hỗ trợ video...đƣợc áp dụng ngày càng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lồng ngực. 2. Sơ lƣợc các phƣơng pháp lấy mẫu vùng trung thất trong bệnh lý lồng ngực 2.1. Nội soi phế quản [5],[6],[8],[14] Nội soi phế quản là phƣơng pháp thăm khám bên trong của hệ thống khí phế quản nhờ vào hệ thống nội soi phế quản. Có hai loại kỹ thuật nội soi phế quản : nội soi phế quản ống cứng và nội soi phế quản ống mềm. Nội soi phế quản ống cứng đƣợc giới thiệu lần đầu tiên bởi Gustav Killian. Năm 1897 Killian đã thành công trong việc gắp xƣơng lợn từ phế quản của một ngƣời nông dân Đức. Bên cạnh đó, trong những trƣờng hợp cổ cứng, chấn thƣơng cột sống cổ hay cứng khớp thái dƣơng hàm việc tiến hành nội soi ống cứng không thực hiện đƣợc. * Năm 1970, sự xuất hiện ống soi phế quản ống mềm của Ikeda đã mở ra một kỷ nguyên mới cho việc ứng dụng nội soi phế quản trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh hô hấp. Với nhiều ƣu điểm nhƣ dễ thực hiện, gây tê tại chỗ, ít phiền phức cho ngƣời bệnh, nội soi phế quản càng ngày càng thực hiện rộng rãi, làm thu hẹp chỉ định nội soi phế quản ống cứng. Tuy vậy các ống soi phế quản ống mềm có đƣờng kính ngoài từ 3 – 6 mm, đƣờng kính trong từ 1,2 -3,2 mm chỉ có khả năng khảo sát tổn thƣơng của phổi đến thế hệ phế quản thứ 5, ở những thế hệ phế quản xa hơn việc tiến hành khảo sát có phần hạn chế, đặc biệt là những tổn thƣơng ở ngoại vi của phổi và của trung thất. 2.2. Mở trung thất trước [13], [14] Mở trung thất trƣớc đƣợc MC Neil và Chamberlain mô tả năm 1966, với phƣơng pháp thăm dò trung thất trƣớc qua đƣờng rạch mở ngực cạnh ức trái dài khoảng 8 cm, thƣờng cắt sụn sƣờn thứ 2 của khoang lồng ngực. Hiện nay phƣơng pháp này ít làm do có nội soi lồng ngực và sinh thiết xuyên thành ngực dƣới hƣớng dẫn của CLĐT. [13] 2.3. Mở ngực sinh thiết [13] Khi tất cả các phƣơng pháp sinh thiết khác đều thất bại thì mở ngực sinh thiết là lựa chọn cuối * Khoa ngoại lồng ngực bệnh viện Chợ Rẫy ** Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Người chịu trách nhiệm khoa học: BSCK2. Ngô Quốc Hưng Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Lê Ngọc Thành PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 32 cùng.Phƣơng pháp này cho phép khảo sát u và tình trạng khoang màng phổi một cách toàn diện nhất. Tuy nhiên, phƣơng pháp này có tính xâm lấn cao và thƣờng gây đau mạn tính sau mổ. 2.4. Phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán [5], [6], [8], [10], [14] Nội soi lồng ngực đã đƣợc Jacobaeus thực hiện tại Stockholm - Thụy Điển từ những năm 1910 -1920. Ban đầu chỉ đơn thuần là nội soi lồng ngực để chẩn đoán các bệnh về mang phổi - đặc biệt là lao phổi, sau đó mở rộng ra tiến hành nội soi gỡ dính màng phổi. Đặc biệt từ thập niên 80 với sự ứng dụng của nguồn sáng cực mạnh dẫn truyền qua hệ thống cáp quang giúp cho hình ảnh rõ nét, hệ thống kính Hopkins hình que có góc nhìn rộng do nghiêng đƣợc và có độ phóng đại lớn và đặc biệt là các camera siêu nhỏ có xử lý ảnh kỹ thuật số ghi hình động từ truyền hình ảnh ra màn hình video cho nên các thƣơng tổn trong lồng ngực đã đƣợc phát hiện rất rõ ràng qua nội soi lồng ngực. Đồng thời có thể tiến hành thực hiện các thủ thuật và phẫu thật các thƣơng tổn nhƣ cắt bỏ hoạc sinh thiết làm chẩn đoán. PTNS lồng ngực có ƣu thế hơn phƣơng pháp mở trung thất do ít xâm lấn hơn và có thể khảo sát nhiều khu vực hơn nhƣ khối u ở trung thất sau. Việc nội soi thám sát các thƣơng tổn trong lồng ngực trƣớc khi mở ngực giúp đánh giá đƣợc khả năng cắt đƣợc khối u và tránh đƣợc những trƣờng hợp mở ngực không cần thiết. Hiệu quả của phƣơng pháp[13] Phƣơng pháp này xác định đƣợc bản chất mô học của các tổn thƣơng trung thất trong phần lớn các nghiên cứu.Tuy nhiên, PTNS lồng ngực đòi hỏi phải gây mê nội phế quản 2 nòng.Nhiều nghiên cứu đã chứng minh PTNS lồng ngực có tỉ lệ biến chứng cao và thời gian nằm viện lâu hơn so với nội soi trung thất. 2.5. Sinh thiết bằng kim xuyên thành ngực Năm 1885, tác giả Menetrier lần đầu tiên chẩn đoán ung thƣ phổi bằng phƣơng pháp sinh thiết xuyên thành ngực bằng kim. Tuy nhiên, cho đến cuối thế kỷ XIX, do kim có đƣờng kính lớn gây nhiều biến chứng khiến phƣơng pháp này bị hồ nghi và chỉ đƣợc chấp nhận một cách miễn cƣỡng. Từ năm 1960 phƣơng pháp sinh thiết xuyên thành ngực đã đƣợc tiến hành phổ biến trên thế giới. Việc thực hiện sinh thiết cho những bệnh nhân có khối u ở lồng ngực thƣờng đƣợc tiến hành dƣới sự hƣớng dẫn của siêu âm, chụp CLĐT, hay dƣới màn huỳnh quang tăng sáng. Sinh thiết dƣới màn huỳnh quang tăng sáng thƣờng thực hiện ở những vị trí mà tổn thƣơng quá nhỏ, rốn phổi, u trung thất, vị trí u gần các mạch máu lớn và hội chứng tĩnh mạch chủ trên. So với chụp cắt lớp điện toán, sinh thiết u dƣới sự hƣớng dẫn của siêu âm có giá trị tƣơng tự trong khi sinh thiết các trƣờng hợp u phổi ở vị trí ngoại biên và u trung thất trƣớc. Bên cạnh đó, trên màn hình siêu âm cũng có thể đánh giá lại khoảng cách vị trí giữa đầu kim sinh thiết và khối u, điều này đặc biệt có hiệu quả khi cần sinh thiết những tổn thƣơng dạng nốt nhỏ. Điểm bất lợi lớn nhất của siêu âm là khó đánh giá đƣợc những thƣơng tổn nằm sâu trong lồng ngực. Mặc dù vậy, siêu âm cũng đƣợc xem nhƣ một biện pháp hữu hiệu, an toàn và tƣơng đối rẻ tiền khi thực hiện phƣơng pháp sinh thiết xuyên thành ngực bằng kim 3. Nội soi trung thất * Chỉ định nội soi trung thất: Đánh giá di căn hạch trƣớc mổ trong ung thƣ phổi. Đánh giá hạch trong ung thƣ phổi không phải tế bào nhỏ sau khi hoá trị tân hỗ trợ. Đánh giá bản chất của các khối u trung thất giữa. Điều trị các u nang vùng trung thất Đánh giá hạch trung thất trong các trƣờng hợp bệnh lý phổi không có u hay bệnh lý tổn thƣơng phổi lan toả chƣa rõ nguyên nhân. * Chống chỉ định:[11][13] - Bệnh nhân có chống chỉ định gây mê tổng quát - Những thay đổi giải phẫu làm cho nội soi trung thất không an toàn nhƣ bệnh nhân gù quá mức, bƣớu cổ to thòng trung thất, sự vôi hóa diện rộng hay phình cung động mạch chủ hay động mạch vô danh, và mở khí quản thƣờng xuyên sau phẫu thuật cắt thanh quản và xạ trị. Mặc dù, không chống chỉ định nhƣng nội soi trung thất rất nguy hiểm trong những trƣờng hợp: tiền căn xạ trị vùng cổ ngực, tiền căn mở xƣơng ức hay mổ vùng cổ, tổn thƣơng chèn ép tĩnh mạch chủ trên gây nên hội chứng tĩnh mạch chủ trên * Phƣơng pháp nội soi trung thất : Có 3 đƣờng vào trong nội soi trung thất. PHẪU THUẬT NỘI SOI TRUNG THẤT TRONG CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BỆNH LÝ U VÙNG TRUNG THẤT 33 - Soi trung thất xuyên qua trung thất: đƣa ống soi trung thất qua đƣờng mở cổ với việc tạo ra một đƣờng trên quai động mạch chủ, giữa động mạch cảnh trái và động mạch dƣới đòn trái. Đƣờng vào này dùng để sinh thiết các khối u trung thất trƣớc hay các hạch cạnh quai động mạch chủ. - Soi trung thất qua đƣờng mở cổ rộng : đƣa ống soi trung thất qua vùng tam giác vô danh nằm giữa thân động mạch cánh tay đầu và động mạch cảnh trái Hình 3.1: Nội soi trung thất - Soi trung thất giữa là đi vào vùng trƣớc khí quản và phía dƣới quai động mạch chủ, các nhánh của động mạch chủ và tĩnh mạch vô danh. Đƣờng vào này dùng để sinh thiết các u trung thất giữa, quanh khí quản, sinh thiết các hạch quanh khí quản và hạch dƣới carina. Hình 3.2: Nguồn: Otto T., Zaslonka J., Lukianski M. (1972), “Experience with mediastinoscopy”, Thorax, 27,463 * Biến chứng nội soi trung thất: Nội soi trung thất có tỉ lệ biến chứng thấp khoảng 1% các trƣờng hợp. Biến chứng thƣờng gặp nhất khi tiến hành nội soi trung thất là chảy máu tĩnh mạch, do rách cuống mạch nuôi hạch hoặc rách một nhánh động mạch phế quản khi sinh thiết hoặc bóc tách. Những trƣờng hợp nặng hơn có thể là rách tĩnh mạch đơn hoặc tĩnh mạch vô danh, những trƣờng hợp này cần phải mở ngực cầm máu. Rách khí quản, rách thực quản hiếm gặp nhƣng rất nguy hiểm có thể xảy ra viêm mủ trung thất, tràn khí trung thất hoặc tràn khí màng phổi. Một trƣờng hợp khác có thể gặp là tổn thƣơng dây thần kinh quặt ngƣợc trái trong khi sinh thiết hạch cạnh khí quản dƣới trái hau hạch góc khí phế quản trái. Những trƣờng hợp còn lại hầu nhƣ ít khi xãy ra, tuy vậy việc tiến hành soi trung thất chẩn đoán cũng là một phƣơng pháp xâm lấn có hiệu quả đánh giá bản chất mô bệnh học của tổn thƣơng trong lồng ngực Hình 3.3: Nội soi trung thất 4. Giá trị ứng dụng của nội soi trung thất trong điều trị các bệnh lý lồng ngực. 4.1.Vai trò nội soi trung thất trong bệnh lý lồng ngực và trung thất: Nội soi trung thất (NSTT) là phƣơng pháp đƣợc sử dụng chẩn đoán mô bệnh của bệnh lý u trung thất nguyên phát, các u của hệ thống bạch huyết và đánh giá giai đoạn của ung thƣ phổi. Trên thế giới, kể từ khi giới thiệu bởi Carlens năm 1959, NSTT đã trở thành tiêu chuẩn so sánh với các phƣơng pháp chẩn đoán bệnh trung thất khác. [12] Trong ung thƣ phổi, việc đánh giá giai đoạn trong ung thƣ phổi trƣớc mổ rất quan trọng. Đánh giá giai đoạn trƣớc mổ sẽ quyết định trƣợc tiếp đến chỉ định PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 34 điều trị của bệnh nhân. Ngoài ra, trong ung thƣ phổi, đối với các trƣờng hợp ở giai đoạn IIIB và giai đoạn IV, khi không còn chỉ định phẫu thuật, việc biết đƣợc giải phẫu bệnh của ung thƣ phổi sẽ góp phần điều trị hoá xạ trị cho bệnh nhân. Các phƣơng pháp không xâm lấn nhƣ chụp CTscan ngực, chụp PET hay MRI có độ nhạy và chính xác không cao. Trong chụp CTscan ngực có cản quang thì hạch đƣợc gọi là bất thƣờng khi đƣờng kính hạch > 1 cm (với độ nhạy 88 % và độ đặc hiệu 89 %), và bình thƣờng khi đƣờng kính < 1 cm (độ nhạy là 89 %, độ đặc hiệu là 50-86%, độ chính xác là 20-68%). Theo D’Amico [12] thì hạch > 1 cm thì 70% có di căn hạch. Chụp PET có ƣu thế trong phát hiện hạch rốn phổi với độ nhạy 73 % và độ đặc hiệu 76 % so với CT Scaner chỉ là 18% và 86 %. Tuy nhiên cũng cần lƣu ý là tăng chuyển hóa glucose có thể gặp trong một số bệnh nhiễm trùng hoặc đang có tình trạng viêm nhiễm kèm theo. Các phƣơng pháp xâm lấn hơn nhƣ nội soi phế quản sinh thiết xuyên thành, sinh thiết kim nhỏ qua thành ngực, sinh thiết hạch qua siêu âm nội soi phế quản có độ âm tính giả khá cao. Với độ nhạy trên 90% và độ đặc hiệu xấp xỉ 100% NSTT đã đƣợc chứng minh hiệu quả trong xác định giai đoạn trƣớc phẫu thuật ung thƣ phổi. Tuy nhiên, NSTT vẫn tiếp tục là một chủ đề của cuộc tranh luận giữa các bác sĩ phẫu thuật lồng ngực. Vì có nhiều quan điểm xem NSTT là quá xâm lấn trong chẩn đoán xác định giai đoạn ung thƣ phổi và câu hỏi đƣa ra là: có thật sự cần thiết NSTT khi nghi ngờ ung thƣ phổi đã di căn hạch trung thất trên lâm sàng khi mà có thể đánh giá giai đoạn bằng các phƣơng pháp chẩn đoán ít xâm lấn khác. Trong trƣờng hợp u trung thất, việc xác định bản chất ác tính của u trung thất đƣợc chỉ định trong các trƣờng hợp u trung thất to, xấm lân các cấu trúc quan trọng, hay nghi ngờ u trung thất nguyên phát. Các phƣơng pháp sinh thiết u trung thất nhƣ mở ngực nhỏ (Chamberland) hay nội soi lồng ngực sinh thiết mặc dù có độ nhạy và chính xác cao nhƣng có tính xâm lân cao, phức tạp và có nhiều biến chứng. Nội soi trung thất chẩn đoán bản chấn u trung thất là phƣơng pháp hữu hiệu, ít biến chứng và có độ nhạy, độ chính xác hơn 90%. Vì vậy, hiện nay nội soi trung thất vẫn đƣợc dùng để đánh giá bản chất khối u trung thất trƣớc, giữa và đánh giá giai đoạn u phổi 4.2. Hiệu quả của phương pháp[13] [14] Phƣơng pháp này xác định đƣợc bản chất mô học của các tổn thƣơng trung thất trong phần lớn các nghiên cứu.Tuy nhiên, PTNS lồng ngực đòi hỏi phải gây mê nội phế quản 2 nòng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh PTNS lồng ngực có tỉ lệ biến chứng cao và thời gian nằm viện lâu hơn so với nội soi trung thất [14] Kết luận Cho đến nay dù đã có nhiều phƣơng pháp mới tiếp cận chẩn đoán mô bệnh học u trung thất nhƣng vẫn có những hạn chế nhất định.Nội soi trung thất (NSTT) là phƣơng pháp đƣợc sử dụng chẩn đoán mô bệnh của bệnh lý u trung thất nguyên phát, các u của hệ thống bạch huyết và đánh giá giai đoạn của ung thƣ phổi. Đây là phƣơng p[háp an toàn, ít biến chứng, dễ thực hiện với các phẫu thuật viên lồng ngực. TÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Văn Cƣờng (2011), “Trung thất”, Giải phẫu học sau đại học, Nhà xuất bản Y học, tr, 157 – 182 Lê Nguyễn Quyền, Nguyễn Hoài Nam (2009). Nghiên cứu vai trò nội soi lồng ngực sinh thiết các khối u trung thất. Y học tp Hồ Chí Minh. Vol.13 – No.1, p9-13 Võ Đắc Truyền, Phạm Thọ Tuấn Anh, Lê Nữ Thị Hòa Hiệp, “U quái trưởng thành trung thất: một số đặc điểm lâm sàng và hình ảnh CT Scan”, Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 11, phụ bản số 1 – 2007, tr. 403 -408. Abdel Rahman M. Abdel Rahman, “StandardCervical Mediastinoscopy in the Diagnosis ofMediastinal Masses”Journal of the Egyptian Nat. Cancer Inst., Vol. 15, No. 3, September: 253-258, 2003 Abeloff M. (2004),”Surgical staging”, Bronchoscopic Techniques Including Transbronchial Needle Aspiration Biopsy, PHẪU THUẬT NỘI SOI TRUNG THẤT TRONG CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BỆNH LÝ U VÙNG TRUNG THẤT 35 Clinical Oncology, 3rd edition, Churchill Livingstone, An Imprint of Elsevier Ahmad U.S. and Blum M.G. (2009), Invasive diagnostic procedures. In: Shields T.W., Locicero J.L., Reed C.E. and Feins R.H., General thoracic surgery, Philadelphia, Lippincott Williams & Wilkins, p. 301–312. Brian P. Whooley, “Primary tumors of the mediastinum”, J Surg Oncol. 1999 Feb; 70(2): 95 – 97. Bulut T. and Brutel de la Riviere A.(2011), “Mediastinoscopy as a therapeutic tool”, Ann Thorac Surg, 91(5): p. 1616-1618 Cameron D. Wright, Douglas J. Mathisen, “Mediastinal tumors: Diagnosis and Treatment”, World J. Surg. 2001; 25: 204 – 209. Carlens E. (1959), “Mediastinoscopy: A Method for inspection and Tissue Biopsy in The Superior Mediastinum”, Number 4, Volume 34, pp.343-352 Carlos Ibarra – Pérez, “Guia diagnostico- terapeutica: Tumores y masas del mediastino”, Rev Inst Nal Enf Resp Mex. 2001 Septiembre; 14 (3): 172 – 177. D'Amico T.A.(2011), “Editorial comment: Clinical pathways: mediastinoscopy and mediastinal lymph node dissection”, Eur J Cardiothorac Surg, 40(6): p. 1481-1482. Elias A. Karfis, Evangelos Roustanis, John Beis and John Kakadellis, “Video-assisted cervical mediastinoscopy: our seven-year experience”;Interact CardioVasc Thorac Surg 2008;7:1015-1018 Fang W.T., Xu M.Y., Chen G. et al (2007), “Minimally invasive approaches for histological diagnosis of anterior mediastinal masses”, Chinese Medical Journal, Volume 120 (8), pp. 675-679.
File đính kèm:
phau_thuat_noi_soi_trung_that_trong_chan_doan_mot_so_benh_ly.pdf

