Phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm

Phẫu thuật nội soi ngày càng được nhiều nhà ung thư học sử dụng

điều trị trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm bởi vì các ưu điểm vượt

trội của nó.

Mục tiêu: đánh giá bước đầu phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử

cung giai đoạn sớm tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 1 năm

2016 đến tháng 12 năm 2016.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 61 trường hợp UTCTC

giai đoạn sớm được chẩn đoán và điều trị tại BVPSTU trong năm 2016.

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu.

Kết quả:13 bệnh nhân ung thư tại chỗ, 48 bệnh nhân ung thư CTC

giai đoạn IA. Thời gian phẫu thuật trung bình là 51,52 phút. Số lượng

hạch tiểu khung trung bình được loại bỏ là 5,09 hạch. Thời gian nằm

viện trung bình 4,4 ngày. Không có biến chứng truyền máu và biến

chứng trong khi phẫu thuật. Di căn hạch vi thể ở 6 trường hợp.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt tử cung triệt để trong UTCTC giai đoạn

sớm là khả thi, an toàn. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy có sự giảm

biến cố trong và sau phẫu thuật đáng kể khi sử dụng phương pháp này

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm

Phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm
VŨ BÁ QUYẾT, NGÔ PHAN THANH THÚY
152
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Vũ Bá Quyết, Ngô Phan Thanh Thúy 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
PHẪU THUẬT NỘI SOI
TRONG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG GIAI ĐOẠN SỚM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Ngô Phan Thanh Thúy, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: Ung thư cổ tử cung 
giai đoạn sớm, phẫu thuật nội 
soi, phẫu thuật mổ mở,
Keywords: early stage 
cervical cancer, laparoscopy, 
laparotomy,...
Tóm tắt
Phẫu thuật nội soi ngày càng được nhiều nhà ung thư học sử dụng 
điều trị trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm bởi vì các ưu điểm vượt 
trội của nó. 
Mục tiêu: đánh giá bước đầu phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử 
cung giai đoạn sớm tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 1 năm 
2016 đến tháng 12 năm 2016. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 61 trường hợp UTCTC 
giai đoạn sớm được chẩn đoán và điều trị tại BVPSTU trong năm 2016. 
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu. 
Kết quả:13 bệnh nhân ung thư tại chỗ, 48 bệnh nhân ung thư CTC 
giai đoạn IA. Thời gian phẫu thuật trung bình là 51,52 phút. Số lượng 
hạch tiểu khung trung bình được loại bỏ là 5,09 hạch. Thời gian nằm 
viện trung bình 4,4 ngày. Không có biến chứng truyền máu và biến 
chứng trong khi phẫu thuật. Di căn hạch vi thể ở 6 trường hợp. 
Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt tử cung triệt để trong UTCTC giai đoạn 
sớm là khả thi, an toàn. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy có sự giảm 
biến cố trong và sau phẫu thuật đáng kể khi sử dụng phương pháp này.
Từ khóa: Ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm, phẫu thuật nội soi, phẫu 
thuật mổ mở,
Abstract 
LAPAROSCOPIC RADICAL HYSTERECTOMY FOR 
EARLY STAGE CERVICAL CANCER 
Laparoscopic radical hysterectomy is becoming a more popular option 
in treatment early stage cervical cancer by Gynecologic oncologists 
because of its advantages. The purpose of this study is to assess 
treatment laparoscopic radical hysterectomy for early stage cervical 
cancer in National Hospital for Obstetrics and Gynecology in 2016. 
Subjects and methods: retrospective descriptive. 
Results: 13 patients with carcinoma insitu and 48 patients with 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 152 - 157, 2017
153
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
stage IA. A average operating time was 51.52 minutes. A average length of stay was 4.4 days. No 
transfusions and operative complications were noted. 6 cases had positive lymph nodes. 
Conclusion: Laparosopic radical hysterectomy for early stage cervical cancer is feasible and safe. 
Many studies outcomes are significantly reduced intraoperative and postoperative morbidity.
Keyword: early stage cervical cancer, laparoscopy, laparotomy,...
1. Đặt vấn đề
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là ung thư thường 
gặp và là một trong những nguyên nhân gây tử 
vong hàng đầu ở phụ nữ. Hiện nay, nhờ có sự 
đa dạng, phong phú của các phương pháp sàng 
lọc sớm ung thư cổ tử cung như là PAP smear, TB 
nhúng dịch (liquid based cytology), Thin-prep, kết 
hợp với HPV DNA cùng soi cổ tử cung để phát 
hiện sớm những tổn thương nghi ngờ, và tiêu 
chuẩn vàng là mô bệnh học đã giúp phát hiện và 
chẩn đoán UTCTC ở giai đoạn sớm. Trong những 
năm đầu thập kỉ 90, với sự song hành của kháng 
sinh, truyền máu, những cải tiến trong gây mê hồi 
sức, phẫu thuật mổ mở cắt tử cung hoàn toàn triệt 
để và vét hạch chậu trong UTCTC giai đoạn sớm 
(giai đoạn IA1 và IB1) chưa di căn được hướng 
dẫn thực hành phổ biến ở 115 quốc gia trên thế 
giới và thường xuyên được cập nhật. Mặc dù nội 
soi đã được sử dụng 50 năm nhưng cho đến năm 
1990, các nhà phẫu thuật ung thư mới chấp nhận 
đưa các kĩ thuật tiên tiến như nội soi cắt bỏ tử cung 
hoàn toàn và vét hạch chậu trong ung thư nhưng 
cũng chỉ bắt đầu chia sẻ những kinh nghiệm khi 
tiếp cận với kỹ thuật này, phải đến năm 2004 với 
những yếu tố thuận lợi về kỹ thuật và công nghệ 
của phẫu thuật nội soi cho thấy tính khả thi và 
an toàn, chúng ta mới bắt đầu đề nghị sử dụng 
phương pháp này đối với UTCTC giai đoạn sớm. 
Từ đó đến nay, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng 
phẫu thuật nội soi cắt tử cung triệt để kèm vét hạch 
chậu trong giai đoạn sớm của UTCTC mang lại 
nhiều ưu điểm vượt trội so với phẫu thuật mổ mở 
kinh điển trước đây như tổng lượng máu mất trong 
mổ ít hơn, thời gian mổ rút ngắn, bệnh nhân hồi 
phục nhanh, giảm thời gian nằm viện, tỷ lệ biến cố 
trong và sau mổ giảm có ý nghĩa thống kê, không 
có sự khác biệt về tổng thời gian sống của bệnh 
nhân, giảm chi phí điều trị. Ngày càng có nhiều 
phẫu thuật viên thích làm phẫu thuật nội soi hơn 
so với mổ mở. Chính vì sự gia tăng hiểu biết về ưu 
điểm của phẫu thuật nội soi mà ngày nay nhiều 
bệnh nhân cũng có nguyện vọng đề đạt được sử 
dụng kỹ thuật mới và tiên tiến này.
Ở Việt Nam, UTCTC phổ biến và đứng thứ hai 
trong ung thư phụ khoa. Năm 2004 tại Bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương (BVPSTW) đã bắt đầu sử dụng 
nội soi trong phẫu thuật cắt tử cung. Đối với những 
tổn thương tiền ung thư (CIN I, CIN II) đã được tiến 
hành cắt tử cung qua nội soi từ năm 2005. Đến 
năm 2009, chúng tôi đã thực hiện nội soi cắt tử 
cung hoàn toàn và vét hạch chậu trong ung thư 
niêm mạc tử cung. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu 
nào đánh giá kết quả điều trị bằng phương pháp 
phẫu thuật này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu với mục đích:đánh giá bước đầu phẫu thuật 
nội soi trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1 năm 
2016 đến tháng 12 năm 2016.
VŨ BÁ QUYẾT, NGÔ PHAN THANH THÚY
154
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 61 bệnh nhân được chẩn đoán UTCTC 
giai đoạn sớm tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ 
1/2016 – 12/2016 với các tiêu chuẩn. 
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
 + Có kết quả sinh thiết (giải phẫu bệnh) cổ 
tử cung trước hoặc sau mổ là ung thư.
 + Giai đoạn sớm: CIS (Carcinoma insitu), 
Giai đoạn IA theo FIGO
 + Có hồ sơ được ghi chép đầy đủ rõ ràng 
về hành chính, lâm sàng, cận lâm sàng, phương 
pháp phẫu thuật.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
 + Tất cả các trường hợp không thỏa mãn 
bất kỳ điều kiện chọn mẫu nào nêu trên.
 + Bệnh nhân có 2 loại ung thư hoặc bệnh 
nhân UTCTC giai đoạn muộn.
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu.
2.3. Xử lý số liệu
Theo phương pháp thống kê y học thông thường.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
- Độ tuổi trung bình của bệnh nhân lúc chẩn 
đoán bệnh là 44,62 tuổi (từ 27 – 66 tuổi)
- Chỉ số khối cơ thể trung bình (BMI) là 22,06 ± 
2,15 kg/m2 (từ 17,1 – 27,4 kg/m2).
- Đặc điểm tế bào học:
Nhận xét: Có 4 trường hợp làm tế bào học có 
kết quả là tế bào viêm thông thường. Tế bào HSIL 
gặp ở 27 trường hợp chiếm tỷ lệ cao nhất 44,3%. 
Tìm thấy tế bào ung thư trong 15 trường hợp chiếm 
tỷ lệ 24,6%.
Biểu đồ 1. Đặc điểm tế bào học
- Đặc điểm mô bệnh học sinh thiết trước mổ
Nhận xét: 82% các trường hợp bệnh nhân được 
sinh thiết trước mổ là ung thư;đặc biệt 1 trường hợp 
sinh thiết trả lời lành tính. Có 6 trường hợp không 
làm sinh thiết trước phẫu thuật.
- Chẩn đoán trước mổ
Nhận xét: 13 trường hợp chẩn đoán ung thư tại 
chỗ chiếm 21%
- Chỉ định vét hạch tiểu khung
Nhận xét: chỉ định vét hạch chậu 2 bên trong 
34 trường hợp chiếm tỷ lệ 55,7%
3.2. Một vài đặc điểm trong và sau 
phẫu thuật
- Thời gian phẫu thuật:
X ± SD: 51,72 ± 17,10 phút ( 20 – 110 phút)
Thời gian phẫu thuật trung bình là khoảng 52 
phút. Trong đó, có trường hợp thời gian mổ nhanh 
nhất là 20 phút
Biểu đồ 2. Mô bệnh học trước mổ
Biểu đồ 3. Chẩn đoán giai đoạn trước mổ
Biểu đồ 4. Chỉ định vét hạch tiểu khung
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 152 - 157, 2017
155
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
- Vét hạch tiểu khung: Có 34 trường hợp được 
chỉ định vét hạch tiểu khung.
X ± SD: 5,09 ± 2,9 hạch ( 0 – 10 hạch)
Số lượng hạch vét được ở hố chậu phải: X ± SD: 
2,53 ± 1,926 hạch ( 0 – 8 hạch)
Số lượng hạch vét được ở hố chậu phải: X ± SD: 
2,56 ± 1,673 hạch ( 0 – 7 hạch)
- Phân loại mô bệnh học sau phẫu thuật
Nhận xét: Ung thư biểu mô tế bào vảy cổ tử 
cung chiếm tỷ lệ cao nhất (73,8%). Có 6 trường 
hợp sau mổ không còn thấy tổn thương ung thư 
trên mảnh cắt với tỷ lệ 9,8%. 
- Tỷ lệ di căn hạch(với n=34): có 6 trường hợp 
có di căn hạch (17,6%), trong đó di căn hạch chậu 
trái 4 trường hợp (11,76%), di căn hạch chậu phải 
1 trường hợp (2,94%), và 1 trường hợp di căn hạch 
chậu cả 2 bên (2,94%).
- Thời gian nằm viện:
X ± SD: 4,44 ± 0,85 ngày (3 – 6 ngày)
- Biến chứng sau mổ: có 1 trường hợp nhiễm 
trùng sau mổ ngày 3 phải điều trị kháng sinh 6 ngày.
4. Bàn luận
Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu đang ngày càng là 
sự lựa chọn phổ biến trong phẫu thuật phụ khoa. 
Bởi vì các ưu điểm mà nó mang lại như giảm tổng 
lượng máu mất trong mổ, giảm thời gian nằm viện 
và thời gian hồi phục nhanh hơn. Chính bởi vì 
những ưu điểm như vậy mà các nhà phẫu thuật 
ung thư phụ khoa đã tìm cách để thực hiện nội soi 
thay cho phẫu thuật mổ mở truyền thống. Trong 
nghiên cứu này của chúng tôi bước đầu đánh giá 
những kết quả mà nội soi mang lại trong ung thư 
cổ tử cung giai đoạn sớm.
Theo biểu đồ 2, có 50 trường hợp kết quả sinh 
thiết là ung thư. Đặc biệt có 7 trường hợp, trong đó 
6 trường hợp không làm sinh thiết và 1 trường hợp 
làm sinh thiết cho kết quả lành tính nhưng vẫn được 
Typ mô bệnh học Số lượng Tỷ lệ %
Ung thư biểu mô tế bào vảy 45 73,8
Ung thư biểu mô tuyến 7 11,6
Ung thư biểu mô tuyến vảy 1 1,6
Ung thư biểu mô tế bào sáng 1 1,6
Ung thư biểu mô tế bào nhỏ 1 1,6
Không còn tổ chức ung thư 6 9,8
Tổng 61 100,0
Bảng 1. Phân loại mô bệnh học
chẩn đoán là ung thư. Những trường hợp không 
tiến hành sinh thiết do có kết quả tế bào học là ung 
thư, xét nghiệm HPV DNA dương tính kèm thêm 
trên lâm sàng khám thấy có tổn thương nghi ngờ 
kết hợp với soi cổ tử cung, chúng tôi quyết định 
phẫu thuật sớm cho bệnh nhân để giảm thời gian 
chờ đợi sinh thiết, tiến hành kịp thời ở giai đoạn 
sớm cho bệnh nhân. 4 ca bệnh kết quả sinh thiết 
CINIII nhưng chưa loại trừ tổn thương ung thư tại 
chỗ. Có 6 trường hợp kết quả mô bệnh học sau 
mổ không còn tế bào ung thư nguyên nhân là do ở 
những trường hợp này, tổn thương tại chỗ đã được 
lấy hết trước khi phẫu thuật để xác định chẩn đoán 
qua cắt LEEP cổ tử cung.
Chẩn đoán ung thư CTC giai đoạn sớm trong 
nghiên cứu của chúng tôi có 13 trường hợp ung thư 
tại chỗ và 48 trường hợp ung thư cổ tử cung giai 
đoạn IA. Trong đó chỉ định vét hạch tiểu khung 
ở 34 trường hợp (55,7%) và không vét hạch 27 
trường hợp (44,3%). Với 34 trường hợp được tiến 
hành vét hạch chậu qua nội soi thì có 3 trường 
hợp không có hạch ở tiểu khung. Số lượng hạch 
trung bình vét được là 5,09 hạch và trung bình số 
hạch được vét ở mỗi bên tiểu khung là 2,53 hạch 
và 2,56 hạch, không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê. Có 6 trường hợp di căn hạch trên vi thể 
chiếm 17,6%. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi 
cho kết quả số lượng hạch loại bỏ thấp hơn nhiều 
so với nghiên cứu của các tác giả khác. Taylor SE 
loại bỏ trung bình 11,2 hạch khi mổ nội soi 9 ca so 
với 13,9 hạch khi mổ mở 18 ca bệnh [1]. Michael 
Frumovitz và cộng sự trong bài báo cáo so sánh 
giữa mổ nội soi và mổ mở ở bệnh nhân ung thư 
CTC giai đoạn sớm thì số hạch trung bình vét được 
qua nội soi là 13,5 hạch; trung bình hạch chậu 
bên trái là 7,2 hạch; bên phải là 6,3 hạch và cũng 
không có sự khác biệt giữa số hạch vét được ở 2 
bên hố chậu; di căn hạch trên vi thể chiếm 14% [2]. 
Nguyên nhân là do tiêu chuẩn chọn mẫu của chúng 
tôi với các tác giả không đồng nhất, tác giả chọn 
những bệnh nhân ung thư CTC giai đoạn IA2 và 
IB1 nên số lượng hạch thu được và tỷ lệ di căn hạch 
cao hơn. Michael Frumovitz cũng kết luận không 
có sự khác biệt trong các mẫu bệnh phẩm thu được 
từ tổ chức đã lấy giữa hai nhóm phẫu thuật mổ mở 
và mổ nội soi, thêm vào đó cũng không có sự khác 
biệt về tỷ lệ dương tính ở các mẫu bệnh phẩm thu 
VŨ BÁ QUYẾT, NGÔ PHAN THANH THÚY
156
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
được giữa 2 nhóm mặc dù có sự khác nhau rõ rệt 
về tổng số lượng hạch thu được qua mổ mở nhiều 
hơn [2]. Walker và cộng sự khi nghiên cứu về nội 
soi trong ung thư niêm mạc tử cung lưu ý rằng bệnh 
nhân được mổ mở lấy nhiều hạch dọc động mạch 
chủ nhiều hơn so với mổ nội soi, tuy nhiên không 
có sự khác biệt ở bệnh nhân có hạch dương tính, 
điều này chứng tỏ số lượng các hạch được loại bỏ 
không phải là một yếu tố đáng tin cậy [3]. Hiện 
nay, với kỹ thuật mới ứng dụng cộng nghệ ICG 
(Indocyanine Green) để phát hiện hạch tiền tiêu 
(hạch cửa) trong phẫu thuật ung thư cổ tử cung 
giúp xác định được mức độ hoặc giai đoạn của 
ung thư. Lợi thế mà sinh thiết hạch cửa mang lại 
như khả năng dự đoán tốt, phát hiện được hạch 
cửa kể cả ở những vị trí đặc biệt, xác định được có 
di căn hạch hay không, đánh giá bệnh phẩm cắt 
lạnh dễ dàng hơn do đó làm giảm thời gian phẫu 
thuật không cần thiết, giảm các biến cố có thể xảy 
ra trong và sau phẫu thuật so với bóc tách hết toàn 
bộ hệ bach huyết. 
Thời gian phẫu thuật nội soi trung bình của 
chúng tôi là 52 phút, có trường hợp chỉ cắt tử 
cung hoàn tòan qua nội soi không kèm vét hạch 
chậu thời gian mổ chỉ 20 phút. Kết quả của 
chúng tôi thấp hơn rất nhiều so với các báo cáo 
khác. Tương tự như Li và cộng sự [4], Frumovitz 
và cộng sự cho thấy gia tăng thời gian phẫu 
thuật nội soi so với phẫu thuật mổ mở (344 phút 
so với 307 phút), Taylor SE mổ nội soi trung bình 
231,7 phút – mổ mở trung bình 207,2 phút và 
không có sự khác biệt về biến chứng trong mổ và 
phục hồi chức năng tiểu tiện [1],[2]. Một vài báo 
cáo mô tả thời gian phẫu thuật nội soi thấp hơn 
Li, Frumovitz như Spirtos báo cáo thời gian phẫu 
thuật nội soi trung bình ở 78 trường hợp là 205 
phút [5]. Các tác giả giải thích có sự chệnh lệch 
lớn về thời gian phẫu thuật nội soi giữa các báo 
cáo là do nhiều nguyên nhân như là sự phát triển 
mạnh về thiết bị công nghệ kỹ thuật của dụng cụ 
và máy móc, kỹ năng và tay nghề giữa các phẫu 
thuật viên, và thay đổi những kỹ thuật mổ mới. 
Trong nghiên cứu này, do đối tượng bệnh nhân 
chúng tôi lựa chọn là những trường hợp ung thư 
CTC ở giai đoạn sớm hơn với các tác giả trên, 
thiết bị máy móc mới và hiện đại hơn so với thời 
điểm các tác giả làm nghiên cứu, phẫu thuật viên 
có kinh nghiệm và kĩ năng tốt nên thời gian phẫu 
thuật ngắn hơn rất nhiều. Jeong-Yeol Park MD 
khi so sánh mổ mở và mổ nội soi ở bệnh nhân lớn 
tuổi (>65 tuổi) mắc ung thư CTC giai đọan sớm 
cho thấy ưu điểm vượt trội khi mổ nội soi như 
giảm thời gian phẫu thuật, giảm lượng máu mất 
trung bình, thời gian phục hồi chức năng đường 
ruột và thời gian nằm viện ngắn hơn nhiều ở 
nhóm mổ nội soi [6]. Lượng máu mất không được 
ghi nhận lại do phẫu thuật nội soi tổng lượng 
máu mất trong mổ ít . Không có ghi nhận trường 
hợp bệnh nhân nào phải truyền máu, tương tự 
tác giả Taylor [1]. Li và cộng sự không tìm thấy 
sự khác biệt về số lượng máu mất khi nghiên cứu 
90 trường hợp mổ nội soi cắt tử cung triệt để kèm 
vét hạch với 35 trường hợp mổ mở (370ml máu 
trong mổ nội soi so sánh với 455ml máu trong 
mổ mở) [4]. Taylor báo cáo lượng máu mất trung 
bình qua nội soi là 161,1ml thấp hơn khác biệt 
có ý nghĩa thống kê với mổ mở là 394,4ml [1]. 
Spirtos là 225ml lượng máu mất trung bình, do 1 
phần nghiên cứu này có kèm theo vét hạch động 
mạch chủ [5]. Frumovitz tổng kết có 11% trường 
hợp truyền máu trong mổ nội soi so với 15% khi 
mổ mở [2]. Chúng tôi không ghi nhận trường hợp 
nào có biến cố trong phẫu thuật như tổn thương 
mạch máu, tổn thương bàng quang – niệu quản, 
tổn thương ruột. Điều này tương tự các tác giả 
Frumovitz, Taylor MD, Yan X [1],[2],[4]. 
Thời gian nằm viện trung bình là 4,44 ngày (3 
đến 6 ngày). Theo Taylor và cộng sự, thời gian nằm 
viện trung bình khi mổ nội soi là 2,9 ngày. Bệnh 
nhân hồi phục sau mổ tốt hơn [1]. Theo Li, chức 
năng trung đại tiện của bệnh nhân mổ nội soi phục 
hồi nhanh hơn [4]. Chúng tôi không tổng kết những 
điểm nhấn này do mặt hạn chế của nghiên cứu là 
hồi cứu nên thông tin ghi chép về các chức năng 
trên không được chính xác. Các biến chứng sau 
phẫu thuật thường được nhắc đến như các biến cố 
nhiễm trùng (sốt, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng 
tiết niệu, viêm phổi, abces trong ổ bụng, các biến 
cố không nhiễm trùng (huyết khối tĩnh mạch sâu, ỉa 
chảy, tắc mạch phổi, rối loạn chức năng ruột,) 
qua các nghiên cứu đều thấp có ý nghĩa thống kê 
ở nhóm được phẫu thuật nội soi. Có 1 trường hợp 
bệnh nhân trong nghiên cứu sốt do nhiễm trùng 
mỏm cắt sau mổ ngày thứ 3, được điều trị kháng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 152 - 157, 2017
157
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
sinh tích cực, sát khuẩn mỏm cắt sau điều trị 5 ngày 
ổn định ra viện. 
Những mặt hạn chế trong nghiên cứu của 
chúng tôi đó là đây là nghiên cứu hồi cứu, các 
thông tin không được ghi chép đầy đủ như chụp 
MRI hàng loạt để đánh giá giai đoạn, số lượng 
máu mất trong phẫu thuật, thời gian hồi phục các 
chức năng tiểu tiện, trung tiện, đại tiện. Không có 
nhóm so sánh đối chứng mổ mở ung thư cổ tử cung 
ở giai đoạn sớm, theo dõi dọc các biến cố sau 
mổ ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, chúng tôi 
muốn bước đầu tổng kết những ưu điểm mà phẫu 
thuật nội soiUTCTC giai đoạn sớm mang lại để cho 
thấy rằng phẫu thuật nội soi là khả thi, an toàn và 
giảm tỷ lệ biến cố trong và sau phẫu thuật.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu hồi cứu đánh giá bước đầu 
phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử cung giai 
đoạn sớm tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong 
năm 2016, chúng tôi rút ra kết luận sau:
- Phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu nên được 
chỉ định ở những bệnh nhân UTCTC giai đoạn sớm
- Phẫu thuật nội soi cắt tử cung triệt để kèm vét 
hạch tiểu khung có tính khả thi, an toàn và sẽ áp 
dụng công nghệ ICG để sinh thiết hạch cửa.
- Giảm tỷ lệ biến cố trong mổ như giảm số 
lượng máu mất; không phải truyền máu; không tổn 
thương mạch máu, tiết niêu, ruột. Giảm tỷ lệ biến 
cố sau mổ như nhiễm trùng, sốt, thời gian nằm viện 
ngắn. Thời gian hồi phục các chức năng nhanh.
Tài liệu tham khảo
1. Taylor SE, McBee WC Jr,et al. Radical hysterectomy for early stage 
cervical cancer: laparoscopy versus laparotomy . JSLS. 2011 Apr-Jun; 
15(2):213-7.
2. Frumovitz M, dos Reis R, Sun CC, et al. Comparison of total 
laparoscopic and abdominal radical hysterectomy for patients with early-
stage cervical cancer. Obstes Gynecol. 2007; 110:96-102.
3. Scribner DR Jr, Mannel RS, Walker JL, et al.Cost analysis of 
laparoscopy versus laparotomy for early endometrial cancer. Gynecol 
Oncol. 1999;75:460-3.
4. Li G, Yan X, Shang H, et al. A comparison of laparosopic radical 
hysterectomy and pelvic lymphadenectomy and laparotomy in the treatment 
of Ib-IIa cervical cancer. Gynecol Oncol. 2007;105:176-180.
5. Spirtos NM, Eisenkop SM, et al. Laparoscopic radical hysterectomy 
(type III) with aortic and pelvic lymphadenectomy in patients with stage 
I cervical cancer: surgical morbidity and intermediate follow-up. Am J 
Obstet Gynecol. 2002; 187:340-348.
6. Jeong-Yeol Park MD PhD, Dae-Yeon Kim MD PhD, et al.Laparoscopic 
versus open radical hysterectomy for elderly patients with early-
stage cervical cancer.American Journal of obstetrics and gynecology. 
September 2012; 207(3):195.e1-195.e8.

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_noi_soi_trong_ung_thu_co_tu_cung_giai_doan_som.pdf