Phẫu thuật nội soi treo vào mỏm cùng nhô trong điều trị sa sinh dục

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ són tiểu, phân độ POP – Q sa sinh dục trên

nhóm bệnh nhân sa sinh dục được điều trị bằng phẫu thuật nội soi treo

vào mỏm cùng nhô mà vẫn bảo tồn tử cung tại Bệnh viện Trung ương

Huế và đánh giá kết quả điều trị sau phẫu thuật có so sánh với phương

pháp phẫu thuật Crossen đường dưới truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang và có

theo dõi trên 62 bệnh nhân sa sinh dục gồm hai nhóm: Nhóm I gồm 12

bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật nội soi treo vào mỏm nhô và

nhóm II gồm 50 bệnh nhân được phẫu thuật theo phương pháp Crossen

truyền thống trong thời gian từ tháng 6/2011 đến tháng 06/2015.

Kết quả: Những trường hợp sa sinh dục nặng khi được đánh giá theo

thang điểm POP-Q đều được điều trị triệt để và không tái phát sau 48 tháng

theo dõi. Đánh giá mức độ đau sau mổ theo thang điểm VAS ở nhóm PT

Crossen và nhóm NS ngày thứ 1 sau mổ lần lượt là 5.5 ± 1.8 và 3.6 ± 1.1,

ngày thứ 3 sau mổ là 4.2 ± 1.8 và 1.6 ± 0.6. Thời gian mổ trung bình ở nhóm

PT Crossen và nhóm NS lần lượt là 78,8 phút và 125,6 phút, lượng máu mất

trung bình là 45,7 ml và 30,2 ml, thời gian nằm viện trung bình là 7,7 ngày và

4,1 ngày, thời gian theo dõi trung bình là 23 tháng và 21 tháng. Tỷ lệ són tiểu

trước mổ là 20% gồm 2 cas ở nhóm nội soi và 11 cas ở nhóm PT Crossen,

tất cả đều cải thiện tốt sau mổ. Các biến chứng trong và sau mổ: ở nhóm nội

soi có 1 trường hợp tổn thương bàng quang trong mổ. Ở nhóm mổ Crosen

có 1 trường hợp nhiễm trùng mỏm cắt âm đạo, 1 trường hợp bí tiểu sau mổ

Kết luận: Tỷ lệ són tiểu chiếm 20%, tình trạng sa sinh dục được cải

thiện hoàn toàn và chưa thấy tái phát sau 48 tháng, tình trạng đau sau mổ

cũng như các biến chứng trong và sau mổ rất thấp có thể sửa chửa được

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi treo vào mỏm cùng nhô trong điều trị sa sinh dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi treo vào mỏm cùng nhô trong điều trị sa sinh dục

Phẫu thuật nội soi treo vào mỏm cùng nhô trong điều trị sa sinh dục
CHÂU KHẮC TÚ, LÊ SỸ PHƯƠNG, BẠCH CẨM AN, LÊ MINH TOÀN, PHAN VIẾT TÂM, NGUYỄN THỊ MỸ HƯƠNG
50
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Châu Khắc Tú, Lê Sỹ Phương, Bạch Cẩm An, Lê Minh Toàn, Phan Viết Tâm, Nguyễn Thị Mỹ Hương
Bệnh viện Trung ương Huế
PHẪU THUẬT NỘI SOI TREO VÀO MỎM CÙNG NHÔ 
TRONG ĐIỀU TRỊ SA SINH DỤC
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ són tiểu, phân độ POP – Q sa sinh dục trên 
nhóm bệnh nhân sa sinh dục được điều trị bằng phẫu thuật nội soi treo 
vào mỏm cùng nhô mà vẫn bảo tồn tử cung tại Bệnh viện Trung ương 
Huế và đánh giá kết quả điều trị sau phẫu thuật có so sánh với phương 
pháp phẫu thuật Crossen đường dưới truyền thống. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang và có 
theo dõi trên 62 bệnh nhân sa sinh dục gồm hai nhóm: Nhóm I gồm 12 
bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật nội soi treo vào mỏm nhô và 
nhóm II gồm 50 bệnh nhân được phẫu thuật theo phương pháp Crossen 
truyền thống trong thời gian từ tháng 6/2011 đến tháng 06/2015. 
Kết quả: Những trường hợp sa sinh dục nặng khi được đánh giá theo 
thang điểm POP-Q đều được điều trị triệt để và không tái phát sau 48 tháng 
theo dõi. Đánh giá mức độ đau sau mổ theo thang điểm VAS ở nhóm PT 
Crossen và nhóm NS ngày thứ 1 sau mổ lần lượt là 5.5 ± 1.8 và 3.6 ± 1.1, 
ngày thứ 3 sau mổ là 4.2 ± 1.8 và 1.6 ± 0.6. Thời gian mổ trung bình ở nhóm 
PT Crossen và nhóm NS lần lượt là 78,8 phút và 125,6 phút, lượng máu mất 
trung bình là 45,7 ml và 30,2 ml, thời gian nằm viện trung bình là 7,7 ngày và 
4,1 ngày, thời gian theo dõi trung bình là 23 tháng và 21 tháng. Tỷ lệ són tiểu 
trước mổ là 20% gồm 2 cas ở nhóm nội soi và 11 cas ở nhóm PT Crossen, 
tất cả đều cải thiện tốt sau mổ. Các biến chứng trong và sau mổ: ở nhóm nội 
soi có 1 trường hợp tổn thương bàng quang trong mổ. Ở nhóm mổ Crosen 
có 1 trường hợp nhiễm trùng mỏm cắt âm đạo, 1 trường hợp bí tiểu sau mổ
Kết luận: Tỷ lệ són tiểu chiếm 20%, tình trạng sa sinh dục được cải 
thiện hoàn toàn và chưa thấy tái phát sau 48 tháng, tình trạng đau sau mổ 
cũng như các biến chứng trong và sau mổ rất thấp có thể sửa chửa được. 
Từ khóa: Phẫu thuật nội soi, Treo vào mỏm cùng, Sa sinh dục.
Abstract 
LAPAROSCOPIC PROMONTOFIXATION FOR THE 
GENITAL PROLAPSE TREATMENT
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Châu Khắc Tú,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):25/04/2016
Từ khoá: Phẫu thuật nội soi, Treo 
vào mỏm cùng, Sa sinh dục. 
Key word: Laparoscopic surgery, 
Promontofixation, Genital 
prolapse.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 50 - 55, 2016
51
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Objective: Determine the rate of urine incontinence, POP – Q classification for female genital 
prolapse on patients treated with laparoscopic promontofixation surgery with uterine reservation at Hue 
Central Hospital and evaluating treatment outcomes after surgery compared with the Crossen surgery, 
a vaginal traditional surgical method. 
Methods: Retrospective, descriptive cross-sectional and follow-up on 62 female genital prolapse 
patients who consists of two groups: 12 patient group with laparoscopic promontofixation surgery and 
50 patient group underwent Crossen technique surgery in the period from June 2011 to June 2015. 
Results: The severe genital prolapse cases evaluated with POP-Q scale are treated thoroughly 
and without recurrence after 48 months of follow-up. Evaluation with the VAS scale in the Crossen 
group and the Laparoscopic surgery group at the first postoperative day respectively are 5.5 ± 1.8 
and 3.6 ± 1.1, at the 3rd postoperative day are 4.2 ± 1.8 và 1.6 ± 0.6. The average operation 
time in the Crossen group and the Laparoscopic group respectively are 78.8 minutes and 125.6 
minutes, the average blood loss was 45.7 ml and 30.2 ml, the average length of hospital stay was 
7, 7 days and 4.1 days, the average follow-up time was 23 months and 21 months. Preoperative 
urine incontinence ratio is 20% consist of 2 cases in the Laparoscopic group and 11 cases in the 
Crossen group, all of which improved well after surgery. The complications during and after surgery: 
The laparoscopic group had 1 case of bladder injury during surgery, The Crossen group had 1 case 
of vaginal vault infections, one case of postoperative urinary retention
Conclusion: The rate of urine incontinence is 20%, genital prolapse status improved completely and 
have not seen recurrence after 48 months, pain after surgery as well as complications during and after 
surgical are very low and can be treated. 
Key word: Laparoscopic surgery, Promontofixation, Genital prolapse.
1. Đặt vấn đề
Sa sinh dục là một bệnh lý phổ biến, xảy ra ở 
50% bệnh nhân đã sinh con và cả cuộc đời của 
một người phụ nữ có nguy cơ có điều trị sa sinh 
dục khoảng 11% [1]. Có nhiều nguyên nhân gây 
sa sinh dục bao gồm rối loạn chức năng thần 
kinh cơ và sàn chậu như yếu các dây chằng tử 
cung cùng, dây chằng ngang cổ tử cung hoặc 
chấn thương các dây chằng.
Hiện nay, để phân độ sa sinh dục người ta 
thường phân độ theo Baden–Walker gồm 4 độ [1]:
- Sa sinh dục độ I: sa thành trước (kèm theo sa 
bàng quang), sa thành sau (kèm theo sa trực tràng), 
cổ tử cung thấp nhưng còn nằm trong âm đạo.
- Sa sinh dục độ II: sa thành trước (kèm theo 
sa bàng quang), sa thành sau (kèm theo sa trực 
tràng), cổ tử cung thập thò âm hộ.
- Sa sinh dục độ III: sa thành trước (kèm theo 
sa bàng quang), sa thành sau (kèm theo sa trực 
tràng), cổ tử cung sa hẳn ra ngoài âm hộ
- Sa sinh dục độ IV: sa thành trước (kèm theo 
sa bàng quang), sa thành sau (kèm theo sa trực 
tràng), toàn bộ tử cung nằm ra ngoài âm hộ 
Nhưng phân loại này không đánh giá mức 
độ sa của các cơ quan khác như bàng quang và 
trực tràng và vì thế khó chọn một phương pháp 
điều trị phù hợp. 
Từ năm 1996 phân độ sa sinh dục theo 
POP-Q được chính thức đưa vào thực hành trong 
đánh giá sa sinh dục. Phân độ này đánh giá 
rất cụ thể từng vị trí sa từ đó có thể lựa chọn 
phương pháp điều trị phù hợp. Cách phân loại 
này được Hội Niệu – Phụ khoa quốc tế và Hội 
Niệu – Phụ khoa và phẫu thuật phụ khoa Châu 
Mỹ công nhận. Phân loại sử dụng 9 kích thước 
khác nhau tính bằng centimét kể từ màng trinh, 
mỗi bên có 6 điểm tại thành âm đạo (2 điểm 
ở thành âm đạo trước, 2 ở sau và 2 ở đáy âm 
đạo) và 3 kích thước đo ở vùng đáy chậu. Điểm 
Aa, Ap, Ba, Bp đều bằng -3, điểm C và D nằm 
CHÂU KHẮC TÚ, LÊ SỸ PHƯƠNG, BẠCH CẨM AN, LÊ MINH TOÀN, PHAN VIẾT TÂM, NGUYỄN THỊ MỸ HƯƠNG
52
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
ở khoảng từ - TVL và – (TVL-2) hay các điểm có 
số đo tương đương theo thứ tự như sau : Aa, Ba, 
C, D, Bp, Ap, total vaginal length (TVL), genital 
hiatus (gh), and perineal body (pb) -3, -3,-7, -9, 
-3, -3, 9, 2, 2.
Trên thực tế lâm sàng người ta phân loại theo 
POP-Q như sau [4].
- Độ 0: Không có sa sinh dục. 
- Độ I: Phần cuối của sa sinh dục còn nằm 
trên màng trinh 1cm.
- Độ II: Phần cuối của sa sinh dục nằm ở trên 
hoặc dưới màng trinh 1 cm.
- Độ III: Phần cuối của sa sinh dục nằm ở 
dưới màng trinh 1 đến 2cm.
- Độ IV: Phần cuối của sa sinh dục nằm ở 
dưới màng trinh trên 2cm.
Trước đây, điều trị sa sinh dục chủ yếu là cắt tử 
cung đường âm đạo theo phương pháp Crossen. 
Tuy nhiên, nếu chỉ cắt tử cung đường âm đạo đơn 
thuần thì sẽ làm khiếm khuyết hệ thống nâng đỡ 
sàn chậu và sẽ dẫn đến sa sinh dục tái diễn. Các 
nghiên cứu cho thấy khoảng 40% có sa mõm cắt 
sau cắt tử cung [3] [9]. Mặc khác, cổ tử cung và 
tử cung có vai trò quan trọng trong chức năng 
tình dục. Trong một số trường hợp cắt tử cung ảnh 
hưởng đến chức năng sinh dục và sự thoải mái của 
phụ nữ. Vì vậy, ngày càng có nhiều phụ nữ muốn 
giữ lại tử cung . Người ta nghiên cứu thấy phục hồi 
sa sinh dục bằng phương pháp treo vào mõm cùng 
nhô có khả năng cố định sa sinh dục và giảm tỷ lệ 
tái diễn sau đó [8].
Những năm gần đây, Phẫu thuật nội soi treo 
vào mỏm nhô trong điều trị sa sinh dục được đưa 
vào ứng dụng trong lâm sàmg và đã cho kết quả 
đáng khích lệ. 
Tại Bệnh viện Trung ương Huế chúng tôi đã 
bắt đầu triển khai kỹ thuật này từ tháng 6 năm 
2011với sự giúp đỡ của đoàn chuyên gia trung 
tâm phẫu thuật sàn chậu Wuerzburg, CHLB Đức và 
đoàn chuyên gia đến từ Incontinence Center S.C., 
USA, đến nay đã hơn 4 năm. Đề tài nghiên cứu 
này được tiến hành nhằm mục đích: 
1. Xác định tỷ lệ són tiểu và phân loại POP-Q 
trên bệnh nhân sa sinh dục.
2. Đánh giá hiệu quả điều trị của hai phương 
pháp phẫu thuật nội soi treo vào mỏm cùng nhô 
và phương pháp phẫu thuật Crossen truyền thống.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: 
Nhóm bệnh nhân có sa sinh dục (Nhóm I) tại 
Bệnh viện TW Huế thỏa mãn những tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn chọn lựa: Những bệnh nhân sa 
sinh dục mức độ nặng gồm sa bàng quang và sa 
trực tràng độ 2, 3, 4, và/hoặc sa tử cung độ 3, 4 
có nguyện vọng muốn giữ lại tử cung hoặc không 
có chỉ định phẫu thuật cắt tử cung. 
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sa sinh dục mức độ nhẹ, 
không đủ sức khoẻ để tham gia phẫu thuật, có chỉ 
định cắt tử cung rõ ràng (ví dụ: ung thư nội mạc 
tử cung), có những phẫu thuật âm đạo trước đó, 
những trường hợp nhiễm trùng nặng.
Phương pháp nghiên cứu. 
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang và có 
theo dõi trên 62 bệnh nhân sa sinh dục gồm hai 
nhóm: Nhóm I gồm 12 bệnh nhân được chỉ định 
điều trị bằng phẫu thuật nội soi treo vào mỏm 
nhô và nhóm II gồm 50 bệnh nhân được phẫu 
thuật cắt tử cung toàn phần đường dưới theo 
phương pháp Crossen, trong thời gian từ tháng 
6/2011 đến tháng 06/2015. 
Tất cả các bệnh nhân đều được thông báo và 
tự nguyện chấp nhận phương pháp điều trị này. 
Tiêu chí lựa chọn phương pháp phẫu thuật nội soi 
treo vào mỏm nhô bao gồm nguyện vọng bệnh 
nhân muốn giữ lại tử cung, đánh giá lâm sàng cho 
thấy tử cung còn di động tốt, ít dính, bệnh nhân 
mập, không có phẫu thuật bụng hở trước đó, đây 
là các tiêu chí chúng tôi dựa theo khuyến cáo của 
Childers [5] và CZEMPT protocol [6].
Các bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật 
Crossen gồm các trường hợp không thích hợp cho 
phẫu thuật nội soi vì các lý do như nguy cơ gây 
mê cao ASA III theo phân loại của ASA (American 
Society of Anesthesiologists).
Đánh giá bệnh nhân: 
- Tình trạng của sàn chậu sẽ được phân loại 
theo POP - Q quốc tế, đánh giá sa thành trước 
(điểm Aa, Ba), sa tử cung và vòm âm đạo (điểm C), 
sa thành sau (điểm Ap, Bp).. Phân loại POP - Q áp 
dụng đánh giá cho những bệnh nhân trước và sau 
phẫu thuật 1, 6, 12, 24 và 48 tháng. Tình trạng 
đau sau phẫu thuật sẽ được tính điểm theo thang 
đo VAS (Visual Analogue Pain Scale) ở những 
ngày thứ 1, 3 sau khi phẫu thuật. 
Chuẩn bị trước phẫu thuật: 
- Thụt tháo bệnh nhân vào buổi tối hôm trước và 
4 giờ trước khi phẫu thuật
- Cephalosporin III 1g tiêm tỉnh mạch trước 
mổ 1 giờ
- Đặt sonde tiểu bằng sond Foley
Kỹ thuật phẫu thuật:
- Nhóm phẫu thuật Crossen: Cắt tử cung toàn 
phần đường dưới, bóc tách, khâu nâng Bàng 
quang, tái tạo thành trước, thành sau âm đạo 
nếu cần.
- Nhóm nội soi: Vào bụng với 1 Trocar 10 mm 
qua rốn và 3 trocar 5 mm vùng bụng dưới. Quan 
sát kỹ để kiểm tra toàn thể khoang phúc mạc và 
xác định các mốc giải phẫu. Khi kết thúc kiểm tra 
một lần nữa để chắc chắn đã cầm máu kỹ. Ở đây 
chúng tôi không đặt dẫn lưu cũng như điều trị dự 
phòng huyết khối sau mổ.
Mở phúc mạc mặt trước mỏm nhô dọc theo 
cạnh phải trực tràng đến túi cùng Douglas, bóc 
tách trực tràng khỏi thành sau âm đạo đến tận cơ 
nâng hậu môn. Mở phúc mạc bàng quang tử cung, 
bóc tách bang quang khỏi thành trước âm đạo đến 
tận 1/3 dưới âm đạo.
Hai mảnh ghép Polypropylene lần lượt cố 
định vào phía trước và sau âm đạo: mảnh phía 
sau có hình chữ Y ngược lần lượt đính vào cơ 
nâng phải và trái và thành sau âm đạo bằng 
chỉ prolene. Mảnh phía trước được khâu đính 
lần lượt vào thành trước âm đạo, cân cổ tử cung, 
dọc theo cạnh phải tử cung xuyên qua dây 
chằng rộng, đính với mảnh ghép phía sau và 
dây chằng trước mỏm nhô. Sau cùng phủ phúc 
mạc che toàn bộ mảnh ghép. 
- Thời gian phẫu thuật: được tính từ lúc rạch 
da đến lúc đóng da mũi cuối cùng, Thời gian 
nằm viện tính từ ngày hậu phẫu đầu tiên đến 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 50 - 55, 2016
53
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Đặc điểm Nội soi (n=12) Crossen (n=50) P
Chỉ số khối 27,1 26,7 NS
(Khoảng dao động) (18,7-43,1) (18,7-32,9)
Tuổi 59,4 59,5 NS
(Khoảng dao động) (42-76) (47-79)
Thời gian mắc bệnh (năm) 4,2 4,5 NS
(Khoảng dao động) (2-7) (3-8)
Số lần sinh con trung bình 3,1 3,4 NS
(Khoảng dao động) (1-5) (2-6)
NS = không có ý nghĩa
Bảng 1. Các đặc điểm bệnh nhân
Kết quả Nội soi (n=12) Crossen (n=50) T test
Thời gian mổ (phút) 125,6 78,8 P<0,001
(Khoảng dao động) (85-245) (45-118)
Lượng máu mất (ml) 30,2 45,7 NS
(Khoảng dao động) (20-70) (35-150)
Thời gian nằm viện (ngày) 4,1 7,7 P<0,001
(Khoảng dao động) (3-10) (5-16)
Thời gian theo dõi (tháng) 21 23 NS
(Khoảng dao động) (3-48) (2-46)
NS = không có ý nghĩa
Bảng 4 . Kết quả phẫu thuật, thời gian nằm viện và thời gian theo dõi
Nhóm 1 ngày 3 ngày
Nhóm NS (n=12) 3.6 ± 1.1 1.6 ± 0.6 
Nhóm PT Crossen (n=50) 5.5 ± 1.8 4.2 ± 1.8
Bảng 3: Đánh giá mức độ đau sau mổ theo thang điểm VAS
Nhóm Trước mổ Sau mổ 1 tháng Sau mổ 6 tháng
Nhóm NS (n=12)
Ba (cystocele)
C (uterus)
Bp (posterior)
+4.6 ± 0.6 
+2.6 ± 0.5
- 2.4 ± 0.5 
- 2.3 ± 0.9
- 6.8 ± 1.3
- 2.4 ± 0.8 
- 2.3 ± 1.1
- 6.6 ± 2.7
- 2.2 ± 0.5
Nhóm Crossen (n=50)
Ba 
C 
Bp 
- 2.2 ± 0.7 
+2.8 ± 0.5 
+5.2 ± 0.2 
- 2.2 ± 0.7
- 5.6 ± 1.6
- 2.1 ± 1.0
- 2.2 ± 0.6
- 6.0 ± 1.8
- 1.9 ± 0.9
Nhóm Sau mổ 12 tháng Sau mổ 24 tháng Sau mổ 48 tháng
Nhóm NS (n=12)
Ba (cystocele)
C (uterus)
Bp (posterior)
- 2.3 ± 0.8
- 6.6 ± 1.6
- 2.1 ± 0.8
- 2.2 ± 0.9
- 6.4 ± 1.3
- 2.0 ± 0.8 
- 2.1 ± 1.1
- 6.3 ± 2.7
- 2.0 ± 0.5
Nhóm Crossen (n=50)
Ba 
C 
Bp 
- 2.3 ± 0.5
- 6.2 ± 1.1
- 1.9 ± 0.7
- 2.2 ± 0.7
- 5.6 ± 1.6
- 1.8 ± 1.0
- 2.1 ± 0.6
- 5.4 ± 1.8
- 1.6 ± 0.9
Bảng 2: Đánh giá SSD theo phân độ POP – Q trước và sau phẫu thuật
Đặc điểm Nội soi (n=12) Crossen (n=50) P
Biến chứng trong mổ 1 (8,33%) 0 1,.00 (NS)
Biến chứng sau mổ 0 1 (2%) 0,69 (NS)
Bí tiểu 0 1 (2 %) 0,69 (NS)
Són tiểu 0 0 >0,99(NS)
NS = không có ý nghĩa
Bảng 5. Các biến chứng trong và sau mổ
CHÂU KHẮC TÚ, LÊ SỸ PHƯƠNG, BẠCH CẨM AN, LÊ MINH TOÀN, PHAN VIẾT TÂM, NGUYỄN THỊ MỸ HƯƠNG
54
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
lúc xuất viện. Biến chứng trong và sau mổ khi có 
tổn thương các tạng xung quanh và được đánh 
giá theo phân loại Clavien–Dindo [7]. Tái khám 
định kỳ sau phẫu thuật 1, 6, 12, 24 và 48 tháng
Xử lý số liệu.
- Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích, 
đánh giá và so sánh sự khác biệt trong phẫu 
thuật và kết quả sau phẫu thuật của 2 nhóm 
(Phẫu thuật nội soi và phẫu thuật Crossen). 
3. Kết quả
Bảng 1: Tuổi trung bình và phạm vi phân bố 
độ tuổi tương tự nhau trong 2 nhóm. Độ tuổi trung 
bình trong nhóm nội soi là 59,4 năm, so với 59,5 
năm nhóm mổ Crossen. Sự khác biệt về chỉ số khối 
cơ thể (BMI) giữa các nhóm là không đáng kể, 
27,1 trong nhóm nội soi so với 26,7 trong nhóm 
mổ hở. Bệnh nhân nặng nhất (BMI 43.1) được mổ 
nội soi thành công. Hơn một nửa số bệnh nhân 
trong nhóm nội soi (52,1%) nặng hơn 55,7kg.
Bảng 2: Những trường hợp sa sinh dục nặng khi 
được đánh giá theo thang điểm POP-Q đều được 
điều trị triệt để và không tái phát sau 48 tháng 
theo dõi, không có sự khác biệt giữa hai nhóm NS 
và nhóm PT Crossen.
Bảng 3: Thang điểm VAS đánh giá mức độ đau 
sau khi phẫu thuật, bệnh nhân nhóm PT Crossen 
có mức độ đau cao hơn nhóm 1(P<0.001).
Bảng 4: Lượng máu mất là không đáng kể. 
Mất máu trong phẫu thuật tương tự nhau ở cả hai 
nhóm (30,2 ml so với 45,7 ml ở nhóm nội soi và 
mổ Crossen tương ứng) tuy nhiên không có thay đổi 
đáng kể về hemoglobin huyết thanh.
Thời gian mổ nội soi ngắn hơn đáng kể so 
với thời gian ở nhóm mổ Crossen (125,6 phút 
so với 78,8 phút, P <0,001), và ở nhóm phẫu 
thuật nội soi, bệnh nhân được xuất viện sớm hơn 
nhiều, 4,1 ngày (Khoảng dao động từ 3 đến 10) 
ở nhóm nội soi, so với 7,7 ngày (khoảng dao 
động từ 5-16) ở nhóm mổ Crossen (P <0,001).
Thời gian theo dõi trung bình trong nhóm 
nội soi là 21 tháng (Khoảng dao động từ 3-48). 
Thời gian theo dõi trung bình ở nhóm PT Crossen 
là 23 tháng (Khoảng dao động từ 2-46), chưa 
thấy trường hợp nào tái phát.
Trong nhóm nội soi có 1 trường hợp tổn thương 
bàng quang trong mổ được phát hiện và xử trí 
ngay trong mổ. Ở nhóm mổ Crosen có 1 trường 
hợp nhiễm trùng mõm cắt âm đạo phải điều trị hơn 
2 tuần, 1 trường hợp bí tiểu sau mổ trong 7 ngày 
phải lý liệu pháp. Tình trạng són tiểu có cải thiện 
rất tốt sau mổ, 2 cas són tiểu trước mổ ở nhóm nội 
soi và 11 cas ở nhóm PT Crossen đều không còn 
tình trạng này sau mổ nữa. 
Bảng 5: Sự khác biệt về các biến chứng xãy 
ra ở cả hai nhóm là không có ý nghĩa. 
4. Bàn luận
Tử cung đóng vai trò quan trọng trong quá 
trình duy trì sự ổn định cho sàn chậu và sức khoẻ 
sinh sản. Theo Constaniti, thì khi cắt tử cung sẽ 
làm thay đổi những mối liên quan giữa các tổ 
chức phần chậu hông và vì thế sẽ làm thay đổi 
hệ thống nâng đỡ sàn chậu và chức năng của hệ 
tiết niệu. Theo Belot thì cắt tử cung, là một yếu tố 
nguy cơ làm mòn âm đạo [2]. Với kỹ thuật nội 
soi treo vào mỏm cùng nhô, chúng tôi đã treo tử 
cung bị sa mà vẫn duy trì giải phẫu mà không 
cắt bỏ tử cung. Theo bảng 2 cho thấy cả 2 nhóm 
đều kết quả rất tốt, không có trường hợp nào bị 
sa trở lại và kết quả này kéo dài sau 48 tháng 
theo dõi. Theo Vita de D. và cộng sự kết quả trả 
lại các mốc giải phẫu gần như bình thường và 
không bị tái phát sau 18 tháng theo dõi [11]. 
Với kết quả này, chúng tôi nhận thấy kỹ thuật 
này nên được khuyến khích vì có khả năng điều 
trị hoàn toàn những trường hợp sa sinh dục 
nặng, đau rất ít sau khi phẫu thuật, không có 
biến chứng trầm trọng nào. Chúng tôi chỉ có 
1 trường hợp tổn thương bàng quang ở nhóm 
nội soi trong quá trình bóc tách do bị dính, tổn 
thương được phát hiện ngay và khâu lại không 
biến chứng gì về sau. Thang điểm đánh giá mức 
độ đau sau phẫu thuật VAS cũng cho thấy với kỹ 
thuật nội soi trong thời kỳ hậu phẫu bệnh nhân 
đau đớn rất ít, trong khi đó ở nhóm phẫu thuật 
Crossen đau nhiều hơn.
Trong nghiên cứu chúng tôi, sa sinh dục có 
kết hợp với són tiểu là 20% và tất cả các trường 
hợp này đều được cải thiện sau mổ. Kết quả 
này cũng phù hợp với hai tác giả Halaska và 
Vita [6]. 
Ở nhóm phẫu thuật nội soi, đối với đời sống 
sinh hoạt tình dục và cải thiện chất lượng cuộc 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 50 - 55, 2016
55
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Alfrido. Milani AL, Hinoul P, Gauld JM, et al. Trocar-guided mesh 
repair of vaginal prolapse using partially absorbable mesh: 1-year 
outcomes. Am J Obstet Gynecol 2011;204:74-8. 
2. Belot F, Collinet P, Debodinance P, et al. Risk factors for prosthesis 
exposure in treatment of genital prolapse via the vaginal approach.
Gynecol Obstet Fertil 2005;33(12):970–4.
3. Benson J, Lucente V, McClellan E, et al. Vaginal versus abdominal 
reconstructive surgery for the treatment of pelvic support defects: a 
prospective randomized study with long-termoutcome evaluation. Am J 
Obstet Gynecol 2000;175:1418–22.
4. Burlp et al. The standardization of terminology of female pelvic 
organ prolapse and pelvic floor dysfunction. AmJ Obstet Gynecol 
2011 ; 75: 10-17.
5. Fatton B, Amblard J, Debodinance P, et al. Transvaginal repair of 
genital prolapse: preliminary results of a new tension-free vaginal mesh 
(Prolifttrade mark technique)—a case series multicentric study. Int 
Urogynecol J Pelvic Floor Dysfunct 2007;18(7):743–52.
6. Halaska M, Maxova K, Sottner O, et al. A multicenter, randomized, 
prospective, controlled study comparing sacrospinous fixation and 
transvaginal mesh in the treatment of posthysterectomy vaginal vault 
prolapse. Am J Obstet Gynecol 2012;207:301-7.
7. Landsheere L, Ismail S, Lucot J-P, et al. Surgical intervention after 
transvaginal Prolift mesh repair: retrospective single-center study 
including 524 patients with 3 years’ median follow-up. Am J Obstet 
Gynecol 2012;206:83-7.
8. Leron E and Stanton SL. Sacrocolpopexy with synthetic mesh for 
treatment of uterovaginal prolapse. 
9. Meek GR, Washburne JF, Mc Gehrer RP. Repair of vault prolapse 
by suspension of the vagina to illiococcygeus (prespineus) fascia. Am J 
Obstet Gynecology 1994; 171: 1444 – 1449
10. Rae D, Hawthorn R (2002) – sacrocolpopexy for vaginal vault 
prolapse: a combined vaginal and laparoscopic approach- Gynecological 
Endoscopy 11 ( 2- 3) , 75 – 79
11. Vita De D., Aroco F., et al. Vaginal reconstructive surgery 
for severe pelvic organ prolapses: A ‘uterine-sparing’ technique 
using polypropylene prostheses. European Journal of Obstetrics & 
Gynecology and Reproductive Biology 2009; 139: 245–251.
sống sau phẫu thuật chúng tôi chưa đánh giá 
đầy đủ nhưng rất nhiều tác giả có nghiên cứu về 
vấn đề này đều kết luận hai chức năng này đều 
được cải thiện [10]. Theo Vita De D. và cộng sự 
nhận thấy 75% (10/15) bệnh nhân không sinh 
hoạt vợ chồng trước đó đã sinh hoạt trở lại sau 
phẫu thuật . Hơn thế nửa, 80% bệnh nhân có 
đời sống tình dục cải thiện hơn sau khi phẫu 
thuật [11]. Như vậy, đây là một kỹ thuật có hiệu 
quả lớn trong điều trị sa sinh dục, phục hồi lại 
cấu trúc âm đạo mà không cần cắt bỏ tử cung, 
không bị sa sinh dục tái trở lại. 
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy trong 
nhóm nghiên cứu:
- Tỷ lệ són tiểu chiếm 20% và được cải thiện 
hoàn toàn sau mổ
- Tình trạng sa sinh dục được cải thiện hoàn 
toàn và chưa có tái phát sau 48 tháng (Phân độ 
POP Q ), tử cung vẫn bảo tồn được ở nhóm nội soi.
- Tình trạng đau sau mổ rất thấp ở nhóm nội soi 
(Thang điểm VAS)
- Các biến chứng trong và sau mổ rất thấp và 
có thể sửa chửa được.

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_noi_soi_treo_vao_mom_cung_nho_trong_dieu_tri_sa_s.pdf