Phẫu thuật nội soi toàn bộ không robot hỗ trợ sửa bệnh thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ
Chƣa có báo cáo nào về ứng dụng phẫu
thuật nội soi toàn bộ trong sửa chữa bệnh
thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ. Trong
báo cáo này, chúng tôi công bố 2 trƣờng hợp
thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ đƣợc
sửa chữa thành công bằng phƣơng pháp phẫu
thuật nội soi toàn bộ không robot hỗ trợ
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi toàn bộ không robot hỗ trợ sửa bệnh thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi toàn bộ không robot hỗ trợ sửa bệnh thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 44 PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG ROBOT HỖ TRỢ SỬA BỆNH THÔNG SÀN NHĨ THẤT BÁN PHẦN Ở TRẺ NHỎ Đặng Quang Huy*, Nguyễn Công Hựu*, Phạm Thị Kim Lan*, Trần Đắc Đại*, Trương Thanh Hương**, Lê Minh Sơn***, Lê Ngọc Thành* TÓM TẮT Chƣa có báo cáo nào về ứng dụng phẫu thuật nội soi toàn bộ trong sửa chữa bệnh thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ. Trong báo cáo này, chúng tôi công bố 2 trƣờng hợp thông sàn nhĩ thất bán phần ở trẻ nhỏ đƣợc sửa chữa thành công bằng phƣơng pháp phẫu thuật nội soi toàn bộ không robot hỗ trợ. Từ khóa: Thông sàn nhĩ thất bán phần, phẫu thuật tim ít xâm lấn, phẫu thuật tim nội soi toàn bộ... ĐẶT VẤN ĐỀ Thông sàn nhĩ thất (TSNT) bán phần chiếm khoảng 3% trong những bệnh tim bẩm sinh (TBS);bệnh đƣợc sửa chữa chủ yếu qua phẫu thuật tim mở dƣới tuần hoàn ngoài cơ thể, đặc biệt ở trẻ nhỏ.1 Sẹo mổ xấu và biến dạng lồng ngực là những nguyên nhân ảnh hƣởng tâm lý của trẻ sau mổ.Theo hiểu biết của chúng tôi, chƣa có công bố nào trong y văn về ứng dụng phẫu thuật nội soi toàn bộ (NSTB) không có robot hỗ trợ trong sửa chữa TSNT bán phần ở trẻ nhỏ. Chúng tôi thông báo kinh nghiệm phẫu thuật cho 2 bệnh nhi đƣợc chẩn đoán TSNT bán phần bằng phƣơng pháp NSTB không robot hỗ trợ. TRƢỜNG HỢP LÂM SÀNG Bệnh nhân (BN) thứ nhất: trẻ nam 7 tuổi có chị gái đã đƣợc chẩn đoán TSNT bán phần và đã đƣợc phẫu thuật qua đƣờng mổ kinh điển cƣa dọc xƣơng ức. BN vào viện vì triệu chứng mệt, khó thở khi gắng sức, bệnh diễn biến tăng dần trong 3 tháng. Siêu âm tim qua thành ngực xác định chẩn đoán TSNT bán phần với lỗ thông liên nhĩ (TLN) tiên phát (đƣờng kính 10mm, shunt trái – phải) và van hai lá (VHL) hở nặng (diện tích dòng hở 15cm 2 trên mặt cắt 4 buồng) do cleft chiếm hết chiều dài lá trƣớc và vòng VHL giãn nhiều (đƣờng kính thất trái trong thì tâm trƣơng (Dd) là 50mm).Tại thời điểm phẫu thuật, trẻ nặng 22,5kg.6 BN thứ hai: trẻ nữ 11 tuổi vào viện do nghe thấy tiếng thổi tâm thu cạnh ức trái. Siêu âm tim qua thành ngực xác định chẩn đoán TSNT bán phần với lỗ TLN tiên phát (đƣờng kính 34mm, shunt trái – phải) và VHL hở nhiều (diện tích dòng hở 12cm2 trên mặt cắt 4 buồng) do cleft chiếm gần hết chiều dài lá trƣớc và vòng VHL giãn (Dd 40). Tại thời điểm phẫu thuật, trẻ nặng 24kg. Cả 2 BN đều không có thông liên thất (TLT), van ba lá không hở hoặc hở nhẹ, chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình * Trung tâm tim mạch, Bệnh viện E ** Khoa nhi, viện tim mạch quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai *** Khoa phẫu thuật tim mạch và lồng ngực, Bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Thành Ngày nhận bài: 01/10/2017 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/10/2017 Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG ROBOT HỖ TRỢ SỬA BỆNH THÔNG SÀN NHĨ THẤT BÁN PHẦN... 45 thƣờng. Động mạch (ĐM) đùi có kích thƣớc bình thƣờng trên siêu âm trƣớc mổ. Gia đình chấp thuận phƣơng pháp NSTB sau khi đƣợc cung cấp đầy đủ thông tin liên quan. PHƢƠNG PHÁP PHẪU THUẬT BN đƣợc gây mê bằng ống nội khí quản một nòng. Bác sĩ gây mê đặt catheter tĩnh mạch trung ƣơng vào TM cảnh trong trái. BN đƣợc đặt tƣ thế nằm nghiêng trái 20-30 , hai tay xuôi theo thân ngƣời. Để thiết lập tuần hoàn ngoại vi chúng tôi tạo một đƣờng rạch dài 2cm ngang ở nếp bẹn bên phải, bộc lộ ĐM đùi chung và TM đùi. Chúng tôi thiết lập đƣờng ĐM một cách gián tiếp vào ĐM đùi chung qua một đoạn mạch Dacron số 6. Cannula TMC trên và TMC dƣới đƣợc đặt qua TM cảnh trong phải và TM đùi theo phƣơng pháp Sheldinger. Khi chạy máy với toàn bộ lƣu lƣợng, cả 2 BN đều bị tăng áp lực đƣờng ĐM (> 240mmHg); chúng tôi đặt một đƣờng ĐM phụ trực tiếp vào ĐM đùi bên đối diện để giảm áp (BN thứ nhất là cannula 10F, BN thứ hai là cannula 12F). Hình 1,(A): Cách thức đặt các trocar:(1) Clamp Chitwood, (2) tay thao tác phụ, (3) camera nội soi, (4) lỗ trocar 12mm cho tay làm việc chính và (5) kim cardioplegia chọc qua thành ngực; (B): Hình ảnh clamp ĐMC và liệt tim xuôi dòng với kim cardioplegia chọc qua thành ngực. Đặt 4 trocar tại các vị trí đã đánh dấu s n, cụ thể là: 01 trocar 12mm tại khoang liên sƣờn (KLS) V đƣờng nách trƣớc là tay làm việc chính, 01 trocar 5mm tại KLS IV đƣờng nách giữa là tay làm việc phụ, 01 trocar 5mm tại KLS V đƣờng nách giữa (cho đèn nội soi) và 01 trocar 5mm tại KLS VI đƣờng nách giữa (cho đƣờng hút máu về) (hình 1A). Sau khi vào đến khoang màng phổi, hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể bắt đầu hoạt động, nhiệt độ thực quản đƣợc hạ dần xuống 32 C, màng tim đƣợc mở song song và cách thành trƣớc ngực 2cm. Cặp ĐMC bằng clamp Chitwood, liệt tim xuôi dòng bằng dung dịch Custodiol với kim cardioplegia đƣợc đặt qua thành ngực (hình 1B). PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 46 Hình 2,(A): cleft chiếm hết chiều dài lá trước VHL; (B, C): cleft VHL được khâu bằng các mũi rời; (D, E): khâu thu hẹp vòng van lá sau của VHL (mũi tên mầu đỏ) và (F): vá TLN tiên phát sử dụng miếng vá nhân tạo, lỗ xoang vành vẫn để lại bên NP. Mở nhĩ phải (NP) dọc theo rãnh liên nhĩ sau khi đã thắt TMC trên. Thành trƣớc NP và vách liên thất tại vị trí van nhĩ thất đƣợc khâu treo lên màng tim giúp bộc lộ rõ cleft VHL. Cleft VHL đƣợc khâu bằng các mũi rời chỉ prolene 5-0 (hình 2B,C).Vòng van lá sau của VHL đƣợc khâu thu hẹp bằng 2 mũi khâu chỉ prolene 5-0 có đệm bằng pledget (hình 2D,E).Mức độ kín của VHL đƣợc kiểm tra bằng bơm nƣớc muối sinh lý ngay trong mổ. Lỗ TLN đƣợc vá lại bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt với những mũi khâu mỏng, bề mặt; lỗ xoang vành đƣợc giữ lại bên NP (hình 2F). Để rút ngắn thời gian thiếu máu, chúng tôi thả cặp ĐMC trƣớc khi đóng NP, đuổi khí qua kim gốc ĐMC.Không có trƣờng hợp nào bị block nhĩ thất hay rung thất trong giai đoạn này. NP đƣợc đóng 2 lớp bằng chỉ prolene 5- 0. Sau khi thả thắt TMC trên, tim đƣợc làm đầy và cầm máu kỹ. Quy trình còn lại giống nhƣ phẫu thuật nội soi hỗ trợ. Thời gian chạy máy lần lƣợt là 210 phút và 132 phút, thời gian cặp ĐMC lần lƣợt là 128 phút và 106 phút cho BN đầu tiên và BN thứ hai.Cả 2 BN đƣợc rút nội khí quản sớm (lần lƣợt 8h và11 giờ sau mổ), thời gian nằm hồi sức < 1 ngày. Từ ngày thứ 4 sau mổ, cả 2 BN không cần dùng thuốc giảm đau và ra viện sau mổ 7 ngày. Siêu âm tim qua thành ngực trƣớc khi ra viện cho thấy cả 2 BN có TLN đã đƣợc vá kín, VHL kín hoặc hở rất nhẹ, Dd còn 35mm (so với PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG ROBOT HỖ TRỢ SỬA BỆNH THÔNG SÀN NHĨ THẤT BÁN PHẦN... 47 49) ở BN thứ nhất và 35mm (so với 40) ở BN thứ hai. Không có biến chứng liên quan phẫu thuật (xẹp phổi, liệt hoành, biến chứng mạch máu ngoại vi). Khám lại sau 3 tháng, cả 2 BN đều không còn triệu chứng trƣớc mổ, không có biến chứng về mạch máu đùi. Gia đình và ngƣời bệnh hoàn toàn hài lòng về kết quả cuộc mổ. BÀN LUẬN Ứng dụng của phẫu thuật NSTB trong điều trị các bệnh TBS còn rất hạn chế, đặc biệt ở trẻ nhỏ. NSTB mới chỉ chủ yếu đƣợc áp dụng trong vá TLN lỗ thứ phát và TLT quanh màng. [2,3]. Cho tới thời điểm nghiên cứu của chúng tôi, Changqing Gao cùng cộng sự là tác giả đầu tiên và duy nhất công bố ứng dụng thành công phƣơng pháp NSTB có sử dụng hệ thống robot Da Vinci SI cho 3 BN TSNT bán phần; cả 3 BN này đều là ngƣời trƣởng thành, tuổi từ 24-33.[1] Hình 3, (A,B): BN thứ nhất sau mổ 3 tháng và (C): BN thứ hai trước khi ra viện. Phẫu thuật nội soi tim ở trẻ nhỏ có một số điểm khác biệt so với BN trƣởng thành, cụ thể là: (1) ĐM đùi nhỏ và hay có phản xạ co thắt làm tăng nguy cơ thiếu máu chi dƣới sau mổ, (2) phẫu trƣờng nhỏ, hẹp khiến thao tác trong mổ khó khăn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, để giảm nguy cơ thiếu máu chi dƣới sau mổ, chúng tôi sử dụng đoạn mạch nhân tạo Dacron số 6 nối tận bên với ĐM đùi chung của BN, đầu còn lại của mạch nhân tạo đƣợc nối với đƣờng ĐM của hệ thống tim phổi máy. Vì áp lực đƣờng ĐM của cả 2 BN đều bị tăng cao ngay khi bắt đầu chạy máy, một đƣờng ĐM phụ cho ĐM đùi bên đối diện đƣợc lựa chọn với mục đích giảm áp. Chúng tôi chọn cannula ĐM để đặt trực tiếp có kích thƣớc nhỏ hơn 4F so với kích thƣớc tính theo cân nặng của BN (10F và 12F so với 14F và 16F tƣơng ứng với từng BN). Với cách thiết lập cannula ĐM này, không có BN nào có biểu hiện thiếu máu chi dƣới nay sau mổ và không có biến chứng mạch máu đùi đƣợc ghi nhận cho tới thời điểm khám lại sau mổ 3 tháng. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 48 Trong một số trƣờng hợp, giãn vòng van do thất trái giãn lớn là cơ chế quan trọng gây hở VHL bên cạnh cleft lá trƣớc. Ở những trƣờng hợp này, việc thu hẹp vòng van là cần thiết để giữ van kín. Do không thể đặt vòng van ở trẻ nhỏ, chúng tôi khâu thu hẹp vòng van lá sau bằng các mũi rời có đệm pledget. Kết quả sửa van sau mổ rất khả quan. Một khác biệt so với tác giả Changqing Gao đó là chúng tôi giữ cho lỗ xoang vành vẫn nằm ở NP trong khi tác giả này chuyển lỗ xoang vành về nhĩ trái.1Với cách khâu bề mặt chúng tôi không gặp rối loạn nhịp nào sau mổ. Nhờ quen hơn với phẫu thuật NSTB (vá TLN, TLT, cắt u nhầy nhĩ, cắt màng ngăn nhĩ trái), chúng tôi đã rút ngắn đƣợc khá nhiều thời gian chạy máy và thời gian clamp ĐMC ở BN thứ hai so với BN thứ nhất. KẾT LUẬN Phẫu thuật NSTB không robot hỗ trợ có đƣợc áp dụng một cách an toàn và hiệu quả ở trẻ nhỏ, không chỉ trong việc sửa chữa những bệnh lý đơn giản (nhƣ: vá TLN thứ phát, cắt màng ngăn nhĩ trái) mà còn sửa chữa những tổn thƣơng phức tạp hơn nhƣ bệnh TSNT bán phần. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Gao C, Yang M, Xiao C, et al. Totally robotic repair of atrioventricular septal defect in the adult. Journal of cardiothoracic surgery. 2015;10:156. 2. Xiao C, Gao C, Yang M, et al. Totally robotic atrial septal defect closure: 7-year single-institution experience and follow-up. Interactive cardiovascular and thoracic surgery. 2014;19(6):933-937. 3. Gao C, Yang M, Wang G, et al. Totally endoscopic robotic ventricular septal defect repair in the adult. The Journal of thoracic and cardiovascular surgery. 2012;144(6):1404-1407.
File đính kèm:
phau_thuat_noi_soi_toan_bo_khong_robot_ho_tro_sua_benh_thong.pdf

