Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân
Phẫu thuật nội soi toàn bộ (NSTB) đã đƣợc
ứng dụng trong điều trị một số bệnh lý tim bẩm
sinh. Chúng tôi báo cáo 13 trƣờng hợp đóng
thông liên nhĩ (TLN) sử dụng phƣơng pháp
NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. Thiết lập
tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi, cannula ĐM đùi
trực tiếp hoặc gián tiếp; cannula TMC trên và
dƣới theo phƣơng pháp Seldinger. Đặt 3 trocar
5mm và 1 trocar 12mm, chỉ thắt TMC trên, làm
đầy khoang màng phổi bằng CO2, tim đập trong
quá trính mổ. 12 bệnh nhân TLN lỗ thứ phát
(trong đó có 2 bệnh nhân bịt dù thất bại), 1 bệnh
nhân TLN kèm tĩnh mạch phổi (TMP) lạc chỗ
bán phần. Tất cả TLN đƣợc đóng bằng miếng vá
nhân tạo, khâu vắt, TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng
hầm dẫn về nhĩ trái (NT).
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân
PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 3 PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ Ở 13 BỆNH NHÂN Đặng Quang Huy*, Lê Thị Thuỷ*, Nguyễn Công Hựu*, Lê Ngọc Thành* TÓM TẮT Phẫu thuật nội soi toàn bộ (NSTB) đã đƣợc ứng dụng trong điều trị một số bệnh lý tim bẩm sinh. Chúng tôi báo cáo 13 trƣờng hợp đóng thông liên nhĩ (TLN) sử dụng phƣơng pháp NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. Thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi, cannula ĐM đùi trực tiếp hoặc gián tiếp; cannula TMC trên và dƣới theo phƣơng pháp Seldinger. Đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 12mm, chỉ thắt TMC trên, làm đầy khoang màng phổi bằng CO2, tim đập trong quá trính mổ. 12 bệnh nhân TLN lỗ thứ phát (trong đó có 2 bệnh nhân bịt dù thất bại), 1 bệnh nhân TLN kèm tĩnh mạch phổi (TMP) lạc chỗ bán phần. Tất cả TLN đƣợc đóng bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt, TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng hầm dẫn về nhĩ trái (NT). Không có biến chứng liên quan phẫu thuật và tử vong sau mổ. Thời gian mổ và thời gian chạy máy trung bính lần lƣợt là 281,5 ± 44,9 (phút) và 161,8 ± 32,7 (phút). Bệnh nhân đƣợc rút nội khì quản trong vòng 4 giờ đầu, dẫn lƣu trong ngày đầu < 80ml. Sau 3 ngày bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau và trở về với sinh hoạt bính thƣờng sau mổ 1 tuần. Phẫu thuật NSTB vá TLN tim đập là phƣơng pháp an toàn, ngƣời bệnh hồi phục sớm sẹo mổ có giá trị thẩm mỹ cao đặc biệt ở phụ nữ và trẻ gái. Từ khóa: phẫu thuật tim nội soi, thông liên nhĩ, phẫu thuật tim đập, robot hỗ trợ SUMMARY I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thông liên nhĩ (TLN) là bệnh tim bẩm sinh (TBS) thƣờng gặp nhất, chiếm t 6-10 tổng số các dị tật TBS. Bệnh thƣờng diễn biến âm thầm dẫn tới suy tim, tăng áp lực động mạch phổi nặng. Hơn 20 năm trở lại đây, tim mạch can thiệp là lựa chọn hàng đầu tại hầu hết các quốc gia trên thế giới với nhiều ƣu điểm [1-3]. Mặc dù vậy vẫn còn nhiều dạng TLN không bịt đƣợc dù cũng nhƣ ngày càng có nhiều báo cáo về biến chứng lâu dài của bịt dù TLN khiến bệnh nhân phải mổ lại hoặc bị đe dọa tình mạng. Phẫu thuật đóng TLN qua đƣờng mổ cƣa dọc xƣơng ức và đƣờng mở ngực nhỏ có nội soi hỗ trợ cho thấy còn nhiều mặt hạn chế. Trên thế giới chƣa có nhiều báo cáo về mổ NSTB đóng TLN, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Tại Việt Nam chƣa có một công bố khoa học nào về việc áp dụng kỹ thuật mổ này. Chúng tôi báo cáo những kinh nghiệm ban đầu áp dụng dụng kỹ thuật NSTB sửa chữa bệnh TLN. II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU*1 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu Trong khoảng thời gian t tháng 5/2016 đến tháng 8/2016, 12 bệnh nhân TLN lỗ thứ phát đơn thuần và 1 bệnh nhân TLN kèm theo TMP lạc chỗ bán phần đƣợc lựa chọn và điều trị bằng phƣơng pháp phẫu thuật NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. Đối tƣợng lựa chọn bao gồm cả ngƣời lớn và trẻ nhỏ với những tiêu chuẩn lựa chọn gồm: TLN lỗ thứ phát đơn thuần, TLN kèm theo TMP lạc chỗ bán phần, TLN thể xoang tĩnh mạch, TLN kèm theo sửa VBL. Tất cả bệnh nhân đƣợc siêm âm doppler kiểm tra tính trạng động mạch chậu đùi trƣớc mổ. Những trƣờng hợp xơ vữa hẹp động mạch chậu đùi, kìch thƣớc động mạch đùi quá nhỏ không thiết lập đƣợc tuần hoàn ngoại vi bị loại ra khỏi nghiên cứu. Bệnh nhân TLN lỗ tiên phát hoặc TLN kèm bệnh lý khác không đƣợc lựa chọn. * Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Thành Ngày nhận bài: 15/10/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/11/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Bùi Đức Phú PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 4 Bảng 1: Các thông số nhân trắc học và thông số trƣớc mổ Tuổi (năm) 18,2 ± 9,5 (4 – 33) Giới (nam/nữ) 3/10 Cân nặng (kg) 38,73 ± 17,53 (14,5 – 70) Diện tìch da (m2) 1,23 ± 0,37 (0,66 – 1,85) Loại bệnh TLN thứ phát đơn thuần 12 TLN kèm TMP lạc chỗ bán phần 1 ĐK lỗ thông (mm) 32,6 ± 8,4 (16 - 43) Áp lực ĐMP (mmHg) 44,6 ± 7,7 (31 – 55) Đƣờng kình TP (mm) 35,6 ± 10,7 (14 – 52) Nguyên nhân chỉ định phẫu thuật Bịt dù thất bại 2 Không có gờ 5 Gờ ngắn 5 TMP lạc chỗ 1 Các thông số nhân trắc học (tuổi, cân nặng, diện tìch da, kìch thƣớc lỗ thông) trƣớc mổ, các đặc điểm về bệnh học và nguyên nhân chỉ định mổ đƣợc trính bày trong Bảng 1. Phƣơng pháp phẫu thuật đƣợc hội đồng khoa học bệnh viện thông qua và đƣợc sự đồng thuận của gia đính bệnh nhân. 2.2. Phƣơng pháp phẫu thuật Bệnh nhân đƣợc gây mê bằng ống nội khì quản một nòng. Bác sĩ gây mê đặt catheter tĩnh mạch trung ƣơng vào TM cảnh trong trái và đặt s n một kim luồn vào TM cảnh trong phải, tất cả đƣợc thực hiện vô trùng. n . A Cannu a ng mạch ùi ư c thiết ập gián tiếp qua m t oạn mạch nhân tạo Dacron hoặc PTFE , B TMC trên và TMC dư i ư c d n ưu qua TM cảnh trong phải và TM ùi theo k thuật Se dinger và C cannu a ng mạch ùi hai bên ặt trực tiếp. Bệnh nhân đƣợc đặt tƣ thế nằm nghiêng trái 20-30 , hai tay xuôi theo thân ngƣời, đầu nghiêng về phìa bên trái bộc lộ kim luồn đã đƣợc đặt s n. Phẫu thuật viên v s n vị trì dự định đặt các lỗ trocar. Để thiết lập tuần hoàn ngoại vi chúng tôi tạo một đƣờng rạch dài 2cm ngang ở nếp bẹn bên phải, bộc lộ ĐM đùi chung và TM đùi. Ở những bệnh nhân có cân nặng > 15kg, chúng tôi thiết lập đƣờng động mạch một cách gián tiếp vào ĐM đùi chung qua một đoạn mạch nhân tạo (Dacron hoặc PTFE). Cannula TMC trên và TMC dƣới đƣợc đặt qua TM cảnh trong phải và TM đùi bằng phƣơng pháp Sheldinger. Trƣớc khi quyết định mở ngực, chúng tôi test thử đƣờng động mạch bằng cách chạy máy thử, nếu với toàn bộ lƣu lƣợng mà áp lực ĐM < 220mmHg thí chấp nhận đƣợc. Nếu áp lực đƣờng động mạch tăng quá 220mmHg s đặt một đƣờng động mạch phụ đùi bên trái với kìch thƣớc cannula nhỏ hơn 4F so với C PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 5 cân nặng bệnh nhân. Ở những bệnh nhân nhỏ tuổi, cân nặng < 15kg, chúng tôi đặt cannula trực tiếp vào ĐM đùi hai bên, chủ động lựa chọn kìch thƣớc cannula nhỏ hơn 2-4F so với cân nặng của bệnh nhân. Đặt 4 trocar tại các vị trì đã đánh dấu s n, cụ thể là: 01 trocar 12mm tại khoang liên sƣờn (KLS) V đƣờng nách trƣớc là tay làm việc chình (cho các dụng cụ: phẫu tìch, kím kẹp kim, dao điện, máy hút bỏ), 01 trocar 5mm tại KLS III đƣờng nách giữa là tay làm việc phụ (cho phẫu tìch), 01 trocar 5mm tại KLS V đƣờng nách giữa (cho đèn nội soi) và 01 trocar 5mm tại KLS VI đƣờng nách giữa (cho đƣờng hút máu về). Sau khi vào đến khoang màng phổi, hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể bắt đầu hoạt động, nhiệt độ thực quản đƣợc hạ dần xuống 32 C, màng tim đƣợc mở song song và phìa trƣớc so với thần kinh hoành 1.5-2cm. n . K thuật vá TLN NSTB. (A) Nhĩ phải ư c mở sau khi àm ầy khoang màng phổi và màng tim bằng CO2, ỗ TLN thứ phát mũi tên , ống màu trắng à ầu cannu a TMC dư i; (B,C,D,E quá trình vá ỗ TLN bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt; F Kiểm tra miếng vá trư c khi óng nhĩ phải Khoang màng phổi và màng tim đƣợc làm đầy bởi khì CO2. Mở nhĩ phải (NP) dọc theo rãnh liên nhĩ sau khi đã thắt TMC trên và bệnh nhân ở tƣ thế Trendelenburg. Tim đập liên tục trong suốt quá trính mổ, máu về qua xoang vành, các lỗ đổ trực tiếp trên thành NP và lỗ TMC dƣới; đƣờng hút qua trocar 4 giúp tạo phẫu trƣờng sạch máu. Các mốc giải phẫu cần xác định trong quá trính mổ gồm: lỗ van ba lá, lỗ xoang vành, lỗ TMC dƣới và các lỗ TMP phải. Tất cả lỗ thông đƣợc đóng bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt. TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng hầm trong tim dẫn máu về nhĩ trái qua lỗ TLN. Đƣờng mở NP đƣợc đóng hai lớp. Tim đƣợc làm đầy sau khi thả thắt TMC trên, tƣ thế đầu bằng và kiểm tra cầm máu kỹ, màng tim đƣợc đóng mũi rời. Ng ng tuần hoàn ngoài cơ thể sau khi đặt 01 dẫn lƣu màng tim và 01 dẫn lƣu màng phổi. Quy trính còn lại giống nhƣ phẫu thuật nội soi đơn thuần. Tất cả bệnh nhân sau mổ đƣợc kiểm tra bằng siêu âm qua thành ngực và siêu âm doppler mạch máu kiểm tra trƣớc khi ra viện. 2.3. Theo d i sau mổ: Bệnh nhân đƣợc hẹn khám lại sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. Bệnh nhân đƣợc khám, đánh giá tính trạng sẹo mổ, sự cân đối giữa hai A B C D E F PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 6 ngực, tính trạng dị cảm quanh vị trì vết mổ ngực và đùi, sự hài lòng của gia đính và bệnh nhân về vị trì và kìch thƣớc sẹo mổ. Bệnh nhân đƣợc siêu âm tim qua thành ngực và siêu âm doppler mạch kiểm tra. 2.4. Phân tích số iệu: Số liệu đƣợc tình ra trung bính ± phƣơng sai (S.D.) cho những biến định lƣợng và tình ra số lƣợng với tỉ lệ phần trăm cho những biến định tình. Số liệu đƣợc quản lý và phân tìch bởi phần mềm SPSS 14.0. III. KẾT QUẢ Không có trƣờng hợp nào tử vong trong thời gian nằm viện. Không có trƣờng hợp nào cần mở rộng vết mổ hoặc chuyển cƣa xƣơng ức. Tất cả bệnh nhân đƣợc thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi. Cannula ĐM đƣợc đặt gián tiếp qua một đoạn mạch Dacron ở 12 bệnh nhân (8 bệnh nhân trƣởng thành sử dụng đoạn mạch số 8 và 4 bệnh nhân trẻ lớn > 15kg sử dụng đoạn mạch số 6). Trong 4 bệnh nhân sử dụng đoạn mạch số 6, 1 trƣờng hợp trẻ nữ 10 tuổi nặng 36kg, sau khi chạy máy bị tăng áp lực động mạch > 220mmHg, chúng tôi đặt thêm đƣơng ĐM phụ bằng cannula 12F trực tiếp vào ĐM đùi trái. Một trƣờng hợp trẻ nữ 14,5kg, chúng tôi chủ động đặt trực tiếp cannula ĐM đùi hai bên. Hai trƣờng hợp trẻ nhỏ 16kg và 14,5kg phải sử dụng cannula ĐM để đặt cho TMC dƣới. Chi tiết về thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể đƣợc trính bày trong Bảng 2. Bảng 2: Các thông số về thiết ập tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi Cannula ĐM đùi (n=13) Qua mạch Dacron số 8 8 Qua mạch Dacron số 6 3 Qua mạch Dacron số 6 và cannula trực tiếp ĐM đùi trái 1 Cannula trực tiếp ĐM đùi hai bên 1 Kìch thƣớc cannula TMC trên (F) 17,4 ± 2,8 (14 – 21) Kìch thƣớc cannula TMC dƣới (F) 19,2 ± 2,4 (15 – 21) Thời gian phẫu thuật và thời gian chạy máy trung bính cho vá TLN đơn thuần lần lƣợt là 275 ± 39,9 phút và 158,3 ± 31,4 phút. Tất cả bệnh nhân không cần dùng thuốc vận mạch sau ng ng hệ thống tim phổi máy và đƣợc rút máy thở trong vòng 5 giờ. Không có bệnh nhân nào có biến chứng về thần kinh sau mổ. Sau 3-4 ngày bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau, ngƣời bệnh có thể trở lại sinh hoạt bính thƣờng sau mổ 7 ngày. Tất cả tổn thƣơng đƣợc sửa chữa thành công. Bệnh nhân và gia đính đều rất hài lòng về hiệu quả và tình thẩm mỹ của sẹo mổ. Biểu đồ 1: Biến thiên PCO2 trong máu ng mạch qua các ần àm xét nghiệm khí máu PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 7 Bảng 3: Các thông số trong và sau mổ TLN đơn thuần (n=12) TLN kết hợp TMP lạc chỗ (n=1) Khì máu động mạch sau mổ PCO2 32,58 ± 5,7 38,1 Lactat 3,62 ± 1,67 4,6 pH 7,47 ± 0,042 7,346 Beb 1,07 ± 3,61 -3,6 Thời gian mổ (phút) 275 ± 39,9 (210 – 330) 360 Thời gian chạy máy (phút) 158,3 ± 31,4 (115 – 220) 205 Thời gian thở máy (giờ) 4,71 ± 2,67 4 Thời gian nằm hồi sức (giờ) 18,3 ± 2,8 18 Dẫn lƣu trong 6 giờ đầu (ml) 39,1 ± 28,1 120 Dẫn lƣu trong 24 giờ đầu (ml) 71,8 ± 35,2 150 Thời điểm không cần dùng thuốc giảm đau sau mổ (ngày) 3,3 ± 0,5 3 Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) 8,5 ± 2,3 9 Biến chứng 0 0 IV. BÀN LUẬN TLN là một trong những bệnh TBS thƣờng gặp nhất, tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng t 0,5- 2,5/1000 trẻ sinh ra sống trong khoảng thời gian t năm 1945 đến 2009 [4]. Nữ gặp nhiều hơn nam gấp 2 lần, bệnh thƣờng phát hiện ở tuổi trƣởng thành – độ tuổi đòi hỏi tình thẩm mỹ cao; do đó, nâng cao chất lƣợng điều trị bệnh TLN góp phần tăng hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Ngày nay phẫu thuật tim nội soi hỗ trợ vá TLN đã đƣợc ứng dụng rộng khắp trên thế giới ví tình đơn giản, hiệu quả cao và hầu nhƣ không có tai biến. Tuy vậy ngƣời bệnh vẫn phải chịu một đƣờng mở ngực, đau nhiều sau mổ do banh xƣơng sƣờn, sẹo mổ còn dài, mất cân bằng hai ngực Phẫu thuật NSTB có sự hỗ trợ của hệ thống robot Da Vinci ra đời khắc phục đƣợc tất cả những nhƣợc điểm kể trên của phƣơng pháp mổ cũ; tuy nhiên, một khó khăn rất lớn mà tất cả các bệnh viện gặp phải đó là chi phì đào tạo và chi phì cho một ca mổ rất lớn. Với sự phát triển của kỹ thuật, phẫu thuật NSTB không cần hỗ trợ của hệ thống robot Da Vinci đã đi vào thực tế song chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi. Nhƣ chúng ta biết, phẫu thuật tim sử dụng hệ thống tim phổi máy gây tổn thƣơng các tổ chức thông qua việc hoạt hóa pha cấp của một chuỗi các men và gây kìch ứng tiểu cầu [5]. Thêm nữa, ng ng tim trong quá trính mổ gây thiếu máu cơ tim và hiện tƣợng tái tƣới máu sau mổ [6]. Để tránh tổn thƣơng tim do quá trính phẫu thuật, nhiều tác giả lựa chọn phẫu thuật tim đập; tuy vậy, nhiều tác giả vẫn thống nhất quan điểm rằng phẫu thuật tim đập rất ìt đƣợc áp dụng cho sửa chữa các dị tật bẩm sinh và đặc biệt phẫu thuật ở trẻ nhỏ do nhiều lý do: nhiều dị tật phức tạp đòi hỏi phải bộc lộ rõ và phẫu trƣờng nhỏ hẹp khó thao tác [5]. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 8 n 3. Kết quả sau mổ NSTB không có robot hỗ tr , tim ập. (A) Bệnh nhân nam 24 tuổi ngay sau mổ;(B Bệnh nhân nữ 7 tuổi sau mổ 1 tháng. Với kinh nghiệm phẫu thuật vá TLN nội soi hỗ trợ, tim đập cho hơn 80 trƣờng hợp, chúng tôi thực hiện vá TLN NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập t tháng 5/2016 với kết quả bƣớc đầu rất tốt. Tất cả bệnh nhân đƣợc theo dõi sau ra viện 1- 3 tháng. Chúng tôi đã phẫu thuật cho 5 bệnh nhân nhi và 8 bệnh nhân trƣởng thành, trong đó bệnh nhân có cân nặng nhỏ nhất là 14,5kg. Để phẫu thuật cho những bệnh nhân nhỏ tuổi này chúng tôi đã có những thay đổi về cách thức thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi (theo Bảng 2). Thời gian mổ (t lúc rạch da tới khi đóng da) trung bính và thời gian chạy máy trung bính lần lƣợt là 4-4,5 giờ và 2-2,5 giờ. Ngƣời bệnh thở máy trung bính 4 giờ, nằm hồi sức dƣới 1 ngày, lƣợng máu dẫn lƣu sau mổ giảm hẳn so với phƣơng pháp mổ nội soi hỗ trợ với trung bính 70ml trong 24 giờ đầu tiên, không bệnh nhân nào cần truyền máu sau mổ. Thông thƣờng với nội soi hỗ trợ, ngƣời bệnh bị hạn chế vận động tay phải trong nhiều tuần đầu sau mổ do đau và co cơ thành ngực. Với phƣơng pháp mổ NSTB thông qua các lỗ Trocar đƣờng kình t 5-12mm trên thành ngực ngƣời bệnh giảm đau sau mổ rất nhiều. Chúng tôi chỉ cần cho ngƣời bệnh sử dụng Morphine trong ngày đầu tại phòng hồi sức, những ngày sau tại bệnh phòng dùng giảm đau không steroid; trung bính sau ngày thứ 3 ngƣời bệnh không cần dùng thuốc giảm đau. Bệnh nhân có thể vận động tay phải bính thƣờng sau mổ 1 tuần. Nhiều tác giả ghi nhận xẹp phổi phải sau mổ với tỉ lệ 2,5-7,1 do thông khì một phổi trong quá trính mổ [5, 7, 8]. Chúng tôi lựa chọn thông khì hai phổi bằng nội khì quản một nòng do 40 đối tƣợng của chúng tôi là trẻ nhỏ, phƣơng pháp gây mê này khiến thời gian chạy máy của chúng tôi kéo dài hơn so với việc thông khì một phổi song giúp tránh đƣợc xẹp phổi sau mổ. Mặc dù không dùng kim hút gốc ĐMC, chúng tôi không gặp biến chứng về thần kinh do làm đầy liên tục khoang màng tim và màng phổi bằng CO2, tốc độ bơm CO2 đƣợc điều chỉnh dựa trên theo dõi PaCO2 trong máu liên tục (biểu đồ 1). Không trƣờng hợp nào có biến chứng mạch đùi sau mổ cũng nhƣ những thời điểm khám lại. V. KẾT LUẬN Phƣơng pháp phẫu thuật vá TLN NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập là phƣơng pháp hứa hẹn có thể triển khai rộng trong tƣơng lai gần góp phần nâng cao chất lƣợng điều trị bệnh tim bẩm sinh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Alobaidan, M., et al., Successful percutaneous closure of spiral atrial septal defect. Echo Res Pract, 2015. 2(1): p. K7-9. 2. Murakami, T., et al., Transcatheter closure of atrial septal defect protects from pulmonary edema: septal occluder device gradually reduces LR shunt. Heart Vessels, 2016. A B PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 9 3. Giardini, A., et al., Effect of transcatheter atrial septal defect closure in children on left ventricular diastolic function. Am J Cardiol, 2005. 95(10): p. 1255-7. 4. van der Linde, D., et al., Birth prevalence of congenital heart disease worldwide: a systematic review and meta-analysis. J Am Coll Cardiol, 2011. 58(21): p. 2241-7. 5. Ma, Z.S., et al., Totally thoracoscopic closure for atrial septal defect on perfused beating hearts. Eur J Cardiothorac Surg, 2012. 41(6): p. 1316-9. 6. Mo, A., et al., Efficacy and safety of on-pump beating heart surgery. Ann Thorac Surg, 2008. 86(6): p. 1914-8. 7. Wang, F., et al., Totally thoracoscopic surgical closure of atrial septal defect in small children. Ann Thorac Surg, 2011. 92(1): p. 200-3. 8. Liu, G., et al., Totally thoracoscopic surgery for the treatment of atrial septal defect without of the robotic Da Vinci surgical system. J Cardiothorac Surg, 2013. 8: p. 119.
File đính kèm:
phau_thuat_noi_soi_toan_bo_khong_co_robot_ho_tro_tim_dap_va.pdf

