Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân

Phẫu thuật nội soi toàn bộ (NSTB) đã đƣợc

ứng dụng trong điều trị một số bệnh lý tim bẩm

sinh. Chúng tôi báo cáo 13 trƣờng hợp đóng

thông liên nhĩ (TLN) sử dụng phƣơng pháp

NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. Thiết lập

tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi, cannula ĐM đùi

trực tiếp hoặc gián tiếp; cannula TMC trên và

dƣới theo phƣơng pháp Seldinger. Đặt 3 trocar

5mm và 1 trocar 12mm, chỉ thắt TMC trên, làm

đầy khoang màng phổi bằng CO2, tim đập trong

quá trính mổ. 12 bệnh nhân TLN lỗ thứ phát

(trong đó có 2 bệnh nhân bịt dù thất bại), 1 bệnh

nhân TLN kèm tĩnh mạch phổi (TMP) lạc chỗ

bán phần. Tất cả TLN đƣợc đóng bằng miếng vá

nhân tạo, khâu vắt, TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng

hầm dẫn về nhĩ trái (NT).

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân

Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ ở 13 bệnh nhân
PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 
 3 
PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG 
LIÊN NHĨ Ở 13 BỆNH NHÂN 
Đặng Quang Huy*, Lê Thị Thuỷ*, Nguyễn Công Hựu*, Lê Ngọc Thành* 
TÓM TẮT 
Phẫu thuật nội soi toàn bộ (NSTB) đã đƣợc 
ứng dụng trong điều trị một số bệnh lý tim bẩm 
sinh. Chúng tôi báo cáo 13 trƣờng hợp đóng 
thông liên nhĩ (TLN) sử dụng phƣơng pháp 
NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. Thiết lập 
tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi, cannula ĐM đùi 
trực tiếp hoặc gián tiếp; cannula TMC trên và 
dƣới theo phƣơng pháp Seldinger. Đặt 3 trocar 
5mm và 1 trocar 12mm, chỉ thắt TMC trên, làm 
đầy khoang màng phổi bằng CO2, tim đập trong 
quá trính mổ. 12 bệnh nhân TLN lỗ thứ phát 
(trong đó có 2 bệnh nhân bịt dù thất bại), 1 bệnh 
nhân TLN kèm tĩnh mạch phổi (TMP) lạc chỗ 
bán phần. Tất cả TLN đƣợc đóng bằng miếng vá 
nhân tạo, khâu vắt, TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng 
hầm dẫn về nhĩ trái (NT). Không có biến chứng 
liên quan phẫu thuật và tử vong sau mổ. Thời 
gian mổ và thời gian chạy máy trung bính lần 
lƣợt là 281,5 ± 44,9 (phút) và 161,8 ± 32,7 (phút). 
Bệnh nhân đƣợc rút nội khì quản trong vòng 4 
giờ đầu, dẫn lƣu trong ngày đầu < 80ml. Sau 3 
ngày bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau 
và trở về với sinh hoạt bính thƣờng sau mổ 1 
tuần. Phẫu thuật NSTB vá TLN tim đập là 
phƣơng pháp an toàn, ngƣời bệnh hồi phục sớm 
sẹo mổ có giá trị thẩm mỹ cao đặc biệt ở phụ nữ 
và trẻ gái. 
Từ khóa: phẫu thuật tim nội soi, thông liên 
nhĩ, phẫu thuật tim đập, robot hỗ trợ 
SUMMARY 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thông liên nhĩ (TLN) là bệnh tim bẩm sinh 
(TBS) thƣờng gặp nhất, chiếm t 6-10 tổng số 
các dị tật TBS. Bệnh thƣờng diễn biến âm thầm 
dẫn tới suy tim, tăng áp lực động mạch phổi nặng. 
Hơn 20 năm trở lại đây, tim mạch can thiệp là lựa 
chọn hàng đầu tại hầu hết các quốc gia trên thế 
giới với nhiều ƣu điểm [1-3]. Mặc dù vậy vẫn còn 
nhiều dạng TLN không bịt đƣợc dù cũng nhƣ 
ngày càng có nhiều báo cáo về biến chứng lâu dài 
của bịt dù TLN khiến bệnh nhân phải mổ lại hoặc 
bị đe dọa tình mạng. Phẫu thuật đóng TLN qua 
đƣờng mổ cƣa dọc xƣơng ức và đƣờng mở ngực 
nhỏ có nội soi hỗ trợ cho thấy còn nhiều mặt hạn 
chế. Trên thế giới chƣa có nhiều báo cáo về mổ 
NSTB đóng TLN, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Tại Việt 
Nam chƣa có một công bố khoa học nào về việc 
áp dụng kỹ thuật mổ này. Chúng tôi báo cáo 
những kinh nghiệm ban đầu áp dụng dụng kỹ 
thuật NSTB sửa chữa bệnh TLN. 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU*1 
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 
Trong khoảng thời gian t tháng 5/2016 đến 
tháng 8/2016, 12 bệnh nhân TLN lỗ thứ phát đơn 
thuần và 1 bệnh nhân TLN kèm theo TMP lạc 
chỗ bán phần đƣợc lựa chọn và điều trị bằng 
phƣơng pháp phẫu thuật NSTB không có robot hỗ 
trợ, tim đập. 
Đối tƣợng lựa chọn bao gồm cả ngƣời lớn và 
trẻ nhỏ với những tiêu chuẩn lựa chọn gồm: 
TLN lỗ thứ phát đơn thuần, TLN kèm theo TMP 
lạc chỗ bán phần, TLN thể xoang tĩnh mạch, 
TLN kèm theo sửa VBL. Tất cả bệnh nhân đƣợc 
siêm âm doppler kiểm tra tính trạng động mạch 
chậu đùi trƣớc mổ. Những trƣờng hợp xơ vữa 
hẹp động mạch chậu đùi, kìch thƣớc động mạch 
đùi quá nhỏ không thiết lập đƣợc tuần hoàn 
ngoại vi bị loại ra khỏi nghiên cứu. Bệnh nhân 
TLN lỗ tiên phát hoặc TLN kèm bệnh lý khác 
không đƣợc lựa chọn. 
* Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E 
Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Thành 
Ngày nhận bài: 15/10/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/11/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 4 
Bảng 1: 
Các thông số nhân trắc học và thông số trƣớc mổ 
Tuổi (năm) 18,2 ± 9,5 (4 – 33) 
Giới (nam/nữ) 3/10 
Cân nặng (kg) 38,73 ± 17,53 (14,5 – 70) 
Diện tìch da (m2) 1,23 ± 0,37 (0,66 – 1,85) 
Loại bệnh 
 TLN thứ phát 
đơn thuần 
12 
TLN kèm TMP 
lạc chỗ bán phần 
1 
ĐK lỗ thông (mm) 32,6 ± 8,4 (16 - 43) 
Áp lực ĐMP (mmHg) 44,6 ± 7,7 (31 – 55) 
Đƣờng kình TP (mm) 35,6 ± 10,7 (14 – 52) 
Nguyên nhân chỉ định phẫu thuật 
 Bịt dù thất bại 2 
Không có gờ 5 
Gờ ngắn 5 
TMP lạc chỗ 1 
Các thông số nhân trắc học (tuổi, cân nặng, 
diện tìch da, kìch thƣớc lỗ thông) trƣớc mổ, các 
đặc điểm về bệnh học và nguyên nhân chỉ định 
mổ đƣợc trính bày trong Bảng 1. Phƣơng pháp 
phẫu thuật đƣợc hội đồng khoa học bệnh viện 
thông qua và đƣợc sự đồng thuận của gia đính 
bệnh nhân. 
2.2. Phƣơng pháp phẫu thuật 
Bệnh nhân đƣợc gây mê bằng ống nội khì 
quản một nòng. Bác sĩ gây mê đặt catheter tĩnh 
mạch trung ƣơng vào TM cảnh trong trái và đặt 
s n một kim luồn vào TM cảnh trong phải, tất cả 
đƣợc thực hiện vô trùng. 
 n . A Cannu a ng mạch ùi ư c thiết ập gián tiếp qua m t oạn mạch nhân tạo Dacron hoặc PTFE , 
 B TMC trên và TMC dư i ư c d n ưu qua TM cảnh trong phải và TM ùi theo k thuật Se dinger và 
 C cannu a ng mạch ùi hai bên ặt trực tiếp. 
Bệnh nhân đƣợc đặt tƣ thế nằm nghiêng trái 
20-30 , hai tay xuôi theo thân ngƣời, đầu nghiêng 
về phìa bên trái bộc lộ kim luồn đã đƣợc đặt s n. 
Phẫu thuật viên v s n vị trì dự định đặt các lỗ 
trocar. 
Để thiết lập tuần hoàn ngoại vi chúng tôi tạo 
một đƣờng rạch dài 2cm ngang ở nếp bẹn bên 
phải, bộc lộ ĐM đùi chung và TM đùi. Ở những 
bệnh nhân có cân nặng > 15kg, chúng tôi thiết lập 
đƣờng động mạch một cách gián tiếp vào ĐM đùi 
chung qua một đoạn mạch nhân tạo (Dacron hoặc 
PTFE). Cannula TMC trên và TMC dƣới đƣợc 
đặt qua TM cảnh trong phải và TM đùi bằng 
phƣơng pháp Sheldinger. Trƣớc khi quyết định 
mở ngực, chúng tôi test thử đƣờng động mạch 
bằng cách chạy máy thử, nếu với toàn bộ lƣu 
lƣợng mà áp lực ĐM < 220mmHg thí chấp nhận 
đƣợc. Nếu áp lực đƣờng động mạch tăng quá 
220mmHg s đặt một đƣờng động mạch phụ đùi 
bên trái với kìch thƣớc cannula nhỏ hơn 4F so với 
C 
PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 
 5 
cân nặng bệnh nhân. Ở những bệnh nhân nhỏ 
tuổi, cân nặng < 15kg, chúng tôi đặt cannula trực 
tiếp vào ĐM đùi hai bên, chủ động lựa chọn kìch 
thƣớc cannula nhỏ hơn 2-4F so với cân nặng của 
bệnh nhân. 
Đặt 4 trocar tại các vị trì đã đánh dấu s n, cụ 
thể là: 01 trocar 12mm tại khoang liên sƣờn 
(KLS) V đƣờng nách trƣớc là tay làm việc chình 
(cho các dụng cụ: phẫu tìch, kím kẹp kim, dao 
điện, máy hút bỏ), 01 trocar 5mm tại KLS III 
đƣờng nách giữa là tay làm việc phụ (cho phẫu 
tìch), 01 trocar 5mm tại KLS V đƣờng nách giữa 
(cho đèn nội soi) và 01 trocar 5mm tại KLS VI 
đƣờng nách giữa (cho đƣờng hút máu về). Sau 
khi vào đến khoang màng phổi, hệ thống tuần 
hoàn ngoài cơ thể bắt đầu hoạt động, nhiệt độ 
thực quản đƣợc hạ dần xuống 32 C, màng tim 
đƣợc mở song song và phìa trƣớc so với thần 
kinh hoành 1.5-2cm. 
 n . K thuật vá TLN NSTB. (A) Nhĩ phải ư c mở sau khi àm ầy khoang màng phổi và màng tim bằng 
CO2, ỗ TLN thứ phát mũi tên , ống màu trắng à ầu cannu a TMC dư i; 
(B,C,D,E quá trình vá ỗ TLN bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt; 
 F Kiểm tra miếng vá trư c khi óng nhĩ phải 
Khoang màng phổi và màng tim đƣợc làm 
đầy bởi khì CO2. Mở nhĩ phải (NP) dọc theo rãnh 
liên nhĩ sau khi đã thắt TMC trên và bệnh nhân ở 
tƣ thế Trendelenburg. Tim đập liên tục trong suốt 
quá trính mổ, máu về qua xoang vành, các lỗ đổ 
trực tiếp trên thành NP và lỗ TMC dƣới; đƣờng 
hút qua trocar 4 giúp tạo phẫu trƣờng sạch máu. 
Các mốc giải phẫu cần xác định trong quá trính 
mổ gồm: lỗ van ba lá, lỗ xoang vành, lỗ TMC 
dƣới và các lỗ TMP phải. Tất cả lỗ thông đƣợc 
đóng bằng miếng vá nhân tạo, khâu vắt. TMP lạc 
chỗ đƣợc tạo đƣờng hầm trong tim dẫn máu về 
nhĩ trái qua lỗ TLN. 
Đƣờng mở NP đƣợc đóng hai lớp. Tim đƣợc 
làm đầy sau khi thả thắt TMC trên, tƣ thế đầu 
bằng và kiểm tra cầm máu kỹ, màng tim đƣợc 
đóng mũi rời. Ng ng tuần hoàn ngoài cơ thể sau 
khi đặt 01 dẫn lƣu màng tim và 01 dẫn lƣu màng 
phổi. Quy trính còn lại giống nhƣ phẫu thuật nội 
soi đơn thuần. Tất cả bệnh nhân sau mổ đƣợc 
kiểm tra bằng siêu âm qua thành ngực và siêu âm 
doppler mạch máu kiểm tra trƣớc khi ra viện. 
2.3. Theo d i sau mổ: 
Bệnh nhân đƣợc hẹn khám lại sau mổ 1 
tháng, 3 tháng, 6 tháng. Bệnh nhân đƣợc khám, 
đánh giá tính trạng sẹo mổ, sự cân đối giữa hai 
A B C 
D E F 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 6 
ngực, tính trạng dị cảm quanh vị trì vết mổ 
ngực và đùi, sự hài lòng của gia đính và bệnh 
nhân về vị trì và kìch thƣớc sẹo mổ. Bệnh nhân 
đƣợc siêu âm tim qua thành ngực và siêu âm 
doppler mạch kiểm tra. 
2.4. Phân tích số iệu: 
Số liệu đƣợc tình ra trung bính ± phƣơng sai 
(S.D.) cho những biến định lƣợng và tình ra số 
lƣợng với tỉ lệ phần trăm cho những biến định 
tình. Số liệu đƣợc quản lý và phân tìch bởi phần 
mềm SPSS 14.0. 
III. KẾT QUẢ 
Không có trƣờng hợp nào tử vong trong thời 
gian nằm viện. Không có trƣờng hợp nào cần mở 
rộng vết mổ hoặc chuyển cƣa xƣơng ức. 
Tất cả bệnh nhân đƣợc thiết lập tuần hoàn 
ngoài cơ thể ngoại vi. Cannula ĐM đƣợc đặt gián 
tiếp qua một đoạn mạch Dacron ở 12 bệnh nhân 
(8 bệnh nhân trƣởng thành sử dụng đoạn mạch số 
8 và 4 bệnh nhân trẻ lớn > 15kg sử dụng đoạn 
mạch số 6). Trong 4 bệnh nhân sử dụng đoạn 
mạch số 6, 1 trƣờng hợp trẻ nữ 10 tuổi nặng 
36kg, sau khi chạy máy bị tăng áp lực động mạch 
> 220mmHg, chúng tôi đặt thêm đƣơng ĐM phụ 
bằng cannula 12F trực tiếp vào ĐM đùi trái. Một 
trƣờng hợp trẻ nữ 14,5kg, chúng tôi chủ động đặt 
trực tiếp cannula ĐM đùi hai bên. Hai trƣờng hợp 
trẻ nhỏ 16kg và 14,5kg phải sử dụng cannula ĐM 
để đặt cho TMC dƣới. Chi tiết về thiết lập tuần 
hoàn ngoài cơ thể đƣợc trính bày trong Bảng 2. 
Bảng 2: 
Các thông số về thiết ập tuần hoàn ngoài cơ 
thể ngoại vi 
Cannula ĐM đùi (n=13) 
 Qua mạch Dacron số 8 8 
Qua mạch Dacron số 6 3 
Qua mạch Dacron số 6 và 
cannula trực tiếp ĐM đùi trái 
1 
Cannula trực tiếp ĐM đùi hai bên 1 
Kìch thƣớc cannula TMC trên (F) 17,4 ± 2,8 
(14 – 21) 
Kìch thƣớc cannula TMC dƣới (F) 19,2 ± 2,4 
(15 – 21) 
Thời gian phẫu thuật và thời gian chạy máy 
trung bính cho vá TLN đơn thuần lần lƣợt là 
275 ± 39,9 phút và 158,3 ± 31,4 phút. Tất cả 
bệnh nhân không cần dùng thuốc vận mạch sau 
ng ng hệ thống tim phổi máy và đƣợc rút máy 
thở trong vòng 5 giờ. Không có bệnh nhân nào 
có biến chứng về thần kinh sau mổ. Sau 3-4 
ngày bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm 
đau, ngƣời bệnh có thể trở lại sinh hoạt bính 
thƣờng sau mổ 7 ngày. 
Tất cả tổn thƣơng đƣợc sửa chữa thành công. 
Bệnh nhân và gia đính đều rất hài lòng về hiệu 
quả và tình thẩm mỹ của sẹo mổ. 
Biểu đồ 1: Biến thiên PCO2 trong máu ng mạch qua các ần àm xét nghiệm khí máu 
PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 
 7 
Bảng 3: Các thông số trong và sau mổ 
 TLN đơn thuần 
(n=12) 
TLN kết hợp TMP 
lạc chỗ (n=1) 
Khì máu động mạch sau mổ 
 PCO2 32,58 ± 5,7 38,1 
Lactat 3,62 ± 1,67 4,6 
pH 7,47 ± 0,042 7,346 
Beb 1,07 ± 3,61 -3,6 
Thời gian mổ (phút) 275 ± 39,9 
(210 – 330) 
360 
Thời gian chạy máy (phút) 158,3 ± 31,4 
(115 – 220) 
205 
Thời gian thở máy (giờ) 4,71 ± 2,67 4 
Thời gian nằm hồi sức (giờ) 18,3 ± 2,8 18 
Dẫn lƣu trong 6 giờ đầu (ml) 39,1 ± 28,1 120 
Dẫn lƣu trong 24 giờ đầu (ml) 71,8 ± 35,2 150 
Thời điểm không cần dùng thuốc giảm đau sau mổ (ngày) 3,3 ± 0,5 3 
Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) 8,5 ± 2,3 9 
Biến chứng 0 0 
IV. BÀN LUẬN 
TLN là một trong những bệnh TBS thƣờng 
gặp nhất, tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng t 0,5-
2,5/1000 trẻ sinh ra sống trong khoảng thời gian 
t năm 1945 đến 2009 [4]. Nữ gặp nhiều hơn 
nam gấp 2 lần, bệnh thƣờng phát hiện ở tuổi 
trƣởng thành – độ tuổi đòi hỏi tình thẩm mỹ cao; 
do đó, nâng cao chất lƣợng điều trị bệnh TLN 
góp phần tăng hiệu quả trong công tác chăm sóc 
sức khỏe cộng đồng. 
Ngày nay phẫu thuật tim nội soi hỗ trợ vá 
TLN đã đƣợc ứng dụng rộng khắp trên thế giới ví 
tình đơn giản, hiệu quả cao và hầu nhƣ không có 
tai biến. Tuy vậy ngƣời bệnh vẫn phải chịu một 
đƣờng mở ngực, đau nhiều sau mổ do banh 
xƣơng sƣờn, sẹo mổ còn dài, mất cân bằng hai 
ngực Phẫu thuật NSTB có sự hỗ trợ của hệ 
thống robot Da Vinci ra đời khắc phục đƣợc tất 
cả những nhƣợc điểm kể trên của phƣơng pháp 
mổ cũ; tuy nhiên, một khó khăn rất lớn mà tất cả 
các bệnh viện gặp phải đó là chi phì đào tạo và 
chi phì cho một ca mổ rất lớn. Với sự phát triển 
của kỹ thuật, phẫu thuật NSTB không cần hỗ trợ 
của hệ thống robot Da Vinci đã đi vào thực tế 
song chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi. 
Nhƣ chúng ta biết, phẫu thuật tim sử dụng hệ 
thống tim phổi máy gây tổn thƣơng các tổ chức 
thông qua việc hoạt hóa pha cấp của một chuỗi 
các men và gây kìch ứng tiểu cầu [5]. Thêm nữa, 
ng ng tim trong quá trính mổ gây thiếu máu cơ 
tim và hiện tƣợng tái tƣới máu sau mổ [6]. Để 
tránh tổn thƣơng tim do quá trính phẫu thuật, 
nhiều tác giả lựa chọn phẫu thuật tim đập; tuy 
vậy, nhiều tác giả vẫn thống nhất quan điểm rằng 
phẫu thuật tim đập rất ìt đƣợc áp dụng cho sửa 
chữa các dị tật bẩm sinh và đặc biệt phẫu thuật ở 
trẻ nhỏ do nhiều lý do: nhiều dị tật phức tạp đòi 
hỏi phải bộc lộ rõ và phẫu trƣờng nhỏ hẹp khó 
thao tác [5]. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 8 
 n 3. Kết quả sau mổ NSTB không có robot hỗ tr , tim ập. 
(A) Bệnh nhân nam 24 tuổi ngay sau mổ;(B Bệnh nhân nữ 7 tuổi sau mổ 1 tháng. 
Với kinh nghiệm phẫu thuật vá TLN nội soi 
hỗ trợ, tim đập cho hơn 80 trƣờng hợp, chúng tôi 
thực hiện vá TLN NSTB không có robot hỗ trợ, 
tim đập t tháng 5/2016 với kết quả bƣớc đầu rất 
tốt. Tất cả bệnh nhân đƣợc theo dõi sau ra viện 1-
3 tháng. Chúng tôi đã phẫu thuật cho 5 bệnh nhân 
nhi và 8 bệnh nhân trƣởng thành, trong đó bệnh 
nhân có cân nặng nhỏ nhất là 14,5kg. Để phẫu 
thuật cho những bệnh nhân nhỏ tuổi này chúng 
tôi đã có những thay đổi về cách thức thiết lập 
tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi (theo Bảng 2). 
Thời gian mổ (t lúc rạch da tới khi đóng da) 
trung bính và thời gian chạy máy trung bính lần 
lƣợt là 4-4,5 giờ và 2-2,5 giờ. Ngƣời bệnh thở 
máy trung bính 4 giờ, nằm hồi sức dƣới 1 ngày, 
lƣợng máu dẫn lƣu sau mổ giảm hẳn so với 
phƣơng pháp mổ nội soi hỗ trợ với trung bính 
70ml trong 24 giờ đầu tiên, không bệnh nhân nào 
cần truyền máu sau mổ. 
Thông thƣờng với nội soi hỗ trợ, ngƣời bệnh 
bị hạn chế vận động tay phải trong nhiều tuần đầu 
sau mổ do đau và co cơ thành ngực. Với phƣơng 
pháp mổ NSTB thông qua các lỗ Trocar đƣờng 
kình t 5-12mm trên thành ngực ngƣời bệnh giảm 
đau sau mổ rất nhiều. Chúng tôi chỉ cần cho 
ngƣời bệnh sử dụng Morphine trong ngày đầu tại 
phòng hồi sức, những ngày sau tại bệnh phòng 
dùng giảm đau không steroid; trung bính sau 
ngày thứ 3 ngƣời bệnh không cần dùng thuốc 
giảm đau. Bệnh nhân có thể vận động tay phải 
bính thƣờng sau mổ 1 tuần. 
Nhiều tác giả ghi nhận xẹp phổi phải sau mổ 
với tỉ lệ 2,5-7,1 do thông khì một phổi trong 
quá trính mổ [5, 7, 8]. Chúng tôi lựa chọn thông 
khì hai phổi bằng nội khì quản một nòng do 40 
đối tƣợng của chúng tôi là trẻ nhỏ, phƣơng pháp 
gây mê này khiến thời gian chạy máy của chúng 
tôi kéo dài hơn so với việc thông khì một phổi 
song giúp tránh đƣợc xẹp phổi sau mổ. Mặc dù 
không dùng kim hút gốc ĐMC, chúng tôi không 
gặp biến chứng về thần kinh do làm đầy liên tục 
khoang màng tim và màng phổi bằng CO2, tốc độ 
bơm CO2 đƣợc điều chỉnh dựa trên theo dõi 
PaCO2 trong máu liên tục (biểu đồ 1). Không 
trƣờng hợp nào có biến chứng mạch đùi sau mổ 
cũng nhƣ những thời điểm khám lại. 
V. KẾT LUẬN 
Phƣơng pháp phẫu thuật vá TLN NSTB 
không có robot hỗ trợ, tim đập là phƣơng pháp 
hứa hẹn có thể triển khai rộng trong tƣơng lai gần 
góp phần nâng cao chất lƣợng điều trị bệnh tim 
bẩm sinh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Alobaidan, M., et al., Successful 
percutaneous closure of spiral atrial septal 
defect. Echo Res Pract, 2015. 2(1): p. K7-9. 
2. Murakami, T., et al., Transcatheter closure of 
atrial septal defect protects from pulmonary 
edema: septal occluder device gradually 
reduces LR shunt. Heart Vessels, 2016. 
A B 
PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ 
 9 
3. Giardini, A., et al., Effect of transcatheter 
atrial septal defect closure in children on left 
ventricular diastolic function. Am J Cardiol, 
2005. 95(10): p. 1255-7. 
4. van der Linde, D., et al., Birth prevalence of 
congenital heart disease worldwide: a 
systematic review and meta-analysis. J Am 
Coll Cardiol, 2011. 58(21): p. 2241-7. 
5. Ma, Z.S., et al., Totally thoracoscopic 
closure for atrial septal defect on perfused 
beating hearts. Eur J Cardiothorac Surg, 
2012. 41(6): p. 1316-9. 
6. Mo, A., et al., Efficacy and safety of on-pump 
beating heart surgery. Ann Thorac Surg, 
2008. 86(6): p. 1914-8. 
7. Wang, F., et al., Totally thoracoscopic 
surgical closure of atrial septal defect in 
small children. Ann Thorac Surg, 2011. 
92(1): p. 200-3. 
8. Liu, G., et al., Totally thoracoscopic surgery 
for the treatment of atrial septal defect 
without of the robotic Da Vinci surgical 
system. J Cardiothorac Surg, 2013. 8: p. 119. 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_noi_soi_toan_bo_khong_co_robot_ho_tro_tim_dap_va.pdf