Phẫu thuật nội soi có hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng: Báo cáo trường hợp đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Lựa chọn phương pháp điều trị hẹp niệu quản đoạn dài luôn là thách thức đối với các phẫu thuật viên Tiết

Niệu. Bệnh nhân nam 42 tuổi, đến khám vì đau hông lưng phải âm ỉ. Hai năm trước, bệnh nhân được phẫu thuật

nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản đoạn lưng. Rò nước tiểu khoang sau phúc mạc sau mổ. Niệu quản phải

hẹp tiến triển sau khi rút bỏ thông niệu quản. Bệnh nhân được nong niệu quản kết hợp đặt thông DJ 3 lần. Hẹp

niệu quản không cải thiện; thận ứ nước tăng dần đến độ 3. Chụp cắt lớp vi tính hệ niệu có cản quang và X-quang

niệu quản bể thận ngược chiều ghi nhận niệu quản đoạn lưng hẹp một đoạn dài 4 cm. Bệnh nhân được phẫu

thuật nội soi có hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng. Theo dõi 11 tháng sau mổ,

bệnh nhân không còn triệu chứng đau hông phải. Thận phải hết ứ nước trên siêu âm. Phẫu thuật nội soi có hỗ trợ

robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng là một phương pháp khả thi để điều trị hẹp niệu quản

phức tạp

pdf 8 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi có hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng: Báo cáo trường hợp đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi có hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng: Báo cáo trường hợp đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Phẫu thuật nội soi có hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng: Báo cáo trường hợp đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 258 
PHẪU THUẬT NỘI SOI CÓ HỖ TRỢ ROBOT TẠO HÌNH NIỆU QUẢN 
BẰNG MẢNH GHÉP NIÊM MẠC MIỆNG: BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP ĐẦU 
TIÊN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY 
Nguyễn Ngọc Hà1, Châu Quý Thuận2, Ngô Xuân Thái3, Thái Minh Sâm2 
TÓM TẮT 
Lựa chọn phương pháp điều trị hẹp niệu quản đoạn dài luôn là thách thức đối với các phẫu thuật viên Tiết 
Niệu. Bệnh nhân nam 42 tuổi, đến khám vì đau hông lưng phải âm ỉ. Hai năm trước, bệnh nhân được phẫu thuật 
nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản đoạn lưng. Rò nước tiểu khoang sau phúc mạc sau mổ. Niệu quản phải 
hẹp tiến triển sau khi rút bỏ thông niệu quản. Bệnh nhân được nong niệu quản kết hợp đặt thông DJ 3 lần. Hẹp 
niệu quản không cải thiện; thận ứ nước tăng dần đến độ 3. Chụp cắt lớp vi tính hệ niệu có cản quang và X-quang 
niệu quản bể thận ngược chiều ghi nhận niệu quản đoạn lưng hẹp một đoạn dài 4 cm. Bệnh nhân được phẫu 
thuật nội soi có hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng. Theo dõi 11 tháng sau mổ, 
bệnh nhân không còn triệu chứng đau hông phải. Thận phải hết ứ nước trên siêu âm. Phẫu thuật nội soi có hỗ trợ 
robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng là một phương pháp khả thi để điều trị hẹp niệu quản 
phức tạp. 
Từ khóa: hẹp niệu quản, tạo hình niệu quản, mảnh ghép niêm mạc miệng 
ABSTRACT 
ROBOT ASSISTED LAPAROSCOPIC BUCCAL MUCOSA GRAFT URETEROPLASTY: 
THE FIRST CASE AT CHO RAY HOSPITAL 
Nguyen Ngoc Ha, Chau Quy Thuan, Ngo Xuan Thai, Thai Minh Sam 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 258 - 265 
Choosing an appropriate option for complicated ureteral stricture is always a big challenge of urologic 
surgeon. 43 year-olds male patient came to our hospital because of right flank pain. Two years ago, he underwent 
retroperitoneal laparoscopic lithotomy to remove the proximal ureteral stone at local hospital. Urine leakage 
happens post operatively. Ureteral stricture progressed after ureteral stent removal. Patient underwent 3 times of 
ureteral dilation and DJ stenting. Ureteral stricture recurred and hydronephrosis progressed by third grade. 
Contrast computed tomography and retrograde pyelography showed a 4 cm stricture segment of the proximal 
ureter. Robot assisted laparoscopic ureteroplasty was done using buccal mucosa graft. After 11 months follow up, 
patient recovered well with no hydronephrosis. Robot assisted laparoscopic buccal mucosa graft ureteroplasty for 
complicated ureteral stricture is feasible. 
Key words: ureteral stricture, ureteroplasty, buccal mucosa graft 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tổn thương niệu quản do sự cố y khoa và xạ 
trị là hai nguyên nhân thường gặp nhất, chiếm 
75% nguyên nhân các trường hợp hẹp niệu 
quản(1). Nếu không được điều trị phù hợp, sẽ 
dẫn tới các biến chứng nghiêm trọng như nang 
giả niệu, nhiễm khuẩn niệu dẫn đến nhiễm 
khuẩn huyết, rò nước tiểu, suy thận mạn hoặc 
nặng hơn là mất chức năng thận cùng bên. 
Đoạn 1/3 dưới niệu quản là vị trí dễ bị tổn 
1Đại Học Khoa Học Sức Khoẻ Shiga, Nhật Bản - Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
2Khoa Ngoại Tiết Niệu, bệnh viện Chợ Rẫy 3Bộ môn Tiết Niệu học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Ngọc Hà ĐT: (+84)7-8888-1988 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 259 
thương nhất (chiếm 91%), đoạn 1/3 giữa và 1/3 
trên niệu quản thì hiếm gặp hơn (chiếm lần lượt 
7% và 2%)(2,3). Trong số các loại phẫu thuật, phẫu 
thuật sản phụ khoa chiếm 64% - 82% các nguyên 
nhân gây ra tổn thương niệu quản, trong khi 
phẫu thuật đại trực tràng, phẫu thuật mạch máu 
vùng chậu và phẫu thuật tiết niệu chiếm lần lượt 
là 15% - 26% và 11% - 30%(4-6). Niệu quản có thể 
bị tổn thương trực tiếp do bị cắt ngang, do nơ chỉ 
khâu, do tổn thương do cọ xát hoặc đốt trực tiếp 
bằng dao điện. Ngược lại, các tổn thương gián 
tiếp do thiếu máu cục bộ do đặt thông niệu quản 
lớn, do tổn thương mạch máu nuôi niệu quản 
hoặc do bỏng điện trong quá trình cầm máu mô 
lân cận. Hẹp niệu quản sau xạ trị thường tiến 
triển một vài năm sau điều trị, phụ thuộc vào mô 
thức và liều xạ trị. Tần suất hẹp niệu quản sau 
theo dõi 10 năm sau xạ trị ung thư tuyến tiền liệt, 
ung thư cổ tử cung lần lượt là 1,8% - 2,7% và 
1,2%(7). 
X-quang hệ niệu có tiêm thuốc cản quang 
đường tĩnh mạch, chụp cắt lớp vi tính hệ niệu có 
cản quang, X-quang niệu quản bể thận ngược 
chiều và X-quang bể thận niệu quản xuôi chiều 
chụp sau khi bơm thuốc cản quang qua dẫn lưu 
thận có sẵn là các phương pháp chẩn đoán hình 
ảnh cần được thực hiện để đánh giá vị trí hẹp 
niệu quản cũng như chiều dài đoạn hẹp. X-
quang hệ niệu có tiêm thuốc cản quang đường 
tĩnh mạch và chụp cắt lớp vi tính hệ niệu có cản 
quang đồng thời giúp gián tiếp đánh giá chức 
năng bài tiết của thận cùng bên. Xạ kí thận đồng 
vị phóng xạ Tc-99m DTPA (Technium-99m 
Diethylene Triamine Pentaacetic Acid) hoặc Tc-
99m MAG-3 (Technium-99m 
Mercaptoacetyltriglycerine) có tiêm thuốc lợi 
tiểu quai (test Lasix) thường được thực hiện để 
đánh giá chức năng thận trước mổ, bế tắc sau 
thận cũng như theo dõi sự hồi phục của chức 
năng thận sau phẫu thuật. 
Các tổn thương niệu quản ngắn <2,5 cm 
thường được xử trí lần đầu bằng cách đặt thông 
DJ niệu quản 2 – 6 tuần. Trong khi đó, các tổn 
thương niệu quản sau nội soi niệu quản hiếm 
khi cần điều trị bằng phẫu thuật mở (chỉ chiếm 
0,22%)(3). Phẫu thuật tạo hình lần 2 thường được 
thực hiện sau 6 tuần tới 3 tháng, khi phản ứng 
viêm phù nề, phản ứng tạo xơ sợi cũng như 
những thay đổi về giải phẫu của niệu quản trở 
nên ổn định(3,8). 
Có nhiều phương pháp điều trị hẹp niệu 
quản từ nong niệu quản qua nội soi cho tới phẫu 
thuật tạo hình, thậm chí thay thế niệu quản bằng 
hồi tràng hay ghép thận tự thân. Việc lựa chọn 
phương pháp điều trị phụ thuộc vào vị trí hẹp 
và chiều dài đoạn hẹp. Việc phục hồi lưu thông 
niệu quản không phải lúc nào cũng dễ dàng, đặc 
biệt trong trường hợp niệu quản hẹp đoạn dài, 
hoặc hẹp nhiều đoạn. Phẫu thuật thay thế đoạn 
niệu quản bằng hồi tràng đòi hỏi phải cắt nối 
ruột làm tăng nguy cơ các biến cố trong và sau 
mổ. Trong khi đó ghép thận tự thân đòi hỏi bệnh 
nhân phải trải qua hai cuộc phẫu thuật lớn là cắt 
thận và ghép thận; và chỉ thực hiện được trong 
trường hợp đoạn niệu quản còn lại dài >10 cm. 
Do đó, phục hồi lưu thông đoạn niệu quản hẹp 
phức tạp bằng mảnh ghép rời tại chỗ được kì 
vọng giúp giảm nguy cơ các biến chứng trong và 
sau mổ so với ghép thận tự thân và thay thế niệu 
quản bằng đoạn hồi tràng. Tuy nhiên, việc tìm 
kiếm vật liệu thay thế mô niệu quản vẫn là thách 
thức đối với các nhà niệu khoa. 
Mảnh ghép niêm mạc miệng với nhiều ưu 
điểm là niêm mạc bán ẩm ướt, dễ nuôi dưỡng 
bằng thẩm thấu, và không có lông; đã được sử 
dụng rộng rãi trong phẫu thuật tạo hình niệu 
đạo cho bệnh nhân hẹp niệu đạo phức tạp cho 
kết quả tốt. Năm 1999, Naude JH báo cáo 6 
trường hợp đầu tiên điều trị thành công hẹp 
niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng. 
Với thời gian theo dõi trung bình 24 tháng, 
không trường hợp nào phải can thiệp phẫu thuật 
lại(9). Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu 
với số lượng lớn bệnh nhân cũng như đánh giá 
kết quả lâu dài của phẫu thuật. 
Chúng tôi báo cáo một trường hợp hẹp niệu 
quản phức tạp, được điều trị thành công bằng 
phẫu thuật nội soi (PTNS) có hỗ trợ robot tạo 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 260 
hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc 
miệng. Đây là trường hợp đầu tiên tại bệnh viện 
Chợ Rẫy sử dụng mảnh ghép niêm mạc miệng 
để tạo hình niệu quản. Và trong hiểu biết của 
chúng tôi, đây cũng là trường hợp đầu tiên được 
thực hiện tại Việt Nam. 
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP 
Bệnh nhân nam 42 tuổi, vào viện vì đau tức 
hông lưng phải. 
Hai năm trước, bệnh nhân được chẩn đoán 
sỏi niệu quản phải đoạn lưng, được phẫu thuật 
nội soi (PTNS) sau phúc mạc mở niệu quản lấy 
sỏi tại bệnh viện tuyến trước. Rò nước tiểu sau 
phúc mạc xảy ra sau mổ. Bệnh nhân được điều 
trị bảo tồn bằng cách đặt thông DJ niệu quản 
phải. Rò nước tiểu tự thu xếp và dẫn lưu sau 
phúc mạc được rút 1 tuần sau mổ. Bệnh nhân 
được lưu thông DJ niệu quản phải 1 tháng. Hẹp 
niệu quản phải diễn tiến sau khi rút bỏ thông DJ. 
Bệnh nhân được nội soi nong niệu quản phải đặt 
thông DJ 3 lần, mỗi lần lưu thông DJ 3 tháng. 
Hẹp niệu quản không cải thiện. Hông lưng phải 
đau tức tăng, thận phải ứ nước tăng dần qua 
siêu âm. Bệnh nhân đến khám tại phòng khám 
của chúng tôi. 
Siêu âm bụng ghi nhận thận phải ứ nước độ 
3, niệu quản phải đoạn lưng dãn. Chụp X-quang 
hệ niệu có tiêm cản quang đường tĩnh mạch và 
chụp cắt lớp vi tính hệ niệu có cản quang ghi 
nhận niệu quản phải đoạn lưng hẹp một đoạn 
dài 4 cm. X-quang niệu quản bể thận ngược 
chiều có cản quang xác nhận niệu quản đoạn 
lưng hẹp một đoạn 4 cm. Xạ kí thận đồng vị 
phóng xạ Tc-99m DTPA ghi nhận độ lọc cầu 
thận của thận phải và thận trái lần lượt là 16,9 và 
61,7 mL/phút. Thận phải giảm chức năng, bắt và 
thải phóng xạ chậm, không đáp ứng với test 
Lasix (Hình 1). Kết quả các xét nghiệm khác đều 
trong giới hạn bình thường. 
Hình 1: Thận phải ứ nước độ 3, niệu quản phải đoạn lưng hẹp đoạn dài 4 cm trên hình ảnh học. A: X-quang hệ 
niệu có tiêm thuốc cản quang đường tĩnh mạch. B: Hình dựng hình bể thận niệu quản trên phim chụp cắt lớp vi 
tính hệ niệu có cản quang. C: X-quang niệu quản bể thận ngược chiều. D: Xạ kí thận đồng vị phóng xạ Tc-99m 
DTPA ghi nhận thận phải giảm chức năng, bắt và thải phóng xạ chậm, không đáp ứng với test Lasix 
Bệnh nhân được lên chương trình PTNS có 
hỗ trợ robot tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép 
niêm mạc miệng. Phương pháp phẫu thuật, khả 
năng thất bại cũng như các tai biến biến chứng 
trong và sau mổ đều được giải thích với bệnh 
nhân và thân nhân. Biên bản chấp thuận phẫu 
thuật được bệnh nhân kí tên sau khi được giải 
thích và hiểu rõ phương pháp phẫu thuật cũng 
như các nguy cơ. 
Mô tả kĩ thuật 
Ngày trước phẫu thuật và sáng trước ngày 
phẫu thuật, bệnh nhân được hướng dẫn vệ sinh 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 261 
răng miệng súc miệng dung dịch “Betadine 
gargle & mouth wash”. Nội soi bàng quang đặt 
thông niệu quản phải trước mổ để chụp phim X-
quang niệu quản bể thận ngược chiều. Thông 
niệu quản được lưu lại sau chụp phim. 
Bệnh nhân được mê nội khí quản. Ống nội 
khí quản được đặt qua đường mũi. Bệnh nhân 
được đặt nằm nghiêng trái một góc 60o, tay phải 
được đặt khép sát thân (Hình 2a). Vùng bụng 
bệnh nhân được sát khuẩn và trải khăn vô 
khuẩn. Hệ thống robot phẫu thuật da Vinci Si 
được sử dụng cho phẫu thuật. Robot và hệ 
thống ghi hình được bố trí bên phải bệnh nhân, 
lần lượt từ phía đầu đến phía chân. Hệ thống 
máy gây mê, bác sĩ phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ 
và bàn để dụng cụ phẫu thuật được bố trí bên 
trái, lần lượt từ phía đầu đến phía chân của bệnh 
nhân (Hình 2c). 
Bệnh nhân được đặt 6 trocar, trong đó 4 
trocar cho 4 cánh tay robot và 2 trocar cho bác sĩ 
phụ mổ. Trocar cánh tay robot giữ camera được 
đặt trên đường trắng bên phải ngang mức rốn. 
Trocar cánh tay robot thao tác số 1 được đặt trên 
đường trắng bên phải, cách trocar camera về 
phía đầu 8 cm. Trocar cánh tay robot thao tác số 
2 được đặt ở hố chậu phải, cách trocar camera 8 
cm. Trocar cánh tay robot số 3 được đặt trên 
đường trắng giữa, dưới mỏm mũi kiếm xương 
ức. Hai trocar cho bác sĩ phụ mổ được đặt trên 
đường trắng giữa, trên và dưới rốn, cách nhau 
10 cm để đưa dụng cụ, hút và vén trong lúc mổ 
(Hình 2b). 
Hình 2: Mô tả kỹ thuật. A: Tư thế bệnh nhân. B: Vị trí đặt troca cho robot và bác sĩ phụ mổ. C: Sơ đồ bố trí 
phòng mổ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 262 
Mạc Toldt được cắt, đại tràng phải và tá 
tràng được vén sang bên trái, bộc lộ thận và niệu 
quản phải. Niệu quản phải đoạn 1/3 trên có một 
đoạn dài 4 cm xơ hẹp thành dày, đầu trên hẹp 
khít. Niệu quản được di động toàn bộ tới chỗ bắt 
chéo bó mạch chậu. Đoạn niệu quản hẹp khít 
được cắt bỏ, hai đầu được nối tận tận bằng chỉ 
PDS 5.0. Đoạn niệu quản hẹp dài được xẻ dọc 
thành trước niệu quản. Thông DJ 7 Fr được đặt 
vào niệu quản phải làm giá đỡ cho mảnh ghép. 
Sau khi đặt thông DJ niệu quản phải, bộc lộ 
và chuẩn bị sẵn niệu quản, chúng tôi lấy niêm 
mạc miệng. Khoang miệng của bệnh nhân hai 
bên má được nhét gạc che chắn. Niêm mạc 
miệng môi trên và môi dưới được sát khuẩn 
bằng dung dịch Povidine. Nước muối sinh lí 
9%o được tiêm vào lớp dưới niêm mạc để bóc 
tách niêm mạc miệng môi trên. Một đoạn niêm 
mạc miệng kích thước 1 x 5 cm ở mặt trong môi 
trên được lấy ở khoảng giữa hai lỗ đổ ống 
Stenon hai bên. Niêm mạc miệng được khâu 
phục hồi bằng chỉ SafilQuick 4/0. Đoạn niêm 
mạc miệng thu được được xử lí cắt bỏ toàn bộ 
mô mỡ dưới niêm, ngâm trong dung dịch Ringer 
Lactate để giữa ẩm (Hình 3). 
Hình 3: Lấy mảnh ghép niêm mạc miệng môi trên. A: Tiêm dung dịch nước muối sinh lí 9%o để bóc tách niêm 
mạc miệng. B: Lấy niêm mạc miệng. C: Niêm mạc miệng được xử lí, cắt bỏ mô mỡ dưới 
niêm
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 263 
Hình 4: Đoạn niệu quản hẹp được ghép niêm mạc miệng vào mặt trước. A: Mảnh ghép niêm mạc miệng được 
đưa vào phẫu trường. B: Khâu bờ mảnh ghép vào thành niệu quản 
Đoạn niêm mạc miệng được đưa qua trocar 
phụ mổ vào phẫu trường. Chúng tôi ghép mảnh 
ghép niêm mạc miệng vào mặt trước của đoạn 
niệu quản hẹp đã xẻ lòng bằng chỉ Monocryl 
5.0 đường khâu liên tục, có đặt thông DJ 7 Fr làm 
nòng. Mạc nối lớn được di động về phía niệu 
quản. Một vạt mạc nối được cố định vào cơ thắt 
lưng bằng 2 mũi chỉ Vicryl 3/0 phía sau niệu 
quản phải, sau đó cuộn lại che phủ toàn bộ niệu 
quản phải đoạn hẹp và mảnh ghép (Hình 4). Dẫn 
lưu cạnh niệu quản phải. Dụng cụ robot và các 
cánh tay robot được tháo bỏ. Cân cơ các lỗ troca 
được khâu lại bằng vicryl 1/0. 
Tình trạng sau mổ và kết quả phẫu thuật 
Bệnh nhân bắt đầu uống sữa và ăn cháo 
loãng từ ngày hậu phẫu thứ nhất. Súc miệng 
bằng dung dịch “Betadine gargle & moouth 
wash” 3 lần/ngày. Dẫn lưu cạnh niệu quản 
không ra dịch được rút bỏ 2 ngày sau mổ. Bệnh 
nhân được xuất viện ngày thứ 3 sau mổ và hẹn 
tái khám sau 1 tháng và mỗi 3 tháng sau mổ. 
Thông DJ niệu quản phải được rút bỏ qua nội soi 
bàng quang 12 tuần sau mổ. Siêu âm thời điểm 6 
tháng và 9 tháng sau, thận phải giảm độ ứ nước 
về độ 1 từ thời điểm 6 tháng sau mổ. Theo dõi 1 
năm sau mổ, bệnh nhân hết triệu chứng đau tức 
hông lưng phải. Thận phải hết ứ nước trên siêu 
âm (Hình 5). 
Hình 5: A. Bệnh nhân 1 tháng sau mổ, B. Vị trí lấy niêm mạc miệng ngày 3 sau mổ, C. Hình ảnh siêu âm thận 
phải thời điểm 11 tháng sau mổ hết ứ nước, D. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính dựng hình hệ niệu thời điểm 3 
tháng sau mổ 
BÀN LUẬN 
Năm 1983, Somerville JJ lần đầu tiên thực 
hiện thí nghiệm sử dụng mảnh ghép niêm mạc 
miệng không có cuống để thay thế 3 cm niệu 
quản đoạn giữa của 3 khỉ đầu chó(9). Mạc nối lớn 
được sử dụng để che phủ mảnh ghép. Theo dõi 
X-quang niệu quản bể thận ngược chiều có cản 
quang thời điểm 4 tuần, 8 tuần và 10 tuần sau 
mổ không ghi nhận hẹp niệu quản. Sau 10 tuần, 
cả 3 khỉ được giết và niệu quản thí nghiệm được 
cắt ra ngoài để khảo sát đại thể và đánh giá vi 
thể về mô học. Về đại thể ghi nhận 3 mảnh ghép 
đều sống được. Đánh gía vi thể ghi nhận mảnh 
ghép được tưới máu tốt từ mạc nối lớn, không có 
A 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 264 
sự co rút của mảnh ghép, sự liền lạc tại mối nối 
giữa niệu quản và mảnh ghép niêm mạc miệng 
được thiết lập tốt. 
Tiếp nối thí nghiệm trên động vật, năm 1999 
Naude JH báo cáo phẫu thuật thực nghiệm đầu 
tiên trên người(10). Sáu bệnh nhân được tạo hình 
niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng. 
Trong đó 4 bệnh nhân tạo hình niệu quản bằng 
tấm nền mảnh ghép niêm mạc miệng, 1 bệnh 
nhân mở rộng đoạn niệu quản hẹp bằng mảnh 
ghép niêm mạc miệng, 1 bệnh nhân thay thế 
đoạn niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc 
miệng cuốn ống. Tất cả các đoạn niệu quản chứa 
mảnh ghép đều được bao phủ bằng vạc mạc nối 
lớn có cuống. Đánh giá kết quả phẫu thuật bằng 
X-quang bể thận niệu quản xuôi chiều với thời 
gian theo dõi trung bình 24 tháng (từ 2-72 
tháng), không ghi nhận trường hợp nào hẹp niệu 
quản tái phát. 
Những kết quả hứa hẹn từ những nghiên 
cứu trên động vật và trên người dẫn đến việc 
tăng ứng dụng của mảnh ghép niêm mạc miệng 
trong phẫu thuật tạo hình hẹp niệu quản phức 
tạp. So với các phẫu thuật khác điều trị hẹp niệu 
quản phức tạp đã được báo cáo như thay thế 
niệu quản bằng hồi tràng hay ghép thận tự thân, 
tạo hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc 
miệng có nhiều ưu thế vì chỉ can thiệp vào đoạn 
niệu quản bệnh lí, giúp giảm các biến cố nghiêm 
trọng trong và sau mổ. Ngược lại, thay thế niệu 
quản bằng đoạn hồi tràng đòi hỏi phải cắt nối 
ruột. Trong khi đó, ghép thận tự thân đòi hỏi 
bệnh nhân trải qua 2 cuộc mổ lớn là cắt thận và 
ghép thận vào hố chậu, và chỉ thực hiện được 
khi đoạn niệu quản còn lại dài hơn 10 cm. 
Tuy nhiên, vẫn chưa thực sự có nhiều nghiên 
cứu với số lượng lớn bệnh nhân sử dụng mảnh 
ghép niêm mạc miệng để tạo hình niệu quản. 
Hầu hết các báo cáo trên thế giới cho tới nay là 
báo cáo trường hợp hoặc báo cáo loạt trường 
hợp với số lượng nhỏ bệnh nhân. Phẫu thuật 
thường được chỉ định trong trường hợp miệng 
nối niệu quản căng nếu tạo hình niệu quản bằng 
phương pháp nối niệu quản tận-tận; hoặc hẹp 
niệu quản đoạn dài, hẹp niệu quản phức tạp 
nhiều đoạn không thể cắt nối tận-tận; hoặc hẹp 
niệu quản tái phát sau phẫu(11). Một vài tác giả đã 
báo cáo kết quả PTNS có hỗ trợ robot tạo hình 
niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc miệng với 
kết quả tốt. Việc sử dụng ICG (Indocyanine 
Green) và ánh sáng huỳnh quang trong lúc mổ 
giúp đánh giá việc tưới máu niệu quản cũng như 
tưới máu của vạt mạc nối lớn có cuống đến 
mảnh ghép trong lúc mổ(11,12). Về thời gian lưu 
thông DJ niệu quản sau mổ, Lee Z (2017) báo cáo 
12 trường hợp PTNS có hỗ trợ robot tạo hình 
niệu quản bằng mảnh ghép niêm miệng, thông 
DJ niệu quản được rút bỏ sau mổ 6 tuần nếu 
kiểm tra bằng phim X-quang niệu quản bể thận 
ngược chiều có cản quang không có rò cản 
quang ra ngoài lòng niệu quản(13). Về kĩ thuật, 
phẫu thuật có thể được thực hiện qua mổ mở, 
PTNS hoặc PTNS có hỗ trợ robot. Vì mảnh ghép 
niêm mạc miệng rời không có nguồn cấp máu và 
được nuôi dưỡng bằng thẩm thấu. Do đó, hầu 
như tất cả các tác giả đều sử dụng một vạt mạc 
nối lớn có cuống để bao phủ đoạn niệu quản 
chứa mảnh ghép(11,12). 
Đối với trường hợp này, đoạn niệu quản còn 
lại từ bể thận đến trên chỗ hẹp chỉ dài 5 cm nên 
không thể lựa chọn phương pháp ghép thận tự 
thân vì niệu quản không đủ dài để cắm vào bàng 
quang. Phẫu thuật thay thế niệu quản bằng hồi 
tràng đòi hỏi cắt nối ruột tìm ẩn nhiều nguy cơ 
trong và sau mổ. Do đó, tạo hình niệu quản bằng 
mảnh ghép niêm mạc miệng là một lựa chọn 
hợp lí. PTNS có hỗ trợ robot được chúng tôi lựa 
chọn vì có nhiều ưu điểm hơn mổ mở và PTNS 
quy ước vì đây là phẫu thuật ít xâm hại trong 
khi cánh tay robot hoạt động linh hoạt và chính 
xác, rất thích hợp cho các phẫu thuật tạo hình 
cần khâu nối nhiều. Trong thực hành, chúng tôi 
chủ động lấy mảnh ghép niêm mạc miệng dài 
hơn chiều dài đoạn niệu quản hẹp để đảm bảo 
miệng nối của mảnh ghép không căng sau phẫu 
thuật. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng cố định một 
vạt mạc nối lớn có cuống lên cơ thắt lưng cùng 
bên đồng thời cuốn quanh đoạn niệu quản chứa 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 265 
mảnh ghép. Thông DJ niệu quản được chúng tôi 
lưu 12 tuần để tạo một giá đỡ đủ lâu cho mảnh 
ghép được nuôi dưỡng tốt và liền lạc với niệu 
quản nguyên thuỷ của bệnh nhân. Trên cơ sở lí 
luận từ phẫu thuật thực nghiệm trên khỉ của 
Somerville và Naude năm 1983, mảnh ghép 
niêm mạc miệng được tưới máu tốt và liền lạc 
với mô niệu quản nguyên thuỷ sau 10 tuần được 
xác nhận trên giải phẫu bệnh(9). Vì là trường hợp 
đầu tiên và chúng tôi thận trọng trong thực 
hành, chúng tôi lưu thông DJ niệu quản lâu hơn 
là 12 tuần để đảm bảo thành công của phẫu 
thuật. 
KẾT LUẬN 
Đối với bệnh nhân hẹp niệu quản phức tạp, 
hẹp niệu quản đoạn dài không thể tạo hình bằng 
phương pháp cắt nối tận-tận; phẫu thuật tạo 
hình niệu quản bằng mảnh ghép niêm mạc 
miệng là một lựa chọn khả thi. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Abboudi H, Ahmed K, Royle J, Khan MS, Dasgupta P, N'Dow 
J (2004). Ureteric injury: a challenging condition to diagnose 
and manage. Nat Rev Urol. 2013;10(2):108-115. 
2. Brandes S, Coburn M, Armenakas N, McAninch J. Diagnosis 
and management of ureteric injury: an evidence-based 
analysis. BJU Int, 94(3):277-289. 
3. Selzman AA, Spirnak JP (1996). Iatrogenic ureteral injuries: a 
20-year experience in treating 165 injuries. J Urol, 155(3):878-881 
4. Delacroix Jr SE, Winters JC (2010). Urinary tract injures: 
recognition and management. Clin Colon Rectal Surg, 23(2):104-
112. 
5. Parpala-Sparman T, Parpala-Spårman T, Paananen I, Santala 
M, Ohtonen P, Hellström P (2008). Increasing numbers of 
ureteric injuries after the introduction of laparoscopic surgery. 
Scand J Urol Nephrol, 42(5):422-427. 
6. Elliott SP, McAninch JW (2006). Ureteral injuries: external and 
iatrogenic. Urol Clin North Am, 33(1):55. 
7. McIntyre JF, Eifel PJ, Levenback C, Oswald MJ (1995). Ureteral 
stricture as a late complication of radiotherapy for stage IB 
carcinoma of the uterine cervix. Cancer, 75(3):836-843. 
8. Riedmiller H, Becht E, Hertle L, Jacobi G, Hohenfellner R 
(1999). Psoas-hitch ureteroneocystostomy: experience with 181 
cases. Eur Urol. 1984;10(3):145-150. 
9. Somerville JJ, Naude JH (1984). Segmental ureteric 
replacement: an animal study using a free non-pedicled graft. 
Urol Res, 12(2):115-119. 
10. Naude JH (1999). Buccal mucosal grafts in the treatment of 
ureteric lesions. BJU Int, 83(7):751-754. 
11. Lee Z, Keehn AY, Sterling ME, Metro MJ, Eun DD (2018). A 
Review of Buccal Mucosa Graft Ureteroplasty. Curr Urol Rep, 
19(4):23. 
12. Zhao LC, Weinberg AC, Lee Z, et al (2018). Robotic Ureteral 
Reconstruction Using Buccal Mucosa Grafts: A Multi-
institutional Experience. Eur Urol, 73(3):419-426. 
13. Lee Z, Waldorf BT, Cho EY, Liu JC, Metro MJ, Eun DD (2017). 
Robotic Ureteroplasty with Buccal Mucosa Graft for the 
Management of Complex Ureteral Strictures. J Urol, 
198(6):1430-1435. 
Ngày nhận bài báo: 06/06/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_noi_soi_co_ho_tro_robot_tao_hinh_nieu_quan_bang_m.pdf