Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi

33 bệnh nhân được nẹp cố định xương sườn

sử dụng nẹp vìt titanium. Trong đó, 12 bệnh nhân

được nẹp 2 vị trì, 16 bệnh nhân được nẹp 3 vị trì,

5 bệnh nhân được nẹp 4 vị trì. Có 4 bệnh nhân có

mảng sườn di động, trong đó, chỉ có 1 bệnh nhân

được sử dụng 2 nẹp trên cùng một xương sườn, 3

bệnh nhân còn lại chỉ sử dụng một nẹp cho 1

xương sườn. Các bệnh nhân sau mổ hết hoàn toàn

các triệu chứng đau và tràn máu màng phổi, đồng

thời cũng khôi phục thể tìch khung ngực.Mảng

sườn di động chấm dứt ở cả 4 ca.

pdf 7 trang phuongnguyen 640
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi

Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 38 
PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GẪY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, 
HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 
Vũ Hữu Vĩnh *, Nguyễn Viết Đăng Quang * 
TÓM TẮT: 
33 bệnh nhân đƣợc nẹp cố định xƣơng sƣờn 
sử dụng nẹp vìt titanium. Trong đó, 12 bệnh nhân 
đƣợc nẹp 2 vị trì, 16 bệnh nhân đƣợc nẹp 3 vị trì, 
5 bệnh nhân đƣợc nẹp 4 vị trì. Có 4 bệnh nhân có 
mảng sƣờn di động, trong đó, chỉ có 1 bệnh nhân 
đƣợc sử dụng 2 nẹp trên cùng một xƣơng sƣờn, 3 
bệnh nhân còn lại chỉ sử dụng một nẹp cho 1 
xƣơng sƣờn. Các bệnh nhân sau mổ hết hoàn toàn 
các triệu chứng đau và tràn máu màng phổi, đồng 
thời cũng khôi phục thể tìch khung ngực.Mảng 
sƣờn di động chấm dứt ở cả 4 ca. 
Từ k óa: Cố định xƣơng sƣờn, nẹp xƣơng 
sƣờn, chấn thƣơng ngực, gãy xƣơng sƣờn. 
FIXATION OF RIB FRACTURES BY 
RIB PLATING: INDICATION, RESULT 
SUMMARY: There were 33 cases. Among 
them, 12 patients were applied 2 plates, 16 
patients with 3 plates, and 5 patients with 4 
plates. There were 4 cases with flailed chest, 
among them, only one had two plates in the same 
rib, three others had one only. Postoperatively, 
patients were free of pain and hemothorax and 
also restoring rib cage volume.Flailed chest were 
well treated in all 4 cases. 
Keywords: Rib fixation, rib plating, chest 
trauma, rib fracture 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 
Gẫy xƣơng sƣờn là tổn thƣơng thƣờng gặp 
nhất trong chấn thƣơng ngực, chiếm tới 10 chấn 
thƣơng nói chung và 33 chấn thƣơng ngực(1). 
Gãy xƣơng sƣờn có thể là nguyên nhân gây biến 
chứng tràn máu khoang màng phổi, máu đông 
màng phổi, nếu không xử trì tốt có thể diễn biến 
thành mủ màng phổi. 
Tỷ lệ biến chứng tăng theo số xƣơng sƣờn 
gẫy. Gẫy t 3 xƣơng sƣờn trở lên có nguy cơ gây 
các biến chứng cần đƣợc nằm viện theo dõi và xử 
lý các biến chứng (2,3,4). Gẫy t 6 xƣơng sƣờn 
trở lên có nguy cơ có những biến chứng đe dọa 
tình mạng.Gẫynhiều xƣơng sƣờn thƣờng đau, 
xƣơng sƣờn gãy có thể tự liền nhƣng cần thời 
gian, khoảng t 4 đến 6 tháng.Trong thời gian 
chờ liền xƣơng, đau có thể giảm dần nhƣng 
không hết hẳn, tạo cảm giác khó chịu, đau nhói 
mỗi khi có đụng chạm hoặc vận đông.6 
Khi có 3 xƣơng sƣờn liền nhau bị gẫy cả ở 
hai đầu và các ổ xƣơng gẫy nằm trên hai đƣờng 
thẳng s tạo thành mảng sƣờn di động, gây hô 
hấp đảo chiều và lắc lƣ trung thất, gây suy hô 
hấp. Đôi khi, gẫy nhiều xƣơng sƣờn s làm biến 
dạng thành ngực, làm hẹp lại khoang lồng ngực, 
giảm dung tìch thở. 
Ví những lý do trên, gẫy nhiều xƣơng 
sƣờn, cũng nhƣ các loại xƣơng khác trong cơ 
thể, cần đƣợc cố định lại để giảm biến chứng, 
để chóng liền xƣơng, và để phục hồi chất lƣợng 
cuộc sống. 
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên 
cứu chứng minh hiệu quả của việc cố định xƣơng 
sƣờn gẫy trong điều trị chấn thƣơng ngực.Nhiều 
tác giả báo cáo những phiên tiện cố định xƣơng 
sƣờn khác khau, nhƣng cố định xƣơng sƣờn bằng 
* Khoa ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Ch r y 
 Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Vũ Hữu Vĩnh 
Ngày nhận bài: 15/10/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/11/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GÃY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 
 39 
nẹp vìt cố định đƣợc nhiều tác giả ủng hộ và sử 
dụng rộng rải.Ở Việt Nam chƣa thấy có báo 
cáo.Chúng tôi áp dụng phƣơng pháp điều trị cố 
định xƣơng sƣờn gẫy bằng nẹp vìt và tiến hành 
nghiên cứu này nhằm đánh giá chỉ định, hiệu quả 
và tình khả thi của phƣơng pháp cố định xƣơng 
sƣờn gẫy bằng nẹp vìt. 
II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp hồi cứu mô 
tả các bệnh nhân đƣợc phẫu thuật nẹp xƣơng 
sƣờn gẫy do chấn thƣơng trong thời gian gần một 
năm t 11/2015 đến 9/2016 và thu nhận đƣợc 33 
bệnh nhân. 
Các bệnh nhân này đều không có có phẫu 
thuật mở ngực do các tổn thƣơng bên trong. Chỉ 
định đƣợc áp dụng bao gồm: 
1. Gẫy t 3 xƣơng sƣờn trở lên, ở các vị trì 
bất kỳ, có di lệch chồng hoặc di lệch ngang 1 thân 
xƣơng. Các yếu tố cộng thêmbao gồm: 
* Gẫy trên hàng loạt 6 xƣờng sƣờn trở lên, 
liên tiếp. 
* Có 2 vị trì gẫy trên 1 xƣơng sƣờn hoặc có 
mảnh rời. 
* Có biến dạng khung sƣờn làm giảm thể 
tìch lồng ngực 
* Gẫy xƣơng sƣờn, có máu đông màng phổi 
đã phẫu thuật nội soi rửa hút dẫn lƣu tiêu chuẩn 
mà vẫn tái phát. 
* Đau nhiều ổ gẫy (có thể áp dụng cho chỉ 
gẫy 2 xƣơng sƣờn) 
2. Có mảng sƣờn di động phải tiến hành 
nẹp vìt cố định ngay để tránh suy hô hấp 
3. Khớp giả xƣơng sƣờn. 
Chỉ định có tình chất tƣơng đối với sự đồng 
thuận của ngƣời bệnh sau khi đƣợc giải thìch kỹ 
lợi ìch và hạn chế của phẫu thuật. 
Bệnh nhân đƣợc đánh giá toàn thân các 
chấn thƣơng khác kèm theo, tính trạng trƣớc phẩu 
thuật, đƣợc chụp CT scan ngực có cản quang và 
dựng hính khung sƣờn nhằm đánh vị trì, độ di 
lệch, số lƣợng xƣơng sƣờn gãy và các tổn thƣơng 
khác đi kèm. 
- Phƣơng pháp phẫu thuật: 
 Chúng tôi sử dụng nẹp sƣờn titan (H.1) vìt trực tiếp vào thân xƣơng để cố định ổ gẫy. 
Hình 1. Nẹp vìt titan cho xƣơng sƣờn. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 40 
Đánh giá vị trì các ổ gẫy, dự kiến số lƣợng 
và vị trì các ổ gẫy cần nẹp cố định. Không cần 
phải cố định đủ các ổ gẫy. Nhiều khi gẫy hàng 
loạt, chỉ cần 2,3 nẹp là đủ cố định toàn bộ khung 
sƣờn. Có thể cách một sƣờn, nẹp một sƣờn hoặc 
cách một sƣờn nẹp 2 sƣờn tùy vào t ng trƣờng 
hợp cụ thể (H.2). 
Hình 2. Nẹp 8 lỗ ở trên và nẹp 6 lỗ ở dƣới. 
Dùng nẹp 8 lỗ, mỗi bên ổ gẫy 4 lỗ. Dùng 
xen k vìt phá và vìt giữ. Đôi khi ở những vị trì 
đặc biệt, chúng tôi dùng nẹp 6 lỗ vì dụ nhƣ gẫy 
sát cột sống, vùng sụn sƣờn. 
Độ dài của vìt tùy vào độ dầy của xƣơng 
sƣờn cụ thể, có thể t 10 đến 15 mm. Để đƣờng 
mổ nhỏ, không nhất thiết tất cả các vìt phải đƣợc 
bắt vuông góc với mặt xƣơng/nẹp mà có thể đi 
xiên chéo do sự cản trở của mũi khoan. Có thể 
dùng vặn tay thay cho khoan điện ở những góc 
đặc biệt. 
Đánh giá kết quả phẫu thuật: 
Các yếu tố liên quan đến chỉ định chình là 
tiêu chì để đánh giá kết quả phẫu thuật. Chỉ định 
trên t ng bệnh nhân có khác nhau nên đánh giá 
kết quả phẫu thuật cũng khác nhau nhƣng tựu 
chung vẫn dựa vào các triệu chứng đau, phục 
hồi hính dáng, thể tìch khung sƣờn, chấm dứt 
các biến chứng đƣợc cho là liên quan đến 
xƣơng sƣờn gẫy nhƣ máu màng phổi kéo dài, 
mảng sƣờn di động. 
III. KẾT QUẢ: 
Qua thời gian nghiên cứu t 11/2015 đến 9/2016, chúng tôi thu nhận đƣợc 33 bệnh nhân đƣợc 
phẫu thuật cố định xƣơng sƣờng bằng nẹp vìt, với các đặc điểm sau: 
Bảng 1: Đặc điểm âm sàng của bệnh nhân: 
 Số BN Tỉ lệ 
Giới tình 
 Nam 25 75,7 
 Nữ 6 24,3 
Độ tuổi trung bính 34 ,4 12,3 tuổi 
PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GÃY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 
 41 
Điều trị tại thời điểm nhập viện 
 DLMP 19 57,6 
 Thở máy 3 9,1 
 Nội khoa (giảm đau) 11 33,3 
Tổn thƣơng khác đi kèm 
 Không 6 18,2 
 Chấn thƣơng sọ não 10 30,3 
 Tổn thƣơng tạng ổ bụng 13 39,4 
 Gãy xƣơng khác đi kèm 22 66,7 
Số lƣợng xƣơng sƣờn gãy 
 < 2 xƣơng 1 3,1 
 3- 6 xƣơng 25 75,7 
 > 6 xƣơng 7 21,2 
Chỉ định phẫu thuật 
 Mảng sƣờn di động 4 12,1 
 Biến dạng thành ngực 7 21, 
 Gãy > 3 xƣơng + đau 15 45,5 
 Gãy > 3 xƣơng + di lệch > 1 thân xƣơng 4 12,1 
 Gãy > 3 xƣơng + có mảnh xƣơng thứ 3 3 9,1 
Bảng 2: Đặc điểm phẫu thuật của nhóm nghiên cứu: 
 Số BN Tỉ lệ 
Số lƣợng xƣơng cố định 
 2 xƣơng 12 36,4 
 3 xƣơng 16 48,5 
 4 xƣơng 5 15,1 
Thời gian phẫu thuật trung bính 75,3 26,3 phút 
Phẫu thuật kèm theo 
 DLMP sau mổ 30 90,1 
 Lấy máu đông MP 5 15,2 
 Khâu phổi rách 2 6,1 
 Cố định xƣơng đòn 11 33,3 
Thở máy sau mổ 4 12,1 
Thời gian thở máy trung bính 36,4 10,4 giờ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 42 
Biến chứng sau mổ 
 Tụ dịch vết mổ 1 3,1 
 Bung ốc vìt 1 3,1 
Thời gian rút ODL sau mổ 3,2 1,4 ngày 
Thời gian nằm viện sau mổ 6,5 2,7 ngày 
Có 4 trƣờng hợp mảng sƣờn di động đƣợc điều trị kết hợp nẹp cố định xƣơng sƣờn và thở máy. 
Trong đó chỉ có một ca dùng 2 nẹp trên một xƣơng sƣờn cho hai đầu gãy còn 3 ca chỉ cần nẹp 1 đầu gẫy. 
Bệnh án minh hoạ 1: BN nam, 66 tuổi, chỉ định phẫu thuật: Gẫy nhiều xƣơng sƣờn gây biến 
dạng thành ngực. 
Trƣớc mổ 
Sau mổ 
Bệnh án minh hoạ 2: BN nam, 64 tuổi, chỉ định phẫu thuật: gãy > 3 xƣơng sƣờn + di lệch 
hơn 1 thân xƣơng/ Tràn máu MP T. 
Trƣớc mổ 
Sau mổ 
PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GÃY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 
 43 
IV. BÀN LUẬN : 
Tỉ lệ bệnh nhân nam chiếm đa số 75,6 
với độ tuổi trung bính của nhóm nghiên cứu là 
34 tuổi phản ánh các bệnh nhân đang ở độ tuổi 
lao động chình ví vậy việc phục hồi và nhanh 
chóng trở lại công việc thƣờng ngày là đều hết 
sức quan trọng. 
Tỉ lệ 57,6 bệnh nhânđƣợc nẹp xƣơng 
sƣờn có dẫn lƣu màng phổi lúc nhập viện (do tràn 
máu hay/và khì màng phổi), 9,1 bệnh nhân phải 
thở máy (do suy hô hấp hoặc/và mảng sƣờn di 
động) phản ánh việc gẫy nhiều xƣơng sƣờn 
thƣờng gắn với nhiều biến chứng của lồng 
ngực.Số lƣợng xƣơng sƣờn gãy t 3 đến 6 trong 
nghiên cứu là 75,6 .Cố định xƣơng sƣờn giúp 
chấm dứt các biến chứng trên.Bệnh nhân có các 
tổn thƣơng gãy xƣơng ở vị trì khác đi kèm chiếm 
66,7 , chấn thƣơng sọ não và tổn thƣơng tạng ổ 
bụng chiếm tỉ lệ 30,4 và 39,3 .Việc điều trị các 
tổn thƣơng đe dọa tình mạng trƣớc, lúc thời điểm 
nhập viện là ƣu tiên số một, việc phẫu thuật cố định 
xƣơng sƣờn gãy có thể thực hiện sau, khi bệnh nhân 
đã đƣợc điều trị ổn định. Nếu bệnh nhân có chỉ định 
mở ngực cấp cứu hoặc sớm do các tổn thƣơng khác, 
chúng tôi ủng hộ quan điểm cố định xƣơng sƣờn 
gẫy nếu có phối hợp. Tuy nhiên trong nghiên cứu 
của chúng tôi, không có bệnh nhân nào có chỉ định 
mở ngực cấp cứu hoặc sớm. 
Có 4 bệnh nhân (12,1 )có chỉ định phẫu 
thuật là do mảng sƣờn di động. Granetzny nghiên 
cứu trên 40 bệnh nhân mảng sƣờn di động cho 
thấy rằng phẫu thuật cố định xƣơng sƣờn làm 
giảm thời gian thở máy, thởi gian nằm viện và 
biến chứng viêm phổi (5). Tanka, với 37 trƣờng 
hợp mảng sƣờn di động đƣợc phẫu thuật, cũng 
cho kết quả tƣơng tự (6). 
Viêm phổicó thể xẩy ra phụ thuộc số lƣợng 
xƣơng sƣờn gẫy, tuổi, các tổn thƣơng đi kèm và 
thể trạng ngƣời bệnh. Máu đông màng phổi, thực 
chất là máu chảy rỉ rả và tìch tụ trong khoang 
lồng ngực thƣờng gắn liền với gẫy xƣơng sƣờn 
hoặc dập phổi, không tự hết bằng dẫn lƣu đơn 
thuần, nên đƣợc mổ nội soi làm sạch sớm, tuy 
nhiên nếu có gãy xƣơng sƣờn và tái phát, nên cố 
định xƣơng sƣờn do nguy cơ mủ màng phổi: 
chiếm tới 33 ở những bệnh nhân có mmáu đông 
màng phổi so với 2 ở bệnh nhân không có 
máu đông màng phổi trong nghiên cứu của 
Karmy (7). Khớp giả xƣơng sƣờn cũng đƣợc 
báo cáo là chỉ định cho nẹp xƣơng sƣờn (8,9). 
Tuy nhiên chúng tôi không gặp khớp giả ở bệnh 
nhân gẫy xƣơng sƣờn. 
Gãy 3 xƣơng sƣờn trở lên đƣợc coi là gẫy 
nhiều sƣờn, thƣờng kèm theo đau khó kiểm soát 
đƣợc bằng thuốc giảm đau, gây rất nhiều phiền 
toái cho ngƣời bệnh. Nhiểu tác giả cũng cho 
rằngkhi cố định xƣơng sƣờn gãy s làm bệnh 
nhân giảm đau khi cử động, khi ho, và hìt thở 
(9,10), tuy nhiên hiện vẫn chƣa có các nghiên cứu 
tiền cứu có đối chứng để chứng minh cho giả 
thuyết này. Chúng tôi ghi nhận các bệnh nhân 
này sau phẫu thuật có mức độ giảm đau rõ rệt 
so với trƣớc khi phẫu thuật, bệnh nhân nhanh 
chóng phục hồi và sinh hoạt trở lại. Điều nảy 
rất có ý nghĩa cho bệnh nhân, tránh tính trạng 
nằm bất động lâu, bệnh nhân không dám xoay 
trở gây tính trạng ứ đọng đàm nhớt dẫn tới viêm 
phổi hay xẹp phổi. 
 Về đặc điểm phẫu thuật, ghi nhận chủ yếu 
là cố định 3 xƣơng sƣờn gãy chiếm tỉ lệ 48,55, cố 
định 2 xƣơng sƣờn gãy 36,4 . Số lƣợng ổ xƣơng 
sƣờn gãy đƣợc nẹp s đƣợc quyết định bởi tổng 
trạng khung sƣờn của bệnh nhân qua hính ảnh CT 
scan ngực dựng hính và số lƣợng xƣơng sƣờn 
gẫy/ ổ gẫy xƣơng sƣờn sao cho với số lƣợng điểm 
ghép v a đủ để làm vững chắc và khôi phục thể 
tìch khunng sƣờn với tiêu chì hiệu quả cao nhất 
với chi phì thấp nhất. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 
 44 
 Về biến chứng của phẫu thuật, chúng tôi 
ghi gặp 2 có trƣờng hợp: 1 tụ dịch vết mổ và 1 
bung ốc vìt. Chúng tôi không ghi nhận trƣờng 
hợp nào tràn máu/ dịch sau mổ.Tanaka theo dõi 
trong 6 tháng không ghi nhận biến chứng vào và 
bệnh nhân đƣợc phẫu thuật s nhanh chóng trở lại 
cuộc sống bính thƣờng hơn bệnh nhân điều trị nội 
khoa(6). Mayberry theo dõi trong 48 tháng cung 
không ghi nhận biến chứng và bệnh nhân có chất 
lƣợng sống tốt hơn (11). Cambell theo dõi trong 6 
tháng ghi nhận chỉ có 5 bệnh nhân bị nhiễm trùng 
vết mổ và 1 bệnh nhân bị bung ốc vìt (12). 
V. KẾT LUẬN: 
Phẫu thuật cố định xƣơng sƣờn gãy là một 
phẫu thuật an toàn, có hiệu quả và có tình khả thi 
cao. Phẫu thuật nẹp cố định ổ gãy xƣơng sƣờn có 
hiệu quả chấm dứt hoàn toàn đau do gãy xƣơng, 
giúp liền xƣơng nhanh, giúp phục hồi thể tìch 
khung sƣờn, chấm dứt các biến chứng do gãy 
xƣơng sƣờn gây ra nhƣ tràn máu màng phổi kéo 
dài và máu đông màng phổi.Nẹp cố định xƣơng 
sƣờn có giá trị tuyệt đối tốt cho mảng sƣờn di 
động, làm giảm hoặc không cần thở máy.Việc 
nẹp xƣơng sƣờn giúp giảm thời gian nằm viện, 
giúp bệnh nhân nhanh chóng trở lại cuộc sống 
bính thƣờng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ziegler DW, Agarwal NN. The 
morbidity and mortality of rib fractures. J Trauma 
1994;37(6):975-979. 
2. Sirmali M, Türüt H, Topçu S, et al. A 
comprehensive analysis of traumatic rib fractures: 
morbidity, mortality and management. Eur J 
Cardiothorac Surg 2003; 24:133. 
3. Brasel KJ, Guse CE, Layde P, Weigelt 
JA. Rib fractures: relationship with pneumonia 
and mortality. Crit Care Med 2006; 34:1642. 
4. Lee RB, Bass SM, Morris JA Jr, 
MacKenzie EJ. Three or more rib fractures as an 
indicator for transfer to a Level I trauma center: a 
population-based study. J Trauma 1990; 30:689. 
5. Granetzny A, Abd El-Aal M, Emam E, 
et al. Surgical versus conservative treatment of 
flail chest. Evaluation of the pulmonary status. 
Interact Cardiovasc Thorac Surg 2005; 4:583. 
6. Tanaka H, Yukioka T, Yamaguti Y, et 
al. Surgical stabilization of internal pneumatic 
stabilization? A prospective randomized study of 
management of severe flail chest patients. J 
Trauma 2002; 52:727. 
7. Karmy-Jones R, Holevar M, Sullivan RJ, 
et al. Residual hemothorax after chest tube 
placement correlates with increased risk of 
empyema following traumatic injury. Can Respir 
J 2008; 15:255. 
8. Anavian J, Guthrie ST, Cole PA. 
Surgical management of multiple painful rib 
nonunions in patient with a history of severe 
shoulder girdle trauma: a case report and 
literature review. J Orthop Trauma 2009; 23:600. 
9. Cacchione RN, Richardson JD, Seligson 
D. Painful nonunion of multiple rib fractures 
managed by operative stabilization. J Trauma 
2000; 48:319. 
10. Croce EJ, Mehta VA (1979) 
Intercostal pleuroperitoneal hernia. J Thorac 
Cardiovasc Surg 77:856–857 
11. Mayberry JC, Terhes JT, Ellis TJ, 
Wanek S, Mullins RJ (2003) Absorbable plates 
for rib fracture repair: preliminary experience. J 
Trauma 55:835–839 
Campbell N, Conaglen P, Martin K, 
Antippa P. Surgical stabilization of rib frac- tures 
using Inion OTPS wraps-techniques and quality 
of life follow-up. J Trauma. 2009;67:596-601

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_dieu_tri_xuong_suon_gay_bang_nep_vit_co_dinh_chi.pdf