Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi
33 bệnh nhân được nẹp cố định xương sườn
sử dụng nẹp vìt titanium. Trong đó, 12 bệnh nhân
được nẹp 2 vị trì, 16 bệnh nhân được nẹp 3 vị trì,
5 bệnh nhân được nẹp 4 vị trì. Có 4 bệnh nhân có
mảng sườn di động, trong đó, chỉ có 1 bệnh nhân
được sử dụng 2 nẹp trên cùng một xương sườn, 3
bệnh nhân còn lại chỉ sử dụng một nẹp cho 1
xương sườn. Các bệnh nhân sau mổ hết hoàn toàn
các triệu chứng đau và tràn máu màng phổi, đồng
thời cũng khôi phục thể tìch khung ngực.Mảng
sườn di động chấm dứt ở cả 4 ca.
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật điều trị xương sườn gẫy bằng nẹp vít cố định: chỉ định, hiệu quả và tính khả thi
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 38 PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GẪY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI Vũ Hữu Vĩnh *, Nguyễn Viết Đăng Quang * TÓM TẮT: 33 bệnh nhân đƣợc nẹp cố định xƣơng sƣờn sử dụng nẹp vìt titanium. Trong đó, 12 bệnh nhân đƣợc nẹp 2 vị trì, 16 bệnh nhân đƣợc nẹp 3 vị trì, 5 bệnh nhân đƣợc nẹp 4 vị trì. Có 4 bệnh nhân có mảng sƣờn di động, trong đó, chỉ có 1 bệnh nhân đƣợc sử dụng 2 nẹp trên cùng một xƣơng sƣờn, 3 bệnh nhân còn lại chỉ sử dụng một nẹp cho 1 xƣơng sƣờn. Các bệnh nhân sau mổ hết hoàn toàn các triệu chứng đau và tràn máu màng phổi, đồng thời cũng khôi phục thể tìch khung ngực.Mảng sƣờn di động chấm dứt ở cả 4 ca. Từ k óa: Cố định xƣơng sƣờn, nẹp xƣơng sƣờn, chấn thƣơng ngực, gãy xƣơng sƣờn. FIXATION OF RIB FRACTURES BY RIB PLATING: INDICATION, RESULT SUMMARY: There were 33 cases. Among them, 12 patients were applied 2 plates, 16 patients with 3 plates, and 5 patients with 4 plates. There were 4 cases with flailed chest, among them, only one had two plates in the same rib, three others had one only. Postoperatively, patients were free of pain and hemothorax and also restoring rib cage volume.Flailed chest were well treated in all 4 cases. Keywords: Rib fixation, rib plating, chest trauma, rib fracture I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Gẫy xƣơng sƣờn là tổn thƣơng thƣờng gặp nhất trong chấn thƣơng ngực, chiếm tới 10 chấn thƣơng nói chung và 33 chấn thƣơng ngực(1). Gãy xƣơng sƣờn có thể là nguyên nhân gây biến chứng tràn máu khoang màng phổi, máu đông màng phổi, nếu không xử trì tốt có thể diễn biến thành mủ màng phổi. Tỷ lệ biến chứng tăng theo số xƣơng sƣờn gẫy. Gẫy t 3 xƣơng sƣờn trở lên có nguy cơ gây các biến chứng cần đƣợc nằm viện theo dõi và xử lý các biến chứng (2,3,4). Gẫy t 6 xƣơng sƣờn trở lên có nguy cơ có những biến chứng đe dọa tình mạng.Gẫynhiều xƣơng sƣờn thƣờng đau, xƣơng sƣờn gãy có thể tự liền nhƣng cần thời gian, khoảng t 4 đến 6 tháng.Trong thời gian chờ liền xƣơng, đau có thể giảm dần nhƣng không hết hẳn, tạo cảm giác khó chịu, đau nhói mỗi khi có đụng chạm hoặc vận đông.6 Khi có 3 xƣơng sƣờn liền nhau bị gẫy cả ở hai đầu và các ổ xƣơng gẫy nằm trên hai đƣờng thẳng s tạo thành mảng sƣờn di động, gây hô hấp đảo chiều và lắc lƣ trung thất, gây suy hô hấp. Đôi khi, gẫy nhiều xƣơng sƣờn s làm biến dạng thành ngực, làm hẹp lại khoang lồng ngực, giảm dung tìch thở. Ví những lý do trên, gẫy nhiều xƣơng sƣờn, cũng nhƣ các loại xƣơng khác trong cơ thể, cần đƣợc cố định lại để giảm biến chứng, để chóng liền xƣơng, và để phục hồi chất lƣợng cuộc sống. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của việc cố định xƣơng sƣờn gẫy trong điều trị chấn thƣơng ngực.Nhiều tác giả báo cáo những phiên tiện cố định xƣơng sƣờn khác khau, nhƣng cố định xƣơng sƣờn bằng * Khoa ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Ch r y Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Vũ Hữu Vĩnh Ngày nhận bài: 15/10/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/11/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Lê Ngọc Thành PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GÃY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 39 nẹp vìt cố định đƣợc nhiều tác giả ủng hộ và sử dụng rộng rải.Ở Việt Nam chƣa thấy có báo cáo.Chúng tôi áp dụng phƣơng pháp điều trị cố định xƣơng sƣờn gẫy bằng nẹp vìt và tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá chỉ định, hiệu quả và tình khả thi của phƣơng pháp cố định xƣơng sƣờn gẫy bằng nẹp vìt. II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp hồi cứu mô tả các bệnh nhân đƣợc phẫu thuật nẹp xƣơng sƣờn gẫy do chấn thƣơng trong thời gian gần một năm t 11/2015 đến 9/2016 và thu nhận đƣợc 33 bệnh nhân. Các bệnh nhân này đều không có có phẫu thuật mở ngực do các tổn thƣơng bên trong. Chỉ định đƣợc áp dụng bao gồm: 1. Gẫy t 3 xƣơng sƣờn trở lên, ở các vị trì bất kỳ, có di lệch chồng hoặc di lệch ngang 1 thân xƣơng. Các yếu tố cộng thêmbao gồm: * Gẫy trên hàng loạt 6 xƣờng sƣờn trở lên, liên tiếp. * Có 2 vị trì gẫy trên 1 xƣơng sƣờn hoặc có mảnh rời. * Có biến dạng khung sƣờn làm giảm thể tìch lồng ngực * Gẫy xƣơng sƣờn, có máu đông màng phổi đã phẫu thuật nội soi rửa hút dẫn lƣu tiêu chuẩn mà vẫn tái phát. * Đau nhiều ổ gẫy (có thể áp dụng cho chỉ gẫy 2 xƣơng sƣờn) 2. Có mảng sƣờn di động phải tiến hành nẹp vìt cố định ngay để tránh suy hô hấp 3. Khớp giả xƣơng sƣờn. Chỉ định có tình chất tƣơng đối với sự đồng thuận của ngƣời bệnh sau khi đƣợc giải thìch kỹ lợi ìch và hạn chế của phẫu thuật. Bệnh nhân đƣợc đánh giá toàn thân các chấn thƣơng khác kèm theo, tính trạng trƣớc phẩu thuật, đƣợc chụp CT scan ngực có cản quang và dựng hính khung sƣờn nhằm đánh vị trì, độ di lệch, số lƣợng xƣơng sƣờn gãy và các tổn thƣơng khác đi kèm. - Phƣơng pháp phẫu thuật: Chúng tôi sử dụng nẹp sƣờn titan (H.1) vìt trực tiếp vào thân xƣơng để cố định ổ gẫy. Hình 1. Nẹp vìt titan cho xƣơng sƣờn. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 40 Đánh giá vị trì các ổ gẫy, dự kiến số lƣợng và vị trì các ổ gẫy cần nẹp cố định. Không cần phải cố định đủ các ổ gẫy. Nhiều khi gẫy hàng loạt, chỉ cần 2,3 nẹp là đủ cố định toàn bộ khung sƣờn. Có thể cách một sƣờn, nẹp một sƣờn hoặc cách một sƣờn nẹp 2 sƣờn tùy vào t ng trƣờng hợp cụ thể (H.2). Hình 2. Nẹp 8 lỗ ở trên và nẹp 6 lỗ ở dƣới. Dùng nẹp 8 lỗ, mỗi bên ổ gẫy 4 lỗ. Dùng xen k vìt phá và vìt giữ. Đôi khi ở những vị trì đặc biệt, chúng tôi dùng nẹp 6 lỗ vì dụ nhƣ gẫy sát cột sống, vùng sụn sƣờn. Độ dài của vìt tùy vào độ dầy của xƣơng sƣờn cụ thể, có thể t 10 đến 15 mm. Để đƣờng mổ nhỏ, không nhất thiết tất cả các vìt phải đƣợc bắt vuông góc với mặt xƣơng/nẹp mà có thể đi xiên chéo do sự cản trở của mũi khoan. Có thể dùng vặn tay thay cho khoan điện ở những góc đặc biệt. Đánh giá kết quả phẫu thuật: Các yếu tố liên quan đến chỉ định chình là tiêu chì để đánh giá kết quả phẫu thuật. Chỉ định trên t ng bệnh nhân có khác nhau nên đánh giá kết quả phẫu thuật cũng khác nhau nhƣng tựu chung vẫn dựa vào các triệu chứng đau, phục hồi hính dáng, thể tìch khung sƣờn, chấm dứt các biến chứng đƣợc cho là liên quan đến xƣơng sƣờn gẫy nhƣ máu màng phổi kéo dài, mảng sƣờn di động. III. KẾT QUẢ: Qua thời gian nghiên cứu t 11/2015 đến 9/2016, chúng tôi thu nhận đƣợc 33 bệnh nhân đƣợc phẫu thuật cố định xƣơng sƣờng bằng nẹp vìt, với các đặc điểm sau: Bảng 1: Đặc điểm âm sàng của bệnh nhân: Số BN Tỉ lệ Giới tình Nam 25 75,7 Nữ 6 24,3 Độ tuổi trung bính 34 ,4 12,3 tuổi PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GÃY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 41 Điều trị tại thời điểm nhập viện DLMP 19 57,6 Thở máy 3 9,1 Nội khoa (giảm đau) 11 33,3 Tổn thƣơng khác đi kèm Không 6 18,2 Chấn thƣơng sọ não 10 30,3 Tổn thƣơng tạng ổ bụng 13 39,4 Gãy xƣơng khác đi kèm 22 66,7 Số lƣợng xƣơng sƣờn gãy < 2 xƣơng 1 3,1 3- 6 xƣơng 25 75,7 > 6 xƣơng 7 21,2 Chỉ định phẫu thuật Mảng sƣờn di động 4 12,1 Biến dạng thành ngực 7 21, Gãy > 3 xƣơng + đau 15 45,5 Gãy > 3 xƣơng + di lệch > 1 thân xƣơng 4 12,1 Gãy > 3 xƣơng + có mảnh xƣơng thứ 3 3 9,1 Bảng 2: Đặc điểm phẫu thuật của nhóm nghiên cứu: Số BN Tỉ lệ Số lƣợng xƣơng cố định 2 xƣơng 12 36,4 3 xƣơng 16 48,5 4 xƣơng 5 15,1 Thời gian phẫu thuật trung bính 75,3 26,3 phút Phẫu thuật kèm theo DLMP sau mổ 30 90,1 Lấy máu đông MP 5 15,2 Khâu phổi rách 2 6,1 Cố định xƣơng đòn 11 33,3 Thở máy sau mổ 4 12,1 Thời gian thở máy trung bính 36,4 10,4 giờ PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 42 Biến chứng sau mổ Tụ dịch vết mổ 1 3,1 Bung ốc vìt 1 3,1 Thời gian rút ODL sau mổ 3,2 1,4 ngày Thời gian nằm viện sau mổ 6,5 2,7 ngày Có 4 trƣờng hợp mảng sƣờn di động đƣợc điều trị kết hợp nẹp cố định xƣơng sƣờn và thở máy. Trong đó chỉ có một ca dùng 2 nẹp trên một xƣơng sƣờn cho hai đầu gãy còn 3 ca chỉ cần nẹp 1 đầu gẫy. Bệnh án minh hoạ 1: BN nam, 66 tuổi, chỉ định phẫu thuật: Gẫy nhiều xƣơng sƣờn gây biến dạng thành ngực. Trƣớc mổ Sau mổ Bệnh án minh hoạ 2: BN nam, 64 tuổi, chỉ định phẫu thuật: gãy > 3 xƣơng sƣờn + di lệch hơn 1 thân xƣơng/ Tràn máu MP T. Trƣớc mổ Sau mổ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XƢƠNG SƢỜN GÃY BẰNG NẸP VÍT CỐ ĐỊNH: CHỈ ĐỊNH, HIỆU QUẢ VÀ TÍNH KHẢ THI 43 IV. BÀN LUẬN : Tỉ lệ bệnh nhân nam chiếm đa số 75,6 với độ tuổi trung bính của nhóm nghiên cứu là 34 tuổi phản ánh các bệnh nhân đang ở độ tuổi lao động chình ví vậy việc phục hồi và nhanh chóng trở lại công việc thƣờng ngày là đều hết sức quan trọng. Tỉ lệ 57,6 bệnh nhânđƣợc nẹp xƣơng sƣờn có dẫn lƣu màng phổi lúc nhập viện (do tràn máu hay/và khì màng phổi), 9,1 bệnh nhân phải thở máy (do suy hô hấp hoặc/và mảng sƣờn di động) phản ánh việc gẫy nhiều xƣơng sƣờn thƣờng gắn với nhiều biến chứng của lồng ngực.Số lƣợng xƣơng sƣờn gãy t 3 đến 6 trong nghiên cứu là 75,6 .Cố định xƣơng sƣờn giúp chấm dứt các biến chứng trên.Bệnh nhân có các tổn thƣơng gãy xƣơng ở vị trì khác đi kèm chiếm 66,7 , chấn thƣơng sọ não và tổn thƣơng tạng ổ bụng chiếm tỉ lệ 30,4 và 39,3 .Việc điều trị các tổn thƣơng đe dọa tình mạng trƣớc, lúc thời điểm nhập viện là ƣu tiên số một, việc phẫu thuật cố định xƣơng sƣờn gãy có thể thực hiện sau, khi bệnh nhân đã đƣợc điều trị ổn định. Nếu bệnh nhân có chỉ định mở ngực cấp cứu hoặc sớm do các tổn thƣơng khác, chúng tôi ủng hộ quan điểm cố định xƣơng sƣờn gẫy nếu có phối hợp. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, không có bệnh nhân nào có chỉ định mở ngực cấp cứu hoặc sớm. Có 4 bệnh nhân (12,1 )có chỉ định phẫu thuật là do mảng sƣờn di động. Granetzny nghiên cứu trên 40 bệnh nhân mảng sƣờn di động cho thấy rằng phẫu thuật cố định xƣơng sƣờn làm giảm thời gian thở máy, thởi gian nằm viện và biến chứng viêm phổi (5). Tanka, với 37 trƣờng hợp mảng sƣờn di động đƣợc phẫu thuật, cũng cho kết quả tƣơng tự (6). Viêm phổicó thể xẩy ra phụ thuộc số lƣợng xƣơng sƣờn gẫy, tuổi, các tổn thƣơng đi kèm và thể trạng ngƣời bệnh. Máu đông màng phổi, thực chất là máu chảy rỉ rả và tìch tụ trong khoang lồng ngực thƣờng gắn liền với gẫy xƣơng sƣờn hoặc dập phổi, không tự hết bằng dẫn lƣu đơn thuần, nên đƣợc mổ nội soi làm sạch sớm, tuy nhiên nếu có gãy xƣơng sƣờn và tái phát, nên cố định xƣơng sƣờn do nguy cơ mủ màng phổi: chiếm tới 33 ở những bệnh nhân có mmáu đông màng phổi so với 2 ở bệnh nhân không có máu đông màng phổi trong nghiên cứu của Karmy (7). Khớp giả xƣơng sƣờn cũng đƣợc báo cáo là chỉ định cho nẹp xƣơng sƣờn (8,9). Tuy nhiên chúng tôi không gặp khớp giả ở bệnh nhân gẫy xƣơng sƣờn. Gãy 3 xƣơng sƣờn trở lên đƣợc coi là gẫy nhiều sƣờn, thƣờng kèm theo đau khó kiểm soát đƣợc bằng thuốc giảm đau, gây rất nhiều phiền toái cho ngƣời bệnh. Nhiểu tác giả cũng cho rằngkhi cố định xƣơng sƣờn gãy s làm bệnh nhân giảm đau khi cử động, khi ho, và hìt thở (9,10), tuy nhiên hiện vẫn chƣa có các nghiên cứu tiền cứu có đối chứng để chứng minh cho giả thuyết này. Chúng tôi ghi nhận các bệnh nhân này sau phẫu thuật có mức độ giảm đau rõ rệt so với trƣớc khi phẫu thuật, bệnh nhân nhanh chóng phục hồi và sinh hoạt trở lại. Điều nảy rất có ý nghĩa cho bệnh nhân, tránh tính trạng nằm bất động lâu, bệnh nhân không dám xoay trở gây tính trạng ứ đọng đàm nhớt dẫn tới viêm phổi hay xẹp phổi. Về đặc điểm phẫu thuật, ghi nhận chủ yếu là cố định 3 xƣơng sƣờn gãy chiếm tỉ lệ 48,55, cố định 2 xƣơng sƣờn gãy 36,4 . Số lƣợng ổ xƣơng sƣờn gãy đƣợc nẹp s đƣợc quyết định bởi tổng trạng khung sƣờn của bệnh nhân qua hính ảnh CT scan ngực dựng hính và số lƣợng xƣơng sƣờn gẫy/ ổ gẫy xƣơng sƣờn sao cho với số lƣợng điểm ghép v a đủ để làm vững chắc và khôi phục thể tìch khunng sƣờn với tiêu chì hiệu quả cao nhất với chi phì thấp nhất. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 15 - THÁNG 11/2016 44 Về biến chứng của phẫu thuật, chúng tôi ghi gặp 2 có trƣờng hợp: 1 tụ dịch vết mổ và 1 bung ốc vìt. Chúng tôi không ghi nhận trƣờng hợp nào tràn máu/ dịch sau mổ.Tanaka theo dõi trong 6 tháng không ghi nhận biến chứng vào và bệnh nhân đƣợc phẫu thuật s nhanh chóng trở lại cuộc sống bính thƣờng hơn bệnh nhân điều trị nội khoa(6). Mayberry theo dõi trong 48 tháng cung không ghi nhận biến chứng và bệnh nhân có chất lƣợng sống tốt hơn (11). Cambell theo dõi trong 6 tháng ghi nhận chỉ có 5 bệnh nhân bị nhiễm trùng vết mổ và 1 bệnh nhân bị bung ốc vìt (12). V. KẾT LUẬN: Phẫu thuật cố định xƣơng sƣờn gãy là một phẫu thuật an toàn, có hiệu quả và có tình khả thi cao. Phẫu thuật nẹp cố định ổ gãy xƣơng sƣờn có hiệu quả chấm dứt hoàn toàn đau do gãy xƣơng, giúp liền xƣơng nhanh, giúp phục hồi thể tìch khung sƣờn, chấm dứt các biến chứng do gãy xƣơng sƣờn gây ra nhƣ tràn máu màng phổi kéo dài và máu đông màng phổi.Nẹp cố định xƣơng sƣờn có giá trị tuyệt đối tốt cho mảng sƣờn di động, làm giảm hoặc không cần thở máy.Việc nẹp xƣơng sƣờn giúp giảm thời gian nằm viện, giúp bệnh nhân nhanh chóng trở lại cuộc sống bính thƣờng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ziegler DW, Agarwal NN. The morbidity and mortality of rib fractures. J Trauma 1994;37(6):975-979. 2. Sirmali M, Türüt H, Topçu S, et al. A comprehensive analysis of traumatic rib fractures: morbidity, mortality and management. Eur J Cardiothorac Surg 2003; 24:133. 3. Brasel KJ, Guse CE, Layde P, Weigelt JA. Rib fractures: relationship with pneumonia and mortality. Crit Care Med 2006; 34:1642. 4. Lee RB, Bass SM, Morris JA Jr, MacKenzie EJ. Three or more rib fractures as an indicator for transfer to a Level I trauma center: a population-based study. J Trauma 1990; 30:689. 5. Granetzny A, Abd El-Aal M, Emam E, et al. Surgical versus conservative treatment of flail chest. Evaluation of the pulmonary status. Interact Cardiovasc Thorac Surg 2005; 4:583. 6. Tanaka H, Yukioka T, Yamaguti Y, et al. Surgical stabilization of internal pneumatic stabilization? A prospective randomized study of management of severe flail chest patients. J Trauma 2002; 52:727. 7. Karmy-Jones R, Holevar M, Sullivan RJ, et al. Residual hemothorax after chest tube placement correlates with increased risk of empyema following traumatic injury. Can Respir J 2008; 15:255. 8. Anavian J, Guthrie ST, Cole PA. Surgical management of multiple painful rib nonunions in patient with a history of severe shoulder girdle trauma: a case report and literature review. J Orthop Trauma 2009; 23:600. 9. Cacchione RN, Richardson JD, Seligson D. Painful nonunion of multiple rib fractures managed by operative stabilization. J Trauma 2000; 48:319. 10. Croce EJ, Mehta VA (1979) Intercostal pleuroperitoneal hernia. J Thorac Cardiovasc Surg 77:856–857 11. Mayberry JC, Terhes JT, Ellis TJ, Wanek S, Mullins RJ (2003) Absorbable plates for rib fracture repair: preliminary experience. J Trauma 55:835–839 Campbell N, Conaglen P, Martin K, Antippa P. Surgical stabilization of rib frac- tures using Inion OTPS wraps-techniques and quality of life follow-up. J Trauma. 2009;67:596-601
File đính kèm:
phau_thuat_dieu_tri_xuong_suon_gay_bang_nep_vit_co_dinh_chi.pdf

