Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh kinh nghiệm 500 trường hợp

Đặt vấn đề: Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch

cảnh đã được chứng minh là phương pháp điều trị an

toàn, hiệu quả và làm giảm nguy cơ đột quỵ não ở

bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh. Phương pháp này

đã được áp dụng tại một số trung tâm phẫu thuật mạch

máu lớn với kết quả khả quan.

Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh

giá hiệu quả của phẫu thuật bóc lớp trong động mạch

cảnh trong điều trị hẹp động mạch cảnh ngoài sọ.

Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh nhân bị

hẹp động mạch cảnh được phẫu thuật bóc lớp trong

động mạch cảnh tại bệnh viện Thống nhất, Bệnh viện

Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh và Bệnh viện Pháp

Việt trong thời gian 10 năm từ 2004 – 2014

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh kinh nghiệm 500 trường hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh kinh nghiệm 500 trường hợp

Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh kinh nghiệm 500 trường hợp
PHẪU THUẠT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH KINH NGHIỆM 500 TRƯỜNG HỢP 
 31 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH KINH NGHIỆM 500 TRƯỜNG HỢP 
Đỗ Kim Quế*, Lê Phi Long**, Phạm Phi Hùng* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh đã được chứng minh là phương pháp điều trị an 
toàn, hiệu quả và làm giảm nguy cơ đột quỵ não ở 
bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh. Phương pháp này 
đã được áp dụng tại một số trung tâm phẫu thuật mạch 
máu lớn với kết quả khả quan. 
Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh 
giá hiệu quả của phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh trong điều trị hẹp động mạch cảnh ngoài sọ. 
Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh nhân bị 
hẹp động mạch cảnh được phẫu thuật bóc lớp trong 
động mạch cảnh tại bệnh viện Thống nhất, Bệnh viện 
Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh và Bệnh viện Pháp 
Việt trong thời gian 10 năm từ 2004 – 2014. 
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả hàng 
loạt ca. Đánh giá các đặc điểm về tuổi, giới tính, biểu 
hiện lâm sàng. Chẩn đoán thương tổn dựa trên siêu âm 
Duplex, Chụp cắt lớp điện toán động mạch và hoặc X 
quang động mạch. 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh và phục 
hồi động mạch cảnh có miếng vá PTFE hoặc bóc lớp 
trong động mạch cảnh kiểu lộn ngược. 
Đánh giá tỉ lệ tử vong, tỉ lệ đột quỵ não do phẫu 
thuật, sau mổ 1 năm, 5 năm. Tần suất tái hẹp động 
mạch cảnh sau mổ 1 năm, 5 năm. 
Kết quả: Trong thời gian 10 năm 2004 đến 2014 
chúng tôi đã thực hiện 500 phẫu thuật bóc lớp trong 
động mạch cảnh. Tuổi trung bình là 70.2 (49 – 92) Tỉ 
lệ nam/nữ là 4:1. Có 54,8% các trường hợp có tai biến 
mạch máu não mới hoặc cũ. 12,4% trường hợp tổn 
thương cả 2 động mạch cảnh. Tất cả các trường hợp 
đều được gây mê nội khí quản. Động mạch cảnh được 
bóc lớp trong và phục hồi với miếng vá PTFE hoặc 
bóc lộn vỏ động mạch cho các trường hợp có tổn 
thương động mạch cảnh trong. 3 bệnh nhân tử vong 
trong 1 tháng sau mổ; 4 trường hợp đột quỵ não trong 
mổ 1 tháng. 
Theo dõi từ 1 – 10 năm cho thấy sau 1 năm có 3 
trường hợp tử vong, 1 trường hợp đột quỵ não, 6 
trường hợp hẹp tái phát > 50%; sau 5 năm ước tính tỉ 
lệ tử vong 2,0 %, đột quỵ não 1,4%, hẹp tái phát > 
50% là 1,8%. 
Kết luận: Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn cho 
hẹp động mạch cảnh ngoài sọ, tỉ lệ tái hẹp thấp, giảm 
nguy cơ đột quỵ và tử vong do hẹp động mạch cảnh. 
*Từ khóa: Hẹp động mạch cảnh, đột quỵ não, 
phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh.* 
CAROTID ENDARTERECTOMY: 500 CASES 
EXPERIENCES 
SUMMARY 
Background: Carotid endarterectomy is effective 
method for preventing stroke due to carotid stenosis. 
Carotid endarterectomy has been performed in Viet 
nam since 2002. 
The purpose of this study was review our experience 
on carotid endarterectomy in Ho Chi Minh city. 
Methods: Prospective. Eveluate the clinical 
characteristics of stenosis of the carotid. Diagnosis 
was based on Duplex scanning, CT Angiography 
(CTA) and/or angiography. Carotid endarterectomy 
were performed for all of cases with conventional 
carotid endarterectomy or Eversion carotid 
endarterectomy. 
Primary outcomes are mortality rates, stroke 
rates, restenosis at 1 month, 1 year and 5 years after 
operation. 
Result: From 2004 to 2014, 500 carotid 
endarterectomy were done in Thong nhat hospital, 
Univerrsity Medical Hospital at HCMC and FV 
*Bệnh viện Thống nhất. 
** Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đỗ Kim Quế 
Ngày nhận bài: 10/01/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 24/02/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 32 
hospital. Mean age is 70.2 range 46 – 92, male : 
female ratio is 4:1. 54,8% of cases had stroke before, 
12,4% of cases had bilateral carotid stenosis. 
Atherosclerosis are the cause of all cases. All of 
patients were diagnosed by Duplex scan and CTA. 
No procedure-related morbidity or mortality was 
observed. 03 (0,6%) patients died by AMI, and 
pneumonia in 1 month postoperative period, 04 
(0,8%) stroke in 1 month after operation. After 1-10 
years follow up, 5 years mortality rates is 2,0%, stroke 
rates is 1,4%, restenosis is 1,8%. 2 patients died after 
2 years and 5 years due to cancer, 2 had stroke, 6 
recurrent stenosis. 
Conclusions: Carotid endarterectomy is the safe 
and effective methods for preventing stroke due to 
stenosis of carotid artery. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ: 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh được 
De Bakey thực hiện thành công lần đầu tiên năm 
1953. Sau đó năm 1985 Kieny đưa ra phương pháp 
bóc lớp trong động mạch cảnh kiểu lộn vỏ động mạch 
nhằm rút ngắn thời gian kẹp động mạch cảnh và giảm 
tỉ lệ hẹp tái phát. 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh là phẫu 
thuật mạch máu được thực hiện nhiều nhất tại Mỹ, 
Pháp và các nước phát triển, phẫu thuật này đã được 
áp dụng rộng rãi tại các trung tâm phẫu thuật mạch 
máu cho những trường hợp hẹp động mạch cảnh ngoài 
sọ > 60% không triệu chứng lâm sàng, và hẹp > 50% 
có triệu chứng thiếu máu não. 
Phẫu thuật động mạch cảnh đã được thực hiện tại 
bệnh viện Thống Nhất từ năm 2003 và là một trong các 
bệnh viện thực hiện phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh nhiều nhất trong khu vực. Hiện nay nhiều bệnh 
viện trong cả nước đã triển khai phẫu thuật bóc lớp trong 
động mạch cảnh như bệnh viện Việt Đức, bệnh viện 
Bạch Mai, bệnh viện Trung ương Huế, bệnh viện Chợ 
rẫy, bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh. Tuy 
nhiên chưa nhiều báo cáo đánh giá kết quả dài hạn phẫu 
thuật bóc lớp trong động mạch cảnh. [2, 4, 7] 
Hẹp động mạch cảnh là một trong những nguyên 
nhân chính gây đột quỵ não. Theo báo cáo của Mayo 
Clinic 18% các trường hợp đột quỵ não có tổn thương 
các động mạch lớn trong và ngoài sọ. Tần suất hẹp 
động mạch cảnh > 60% ở những bệnh nhân đột quỵ 
lần đầu trong nghiên cứu NOMASS [44] là 7%. Trong 
nghiên cứu Framingham [23], 9% nam và 7% nữ có 
hẹp động mạch cảnh >50%. Mức độ hẹp động mạch 
cảnh liên quan mật thiết với tần suất của đột quỵ. 
Theo Cinà CS và cộng sự [21], 33% những trường 
hợp hẹp động mạch cảnh từ 80 – 99% có cơn thiếu 
máu não hoặc nhũn não do lấp mạch trong khi đó tỉ lệ 
này chỉ xuất hiện ở 0.4% ở những bệnh nhân hẹp động 
mạch cảnh dưới 80%. 
Các nghiên cứu về đột quỵ não đã được nhiều 
trung tâm trong nước thực hiện trong những năm vừa 
qua. Tần suất đột quỵ do thiếu máu nuôi ngày càng 
gia tăng. Theo Lê văn Thành, tần suất đột quỵ não ở 
TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là 415/100.000 
dân trong đó tỉ lệ đột quỵ não mới là 141/100.000 dân. 
Tỉ lệ tử vong do đột quỵ não là 37/100.000 dân. Ước 
tính ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 199.444 trường 
hợp đột quỵ não mới. 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh cho 
những bệnh nhân hẹp từ 70 – 99% làm giảm nguy cơ 
đột quỵ não 17%. Hơn nữa phẫu thuật bóc lớp trong 
động mạch cảnh là một phẫu thuật an toàn tỉ lệ tử 
vong và biến chứng dưới 5% ở những bệnh nhân có 
triệu chứng và dưới 3% ở những bệnh nhân không có 
triệu chứng. [8, 21, 48] Do đó việc phát hiện sớm hẹp 
động mạch cảnh ngoài sọ và điều trị đúng đắn sẽ góp 
phần làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não. 
 Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục 
tiêu đánh giá kết quả trước mắt và lâu dài của phẫu 
thuật bóc lớp trong động mạch cảnh trong điều trị hẹp 
động mạch cảnh ngoài sọ. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 
Tất cả những trường hợp hẹp động mạch cảnh 
ngoài sọ được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Thống 
nhất, bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh và 
bệnh viện Pháp Việt trong thời gian 10 năm từ năm 
2004 tới năm 2014. 
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu mô tả 
cắt dọc. 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH KINH NGHIỆM 500 TRƯỜNG HỢP 
 33 
· Đặc điểm bệnh nhân: 
o Tất cả bệnh nhân được đánh giá các yếu tố: 
tuổi, giới, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu. 
o Các dấu hiệu lâm sàng: Tai biến mạch máu 
não, thiếu máu não thoáng qua, âm thổi vùng động 
mạch cảnh. 
· Chẩn đoán mức độ hẹp dựa trên: Siêu âm 
Duplex, Chụp cắt lớp điện toán động mạch (CTA) và/ 
hoặc X quang động mạch. 
· Chỉ định phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh cho các trường hợp: 
o Hẹp động mạch cảnh trên 70% không có triệu 
chứng. 
o Hẹp > 50% nhưng có loét trên mảng xơ vữa và 
có triệu chứng. 
· Phương pháp phẫu thuật: 
o Tất cả bệnh nhân đều được gây mê nội khí 
quản. 
o Bóc lớp trong động mạch cảnh kiểu lộn ngược 
vỏ động mạch hoặc mở dọc động mạch kinh điển có 
dùng miếng vá PTFE khâu phục hồi động mạch. 
· Đánh giá kết quả: 
o Kết quả phẫu thuật: 
§ Đánh giá tỉ lệ tử vong, phân tích nguyên nhân 
tử vong 
§ Tỉ lệ các biến chứng: đột quỵ não, và các biến 
chứng khác. 
o Kết quả lâu dài: đánh giá tỉ lệ tử vong, đột quỵ 
não, theo dõi định kỳ 1 tháng, 3 tháng và mỗi 6 tháng 
sau mổ. 
§ Sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng, 
§ siêu âm Duplex kiểm tra. 
§ Đánh giá tỉ lệ tái hẹp, tỉ lệ đột quỵ tái phát. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 
3.1 Đặc điểm bệnh nhân: Trong thời gian 10 
năm chúng tôi thực hiện phẫu thuật cho 500 trường 
hợp hẹp động mạch cảnh ngoài sọ trong đó 386 bệnh 
nhân là nam. Tuổi trung bình: 70.2 + 10.3 trong đó trẻ 
nhất là 49 và lớn tuổi nhất là 92 tuổi, 62.5% bệnh 
nhân trên 70 tuổi. 
3.2 Đặc điểm lâm sàng: 
Cao huyết áp ghi nhận ở 421 trường hợp. 
Tiền sử tai biến mạch máu não ghi nhận ở 274 
trong số 200 trường hợp, trong đó 82 trường hợp có 
nhũn não mới trong vòng 6 tuần. 
Âm thổi vùng động mạch cảnh phát hiện ở 224 
trường hợp. 
Dấu hiệu thiếu máu não thoáng qua: 215 bệnh 
nhân. 
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng 
Đặc điểm lâm sàng 
Số trường 
hợp 
% 
Cao huyết áp 421 84,2 
Di chứng tai biến mạch máu não 192 38,4 
Tai biến mạch máu não mới 82 16,4 
Cơn thiếu máu não 251 50,2 
Âm thổi vùng động mạch cảnh 224 44,8 
3.3 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh học: 
Siêu âm Duplex động mạch cảnh được thực hiện 
ở tất cả các trường hợp. 
Chụp cắt lớp điện toán động mạch được thực hiện 
ở 470 trường hợp. 
MRA được thực hiện cho 65 trường hợp. 
X quang động mạch được thực hiện cho 27 
trường hợp. 
3.4 Vị trí động mạch hẹp: 
Trong 500 trường hợp hẹp/tắc động mạch cảnh đã 
phẫu thuật của chúng tôi có 82 trường hợp có tổn 
thương cả 2 động mạch cảnh, 418 trường hợp hẹp 1 
động mạch cảnh với phân bố: 
Bảng 2: Vị trí động mạch hẹp 
Vị trí hẹp Số trường hợp % 
Hai động mạch 82 16,4 
Một động mạch 418 83,6 
Động mạch cảnh P 
Động mạch cảnh T 
198 
220 
47,4 
52,6 
3.5 Mức độ hẹp: 
Chúng tôi đánh giá mức độ hẹp dựa trên các 
phương pháp chẩn đoán hình ảnh học có đối chiếu với 
kết quả trong mổ. 
Bảng 3: Mức độ hẹp. 
Mức độ hẹp Số trường hợp % 
50 – 80% 42 8,4 
80 – 99% 424 84,8 
100% 34 6,8 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 34 
3.6 Phương pháp phẫu thuật: 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh được 
áp dụng cho tất cả các trường hợp, 456 trường hợp có 
dùng miếng vá PTFE tái tạo lại động mạch cảnh, 4 
trường hợp ghép ống PTFE cảnh gốc – phình cảnh. 74 
trong số 500 trường hợp được đặt shunt tạm chiếm tỉ 
lệ 14,8%. 
Bảng 4: Phương pháp phẫu thuật. 
Phương pháp phẫu thuật 
Số trường 
hợp 
% 
Bóc lớp trong động mạch, đặt 
miếng vá động mạch. 
456 91,2 
Bóc lớp trong động mạch, ghép 
ống động mạch nhân tạo. 
4 0,8 
Bóc lớp trong động mạch kiểu 
lộn ngược. 
40 8,0 
3.7 Kết quả điều trị: 
Kết quả ngắn hạn: 03 trường hợp tử vong trong 
30 ngày sau mổ do viêm phổi suy hô hấp chiếm tỉ lệ 
0,6%. 04 trường hợp bị nhồi máu não sau mổ chiếm tỉ 
lệ 0,8%. 
Kết quả lâu dài: Theo dõi từ 1 tới 10 năm. 
Cải thiện triệu chứng lâm sàng ghi nhận ở các 
trường hợp có biểu hiện thiếu máu não trước mổ. 
Kết quả siêu âm Duplex kiểm tra sau mổ 1 tháng 
cho thấy không còn hẹp động mạch cảnh ở tất cả các 
trường hợp. 
Sau 1 năm, có 3 bệnh nhân tử vong, một bệnh nhân 
bị đột quỵ não, 6 bệnh nhân bị hẹp tái phát > 50%. 
Sau 5 năm tỉ lệ bênh nhân còn sống đạt 90,2%, Tỉ 
lệ bệnh nhân không đột quỵ tái phát đạt 86,8%. 
4. BÀN LUẬN: 
Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ là nguyên nhân 
chính gây ra cơn thiếu máu não cục bộ và nhũn não. Phát 
hiện sớm và điều trị thích hợp sẽ giúp bệnh nhân hồi 
phục tốt và giảm nguy cơ nhũn não. Phẫu thuật bóc lớp 
trong động mạch cảnh ở bệnh nhân chưa đột quỵ sẽ làm 
giảm nguy cơ đột quỵ và tàn phế cho bệnh nhân. 
Hẹp động mạch cảnh thường thấy ở bệnh nhân 
lớn tuổi, trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi trung 
bình của bệnh nhân là 70,2, trong đó 62.5% bệnh nhân 
trên 70 tuổi. Điều này cũng tương tự các nghiên cứu 
khác trong y văn. 
Đa số bệnh nhân của chúng tôi nhập viện ở giai 
đoạn muộn khi đã có nhũn não mới hoặc đã thành di 
chứng với tỉ lệ 54,8%. So với các nghiên cứu tại Âu 
Mỹ, tỉ lệ phẫu thuật hẹp động mạch cảnh ở bệnh nhân 
đã có đột quỵ của chúng tôi cao hơn nhiều. Tuy nhiên 
so với giai đoạn trước 2005 tỉ lệ phẫu thuật hẹp động 
mạch cảnh khi chưa đột quỵ đã tăng rõ rệt. (Bảng 5) 
Bảng 5: Đặc điểm bệnh nhân. 
ECST 
[38] 
NASCET 
[32] 
VACSP 
[48] 
Đỗ Kim 
Quế [6] 
Thời gian nghiên cứu 
1981-
1995 
1987-
1997 
1988-
1991 
2004-
2012 
Số trung tâm nghiên cứu 97 106 16 1 
Thiếu máu não thoáng qua 38 38 57.2 
Đột quỵ 43 24 51.3 
Hẹp động mạch cảnh đối 
bên > 50% 
6 4 18.3 
Tuổi trung bình 63 65 66 72.2 
Nam 72 69 100 79.2 
Hút thuốc lá 52 31 92 70.9 
Tiểu đường 12 21 30 37.9 
Siêu âm Duplex động mạch cảnh là phương pháp 
chẩn đoán hình ảnh rất có giá trị trong chẩn đoán hẹp 
động mạch cảnh. Tất cả các trường hợp hẹp động 
mạch cảnh trong nghiên cứu của chúng tôi đều được 
làm siêu âm Duplex động mạch cảnh và cột sống với 
kết quả chính xác cao. Tại nhiều trung tâm lớn người 
ta có thể phẫu thuật dựa trên kết quả Duplex động 
mạch cảnh. Tuy nhiên độ nhậy và độ chuyên biệt của 
phương pháp này tùy thuộc rất nhiều vào trình độ của 
bác sĩ siêu âm. [13, 18, 22] 
Filis và cộng sự [22] nghiên cứu về siêu âm 
duplex đánh giá mức độ hẹp động mạch cảnh trên 163 
bệnh nhân với 326 động mạch cảnh được khảo sát. 
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự phù hợp cao giữa 
Duplex và chụp X quang động mạch cảnh với hệ số 
tương quan là 0.96. Tác giả đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn 
đoán mới dựa vào vận tốc dòng máu. 
Theo Fillis và cộng sự, [22] siêu âm Duplex động 
mạch cảnh có giá trị rất tốt cho những trường hợp hẹp 
dưới 50% hoặc hẹp trên 90%. Với những trường hợp 
hẹp từ 50 – 89% độ nhây cảm và độ chuyên biệt có 
thấp hơn những vẫn đạt trên 80%. 
Chụp cắt lớp điện toán động mạch cảnh là một 
phương pháp chẩn đoán hình ảnh ít xâm lấn có độ 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH KINH NGHIỆM 500 TRƯỜNG HỢP 
 35 
nhậy và độ đặc hiệu cao có thể thay thế chụp X quang 
động mạch. Josephson và cộng sự [29] nghiên cứu so 
sánh giữa chụp cắt lớp điện toán động mạch và x 
quang động mạch cho thấy độ nhậy 100% và độ 
chuyên 63%, giá trị tiên đoán âm của hẹp động mạch 
cảnh < 70% đạt 100%. Độ chính xác của chụp cắt lớp 
điện toán động mạch tùy thuộc vào kinh nghiệm bác sĩ 
đọc kết quả, độ phân giải của máy chụp cắt lớp, lượng 
thuốc cản quang và kỹ thuật tiêm thuốc, ghi hình ảnh. 
Răng giả kim loại, các clip vùng cổ, bệnh nhân béo 
phì không hợp tác tốt cử động trong khi ghi hình ảnh 
sẽ ảnh hưởng tới kết quả chụp cắt lớp điện toán động 
mạch. [2, 28, 29] 
Chụp cắt lớp điện toán động mạch cảnh còn cho 
phép xác định tổn thương động mạch trong sọ, phình 
động mạch đi kèm hoạc các tổn thương khác của não. 
Không giống như Duplex và cộng hưởng từ mạch 
máu, chụp cắt lớp điện toán động mạch cung cấp hình 
ảnh thật của lòng động mạch. Với các máy chụp cắt 
lớp đa lát cắt hình ảnh thu được chính xác hơn. Với kỹ 
thuật dựng hình cấu trúc mạch máu, hình ảnh giải 
phẫu của động mạch có thể thấy rõ. Với các máy chụp 
cắt lớp điện toán hiện đại nhiều đầu dò và nhiều lát cắt 
trên 320 lát cắt sẽ rút ngắn thời gian chụp, cần ít thuốc 
cản quang hơn mà vẫn cho hình ảnh chụp rõ nét và độ 
chính xác cao. 
Theo Cinà và cs. [21] tổng hợp 23 nghiên cứu về 
động mạch cảnh tại châu Âu và bắc Mỹ với 6078 bệnh 
nhân trong đó 3777 bệnh nhân được phẫu thuật bóc 
lớp trong động mạch cảnh. Tác giả kết luận phẫu thuật 
bóc lớp trong động mạch cảnh cho những trường hợp 
hẹp trên 70% sẽ làm giảm nguy cơ đột tử và nhũn não 
48%, và ở những trường hợp hẹp 50-69% làm giảm 
nguy cơ đột tử và tai biến mạch máu não 27%. 
Trường hợp bệnh nhân đã có nhũn não do hẹp 
động mạch cảnh thì chỉ định phẫu thuật nhằm làm giảm 
nguy cơ đột quỵ tái phát. Thời điểm phẫu thuật sau đột 
quỵ được đa số các tác giả thống nhất là 6 tuần. Tuy 
nhiên một số nghiên cứu gần đây cho thấy phẫu thuật 
sớm ở những trường hợp có hồi phục tốt trong vòng 2 
tuần không làm tăng tỉ lệ tử vong và biến chứng nhưng 
giảm nguy cơ tái nhồi máu não. [19, 25, 31] 
 Về phương pháp vô cảm chúng tôi chọn lựa 
phương pháp mê nội khí quản cho tất cả các trường 
hợp. Hiện tại có các trung tâm phẫu thuật bóc lớp 
trong động mạch cảnh với gây tê vùng nhằm đánh giá 
tình trạng tri giác bệnh nhân khi phẫu thuật. 
Kỹ thuật phục hồi động mạch cảnh sau khi bóc 
lớp trong với miếng vá động mạch hoặc trực tiếp tùy 
thuộc kích thước động mạch cảnh. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi miếng vá mạch máu được sử dụng cho 
456/500 trường hợp. 
Bóc lớp trong động mạch với kỹ thuật lộn ngược 
vỏ động mạch rút ngắn thời gian kẹp động mạch cảnh 
và không cần dùng miếng vá động mạch cho kết quả 
tốt trong 40 trường hợp đã tiến hành trong nghiên cứu 
này. [10, 19, 41] 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh là một 
phương pháp hiệu quả và an toàn, tỉ lệ tử vong và biến 
chứng thấp. Theo hầu hết các nghiên cứu lớn tỉ lệ này 
khoảng 0 – 3%. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 3 
trường hợp tử vong tử vong với tỉ lệ 0,6%, tỉ lệ đột 
quỵ trong mổ là 0,8%. 
Kết quả theo dõi lâu dài cho thấy hiệu quả tốt của 
phẫu thuật trong việc cải thiện tình trạng thiếu máu 
não qua lâm sàng và siêu âm Duplex mạch máu. 
Trong nghiên cứu này sau 1 năm và 5 năm tỉ lệ sống 
là 98,8% và 90,2%. Tỉ lệ đột quỵ não sau 1 năm và 
sau 5 năm là 1% và 3,6%. 
5. KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu 500 trường hợp hẹp động mạch 
cảnh đã được điều trị phẫu thuật bóc lớp trong động 
mạch cảnh, chúng tôi rút ra các nhận xét: 
Đa số hẹp động mạch cảnh xảy ra ở bệnh nhân 
nam lớn tuổi có hút thuốc lá. Tỉ lệ bệnh đã bị đột quỵ 
cao (54,8%). 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh với gây 
mê là một phương pháp phẫu thuật an toàn và hiệu 
quả trong điều trị hẹp động mạch cảnh. Tỉ lệ tử vong, 
tỉ lệ tái hẹp thấp, tần suất đột quy não sau phẫu thuật 5 
năm là 3,6 %. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
Tiếng Việt 
1. Đỗ Kim Quế, Chung Giang Đông. (2014). Kết 
quả phẫu thuật cầu nối động mạch vành trong điều 
trị hẹp nhiều nhánh động mạch vành ở bệnh nhân 
có hẹp nặng động mạch cảnh. Tạp chí Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh. 18 (3): 383 – 388. 
2. Đỗ Kim Quế. (2004). Chẩn đoán và điều trị ngoại 
khoa hẹp động mạch cảnh ngoại sọ. Y học thực 
hành. 491: 405 – 409. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 36 
3. Đỗ Kim Quế. (2008). Phẫu thuật bóc lớp trong động 
mạch cảnh 2 bên. Y học Việt Nam, 2(352): 262-74. 
4. Đỗ Kim Quế. (2011). Kết quả ngắn và trung hạn 
phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh. Tạp chí 
Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 15(1): 434 – 439. 
5. Đỗ Kim Quế (2011). Phẫu thuật Bóc lớp trong 
động mạch cảnh: kinh nghiệm 5 năm. Tạp chí Y 
học Thành phố Hồ Chí Minh. 15(2): 248 – 252. 
6. Đỗ Kim Quế, Chung Giang Đông. (2012). Điều trị 
ngoại khoa hẹp động mạch cảnh ngoài sọ: kinh 
nghiệm 200 trường hợp. Tạp chí Y học Thành phố 
Hồ Chí Minh. 16(4): 256 – 261. 
7. Lê Nữ Hòa Hiệp, Nguyễn Thế Hiệp. (2003) Điều 
trị ngoại khoa hẹp động mạch cảnh ngoài sọ nhân 
ba trường hợp tại bệnh viện nhân dân Gia định. Y 
học TP. Hồ Chí Minh. 7 (phụ bản 2):92- 96. 
Tiếng Anh 
8. AbuRahma AF, Robinson PA, Mullin DA, Holt 
SM, Herzotg TA, Mowery NT. (2000) Frequency 
of postoperative cartid duplex serveillance and 
type of closure: Results from randomized trial. 
Vasc Surg. 32:1043-51. 
9. Back MR, Wilson JS, Rushing G, Stordahl N, 
Linden C, et al. (2000) Magnetic resonance 
angiography is an accurate imaging adjunct to 
Duplex ultrasound in patient selection for carotid 
endarterectomy. J Vasc Surg 32:429-41. 
10. Ballotta E, Meneghetti G, Mananra R. (2007). 
Long-term survival and stroke-free survival after 
eversion carotid endarterectomy for asymptomatic 
severe carotid stenosis. J Vasc Surg. 33: 678-83 
11. Ballotta R, Luzzani L, Carugatti C. (2006). 
Routine shunting is a safe and reliable method of 
cerebral protection during carotid endarterectomy. 
Ann Vasc Surg, 12: 243 - 46 
12. Bertoletti G, Varroni A, Misuraca M, Massucci 
M, Pacelli A, et al. (2013) Carotid Artery 
Diameters, Carotid Endarterectomy Techniques 
and Restenosis. J Vasc Med Surg 1: 114 
13. Bluth EI, Sunshine JH, Lyons JB, et al. (2000) 
Power Doppler imaging: initial evaluation as a 
screening examination for carotid artery stenosis. 
Radiology. 215:791– 800. 
14. Bonati LH, Jongen LM, Haller S, et al. (2010). 
New ischemic brain lesions on MRI after stenting 
or endarterectomy for symptomatic carotid 
stenosis: a substudy of the International Carotid 
Stenting Study (ICSS). Lancet Neurol. 9:353– 62. 
15. Broderick J, Brott T, Kothari R, et al. (1998). The 
Greater Cincinnati/Northern Kentucky Stroke 
Study: preliminary first-ever and total incidence 
rates of stroke among blacks. Stroke. 29:415–21. 
16. Brott TG, Hobson RW, Howard G, et al. (2010). 
Stenting versus endarterectomy for treatment of 
carotid-artery stenosis. N Engl J Med. 363:11–23. 
17. Cinà CS, Clase CM, Haynes BR. (1999). Refining 
the indications for carotid endarterectomy in 
patients with symptomatic carotid stenosis: A 
systemic review. J Vasc Surg 30:606-18. 
18. Corriveau MM, Johnston KW. (2004). Interobsever 
variability of carotid Doppler peak velocity 
measurements among technologists in an ICVL-
accredited vascular laboratory. Vasc Surg. 39:735-41. 
19. Demirel S, Attigah N, Bruijnen H, Ringleb P, 
Eckstein H, Fraedrich G, Bo¨ckler D (2012). 
Multicenter Experience on Eversion versus 
Conventional Carotid Endarterectomy in 
Symptomatic Carotid Artery Stenosis. Stroke 
43:1865-1871. 
20. Eckstein HH, Ringleb P, Allenberg JR, et al. 
(2008). Results of the Stent-Protected Angioplasty 
versus Carotid Endarterectomy (SPACE) study 
totreat symptomatic stenoses at 2 years: a 
multinational, prospective, randomised trial. 
Lancet Neurol. 7:893–902. 
21. Executive Committee for the Asymptomatic 
Carotid Atherosclerosis Study. (1995). 
Endarterectomy for asymptomatic carotid artery 
stenosis.JAMA.273:1421– 8. 
22. Filis KA, Arko FR, Johnson BL, Pipinos II, Harris 
EJ, Oncott C, Zarins CK. (2002). Duplex 
ultrasound criteria for defining the severity of 
carotid stenosis. Ann Vasc Surg 416: 213-221. 
23. Fine-Edelstein JS, Wolf PA, O’Leary DH, et al. 
(1994). Precursors of extracranial carotid 
atherosclerosis in the Framingham Study. 
Neurology. 44:1046 –50. 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_boc_lop_trong_dong_mach_canh_kinh_nghiem_500_truo.pdf