Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh: kinh nghiệm 1200 trường hợp tại một trung tâm

Đặt vấn đề: Phẫu thuật bóc lớp trong động

mạch cảnh đã được chứng minh là phương pháp

điều trị an toàn, hiệu quả và làm giảm nguy cơ

đột quỵ não ở bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh

ngoài sọ. Tuy nhiên tại Việt Nam vẫn còn một số

bàn cãi về lợi ích và nguy cơ của phẫu thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá

kết quả của phẫu thuật bóc lớp trong động mạch

cảnh tại bệnh viện Thống Nhất trong 15 năm với

kinh nghiệm 1200 trường hợp

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh: kinh nghiệm 1200 trường hợp tại một trung tâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh: kinh nghiệm 1200 trường hợp tại một trung tâm

Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh: kinh nghiệm 1200 trường hợp tại một trung tâm
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH: KINH NGHIỆM 1200 TRƯỜNG HỢP... 
 83 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH: KINH NGHIỆM 
1200 TRƯỜNG HỢP TẠI MỘT TRUNG TÂM 
Đỗ Kim Quế*, Đào Hồng Quân* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Phẫu thuật bóc lớp trong động 
mạch cảnh đã được chứng minh là phương pháp 
điều trị an toàn, hiệu quả và làm giảm nguy cơ 
đột quỵ não ở bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh 
ngoài sọ. Tuy nhiên tại Việt Nam vẫn còn một số 
bàn cãi về lợi ích và nguy cơ của phẫu thuật này. 
Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá 
kết quả của phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh tại bệnh viện Thống Nhất trong 15 năm với 
kinh nghiệm 1200 trường hợp. 
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả 
hàng loạt ca với toàn bộ 1200 bệnh nhân được 
phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh tại bệnh 
viện Thống Nhất trong thời gian 15 năm từ 2004 
– 2019. Các đặc điểm về tuổi, giới tính, mức độ 
hẹp động mạch cảnh, tiền sử đột quỵ được ghi 
nhận. Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh 
được thực hiện dưới gây mê. Tiến hành bóc lớp 
trong động mạch cảnh qua đường mở dọc động 
mạch và phục hồi động mạch cảnh có miếng vá 
PTFE hoặc bóc lớp trong động mạch cảnh kiểu 
lộn ngược. Ghi nhận thời gian kẹp động mạch 
cảnh. Đánh giá tỉ lệ biến chứng, tử vong và đột 
quỵ não trong phẫu thuật, sau mổ 1 tháng, 1 năm, 
5 năm, tỉ lệ hẹp tái phát động mạch cảnh sau phẫu 
thuật 1 năm và 5 năm. 
Kết quả: Tuổi trung bình là 72,4 (49 – 92) 
Tỉ lệ nam:nữ là 2,6:1. Có 628 trường hợp có đột 
quỵ não trước phẫu thuật chiếm tỉ lệ 52,3 %. Hẹp 
cả 2 động mạch cảnh được ghi nhận ở 224 trường 
hợp chiếm tỉ lệ 18,7%. Bóc lớp trong kiểu lộn vỏ 
động mạch được thực hiện cho 258 trường hợp 
(21,5%); bóc lớp trong động mạch theo phương 
pháp kinh điển áp dụng cho 942 trường hợp 
(78,5%); phục hồi động mạch cảnh với miếng vá 
áp dụng cho 936 trường hợp (99.4%), khâu trực 
tiếp cho 6 trường hợp (0,6%). Thời gian kẹp động 
mạch cảnh trung bình là 23,6 phút. Có 03 bệnh 
nhân tử vong trong 1 tháng sau mổ chiếm tỉ lệ 
0,25%; đột quỵ não trong mổ ở 4 trường hợp 
(0,33%), có 6 trường hợp (0,5%) đột quỵ trong 
thời gian 1 tháng sau phẫu thuật. Theo dõi sau 
phẫu thuật từ 1 tháng – 5 năm cho thấy tử vong 
sau 1 năm, 5 năm là 0,2% và 1,1%; đột quỵ não 
sau 1 năm và 5 năm là 0,1% và 0,8%; hẹp tái phát 
trên 70% tại thời điểm 1 năm và 5 năm sau phẫu 
thuật là 0,1 và 1,0%. 
Kết luận: Phẫu thuật bóc lớp trong động 
mạch cảnh không dùng shunt tạm là phương pháp 
điều trị hiệu quả và an toàn cho hẹp động mạch 
cảnh ngoài sọ, tỉ lệ đột quỵ và tử vong sau phẫu 
thuật thấp. Tỉ lệ tái hẹp và đột quỵ sau 1 năm và 5 
năm rất thấp.1 
Từ khóa: Hẹp động mạch cảnh, đột quỵ 
não, phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh. 
ABSTRACT: CAROTID 
ENDARTERECTOMY: EXPERIENCES 
1,200 CASES IN SINGLE CENTER 
Backgrounds: The value of carotid 
endarterectomy (CEA) has been well established 
in patients with symptomatic and asymptom- atic 
carotid artery stenosis.The purpose of this study 
was review our experiences on carotid 
endarterectomy in Thongnhat hospital during 15 
years with 1,200 cases. 
Methods: All of 1,200 CEA cases in our 
hospital during 15 year from 2004 to 2019 were 
prospectively collected. Eveluate the clinical 
characteristics of stenosis of the carotid. 
Carotid endarterectomy was performed with 
* Khoa Ngoại Tim Mạch Lồng Ngực, Bệnh viện Thống Nhất. 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Đỗ Kim Quế 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 84 
conventional carotid endarterectomy in 942 
cases (78,5%) and Eversion carotid 
endarterectomy in 258 cases (21,5%). Primary 
outcomes are death and stroke in 30 day, 1 year 
and 5 years after operation. Secondary 
outcomes are restenosis over 70% at 1 years 
and 5 years after operation. 
Results: The mean age was 72.4 range 49 
to 92, male:female was 2.6:1. Previous stroke in 
628 patients (54.3%), TIA in 252 patients 
(21.0%) and asymptomatic in 320 patients 
(26.7%). Mean clamping time was 23.4 min. 
Perioperative mortality was 0.25% (3/1,200) with 
myocardial infarction being cause in 2 patients. 
Perioperative neurological morbidity was 0.83% 
(10/1,200) with 4 cases major and 6 minor 
strokes. In 16 cases (1.3%) had cervical 
hematoma, two cases need urgent operation for 
control bleeding. The recurrent laryngeal nerve 
involved in 5 cases (0.4%). The 1-year and 5-year 
mortality was 0.2% and 1.1%. Ipsilateral stroke 
after operation 30 days to 1-year and 5-year were 
0.1% and 0.8%. The rates of restenosis >70% at 1 
year and 5 year are 0.1% and 1.0%. 
Conclusions: Carotid endarterectomy has a 
reduced rate of perioperative complications when 
compared to those previously reported in 
literature. The low complication rate is related to 
improved preoperative patients evaluation, 
surgeons’ increasing experience and to surgical 
and anesthesiological techniques. 
Key words: Carotid stenosis, stroke, carotid 
edaretectomy, eversion carotid endarterectomy. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh được De Bakey thực hiện thành công lần 
đầu tiên năm 1953. Sau đó năm 1985 Kieny đưa 
ra phương pháp bóc lớp trong động mạch cảnh 
kiểu lộn vỏ động mạch nhằm rút ngắn thời gian 
kẹp động mạch cảnh và giảm tỉ lệ hẹp tái 
phát.(1,2) 
 Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh 
là phẫu thuật mạch máu được thực hiện nhiều 
nhất tại Mỹ, Pháp và các nước phát triển, phẫu 
thuật này được chỉ định cho những trường hợp 
hẹp động mạch cảnh ngoài sọ > 70% không triệu 
chứng lâm sàng, và hẹp > 60% có triệu chứng 
thiếu máu não.(1,2,7) 
 Phẫu thuật động mạch cảnh đã được 
thực hiện tại bệnh viện Thống Nhất từ năm 
2003 và là một trong các bệnh viện thực hiện 
phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh nhiều 
nhất trong khu vực.(4) Hiện nay nhiều bệnh viện 
trong cả nước đã triển khai phẫu thuật bóc lớp 
trong động mạch cảnh như bệnh viện Việt Đức, 
bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Trung ương 
Huế, bệnh viện Chợ rẫy, bệnh viện Đại học Y 
dược TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên chưa nhiều 
báo cáo đánh giá kết quả dài hạn phẫu thuật bóc 
lớp trong động mạch cảnh. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm 
mục tiêu đánh giá kết quả ngắn hạn dài hạn của 
phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh trong 
điều trị hẹp động mạch cảnh ngoài sọ tại bệnh 
viện Thống Nhất trong 15 năm. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả những trường hợp hẹp động mạch 
cảnh ngoài sọ được điều trị phẫu thuật tại bệnh 
viện Thống nhất trong thời gian 15 năm từ năm 
2004 tới năm 2019. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Tiến cứu mô tả hàng loạt ca với toàn bộ 
1200 bệnh nhân được phẫu thuật bóc lớp trong 
động mạch cảnh tại bệnh viện Thống Nhất trong 
thời gian 15 năm từ 2004 – 2019. 
Đánh giá các biến số: 
- Tuổi, giới, tiền sử đột quỵ, thiếu máu não 
thoáng qua, mức độ hẹp động mạch cảnh. 
 Phương pháp phẫu thuật: 
- Tất cả bệnh nhân đều được gây mê nội khí 
quản. 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH: KINH NGHIỆM 1200 TRƯỜNG HỢP... 
 85 
- Bóc lớp trong động mạch cảnh kiểu lộn 
ngược vỏ động mạch hoặc mở dọc động mạch 
kinh điển. 
- Duy trì độ mê đủ sâu và huyết áp tâm thu 
> 140 mmHg trong lúc kẹp động mạch cảnh. 
- Ghi nhận thời gian kẹp động mạch cảnh, 
thời gian phẫu thuật. 
 Đánh giá kết quả: 
- Kết quả phẫu thuật (trong vòng 30 ngày 
sau phẫu thuật): 
- Đánh giá tỉ lệ tử vong, phân tích nguyên 
nhân tử vong 
+Tỉ lệ đột quỵ não trong phẫu thuật, trong 
thời gian 30 ngày sau phẫu thuật. 
+Tỉ lệ các biến chứng khác trong 30 ngày 
sau phẫu thuật. 
- Đánh giá kết quả trung và dài hạn: 
+Tỉ lệ tử vong, đột quỵ não, hẹp tái phát 
động mạch cảnh sau phẫu thuật 1 năm và 5 năm. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm bệnh nhân: 
Trong thời gian 15 năm chúng tôi thực hiện 
phẫu thuật cho 1.200 trường hợp hẹp động mạch 
cảnh ngoài sọ cho 1118 bệnh nhân trong đó 812 
bệnh nhân là nam. Tuổi trung bình: 72,4 ± 10,3 
trong đó trẻ nhất là 49 và lớn tuổi nhất là 92 tuổi, 
62,5% bệnh nhân trên 70 tuổi. 
3.2. Đặc điểm lâm sàng: 
Cao huyết áp ghi nhận ở 852 bệnh nhân. 
Tiền sử tai biến mạch máu não ghi nhận ở 
628 trong số 1.200 trường hợp. 
Dấu hiệu thiếu máu não thoáng qua: 252 
bệnh nhân. 
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng. 
Đặc điểm lâm sàng Số trường hợp % 
Cao huyết áp 852/1118 76,2 
Di chứng tai biến mạch máu não 628/1200 54,3 
Cơn thiếu máu não 252 21,0 
Âm thổi vùng động mạch cảnh 824 68,7 
3.3. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh học: 
Siêu âm Duplex động mạch cảnh được thực hiện ở tất cả các trường hợp. 
Chụp cắt lớp điện toán động mạch được thực hiện ở 1170 trường hợp. 
MRA được thực hiện cho 65 trường hợp. 
X quang động mạch được thực hiện cho 48 trường hợp. 
3.4. Vị trí động mạch hẹp: 
Trong 1.200 trường hợp hẹp/tắc động mạch cảnh đã phẫu thuật của chúng tôi có 224 trường hợp 
có tổn thương cả 2 động mạch cảnh, 976 trường hợp hẹp 1 động mạch cảnh với phân bố như trong 
bảng 2. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 86 
Bảng 2: Vị trí động mạch hẹp. 
Vị trí hẹp Số trường hợp % 
Hai động mạch 224 18,7 
Một động mạch 976 81,3 
Động mạch cảnh P 
Động mạch cảnh T 
462 
514 
47,3 
52,7 
3.5. Mức độ hẹp: 
Chúng tôi đánh giá mức độ hẹp dựa trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh học có đối chiếu 
với kết quả trong mổ. 
Bảng 3: Mức độ hẹp. 
Mức độ hẹp Số trường hợp % 
50 – 80% 62 5,2 
80 – 99% 1086 90,5 
100% 52 4,3 
3.6. Phương pháp phẫu thuật: 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh được áp dụng cho 942 các trường hợp, 938 trường hợp 
có dùng miếng vá PTFE tái tạo lại động mạch cảnh, 4 trường hợp ghép ống PTFE cảnh gốc – phình 
cảnh do xơ vữa hẹp nặng toàn bộ động mạch cảnh chung. 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch kiểu lộn ngược áp dụng cho 258 trường hợp. 
Bảng 4: Phương pháp phẫu thuật. 
Phương pháp phẫu thuật Số trường hợp % 
Bóc lớp trong động mạch, đặt miếng vá động mạch. 938 78,2 
Bóc lớp trong động mạch, ghép ống động mạch nhân tạo. 4 0,3 
Bóc lớp trong động mạch kiểu lộn ngược. 258 21,5 
Bảng 5: Thời gian kẹp động mạch cảnh. 
Thời gian Số trường hợp % 
< 20 phút 128 10,7 
20 - 30 phút 976 81,3 
> 30 phút 96 8,0 
Thời gian kẹp động mạch cảnh trung bình là 24,6 6,2 phút 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH: KINH NGHIỆM 1200 TRƯỜNG HỢP... 
 87 
3.7. Kết quả điều trị: 
Kết quả ngắn hạn: 
03 trường hợp tử vong trong 30 ngày sau mổ chiếm tỉ lệ 0,25%, 1 trường hợp do viêm phổi suy 
hô hấp và 2 trường hợp do nhồi máu cơ tim. Có 04 trường hợp bị nhồi máu não trong mổ chiếm tỉ lệ 
0,33% và 6 trường hợp đột quỵ trong 1 tháng sau mổ chiếm tỉ lệ 0,5%. 
Kết quả trung và dài hạn: 
Thời gian theo dõi trung bình 46 tháng, từ 3 tháng tới 170 tháng. Ước tính sống thêm 1 năm và 5 
năm lần lượt là 98% và 89%. 
Tần suất không đột quỵ từ 1 tháng sau mổ tới 1 năm và 5 năm là 99% và 92% (Biểu đồ 1). 
Tần suất hẹp tái phát trên 70% sau 1 năm và 5 năm là 0,1% và 1,0% (Biểu đồ 2). 
Biểu đồ 1: Tần suất không đột quỵ sau 5 năm 
Biểu đồ 2: Tần suất không hẹp tái phát sau 5 năm 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 88 
IV. BÀN LUẬN 
Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ là nguyên 
nhân chính gây ra cơn thiếu máu não cục bộ và 
nhũn não. Phát hiện sớm và điều trị thích hợp sẽ 
giúp bệnh nhân hồi phục tốt và giảm nguy cơ 
nhũn não. Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch 
cảnh ở bệnh nhân chưa đột quỵ sẽ làm giảm nguy 
cơ đột quỵ và tàn phế cho bệnh nhân(1,6,7). 
Hẹp động mạch cảnh thường thấy ở bệnh 
nhân lớn tuổi, trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi 
trung bình của bệnh nhân là 72,4 trong đó 62,5% 
bệnh nhân trên 70 tuổi, trẻ nhất 42 tuổi và bệnh 
nhân cao tuổi nhất là 92. Điều này cũng tương tự 
các nghiên cứu khác trong y văn. 
Đa số bệnh nhân của chúng tôi nhập viện ở 
giai đoạn muộn khi đã có nhũn não mới hoặc đã 
thành di chứng với tỉ lệ 54,3%. So với các nghiên 
cứu tại Âu Mỹ, tỉ lệ phẫu thuật hẹp động mạch 
cảnh ở bệnh nhân đã có đột quỵ của chúng tôi cao 
hơn nhiều. Tuy nhiên so với giai đoạn trước 2010 
tỉ lệ phẫu thuật hẹp động mạch cảnh khi chưa đột 
quỵ đã tăng rõ rệt(4). 
Siêu âm Duplex động mạch cảnh là phương 
pháp chẩn đoán hình ảnh rất có giá trị trong chẩn 
đoán hẹp động mạch cảnh. Tất cả các trường hợp 
hẹp động mạch cảnh trong nghiên cứu của chúng 
tôi đều được làm siêu âm Duplex động mạch 
cảnh và cột sống với kết quả chính xác cao. Tại 
nhiều trung tâm lớn người ta có thể phẫu thuật 
dựa trên kết quả Duplex động mạch cảnh. Tuy 
nhiên độ nhậy và độ chuyên biệt của phương 
pháp này tùy thuộc rất nhiều vào trình độ của bác 
sĩ siêu âm. 
Filis và cộng sự (5) nghiên cứu về siêu âm 
duplex đánh giá mức độ hẹp động mạch cảnh trên 
163 bệnh nhân với 326 động mạch cảnh được 
khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự phù 
hợp cao giữa Duplex và chụp X quang động 
mạch cảnh với hệ số tương quan là 0,96. Tác giả 
đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán mới dựa vào vận 
tốc dòng máu. 
Theo Fillis và cộng sự (5), siêu âm Duplex 
động mạch cảnh có giá trị rất tốt cho những 
trường hợp hẹp dưới 50% hoặc hẹp trên 90%. 
Với những trường hợp hẹp từ 50 – 89% độ nhây 
cảm và độ chuyên biệt có thấp hơn những vẫn đạt 
trên 80%. 
Chụp cắt lớp điện toán động mạch cảnh là 
một phương pháp chẩn đoán hình ảnh ít xâm lấn 
có độ nhậy và độ đặc hiệu cao có thể thay thế 
chụp X quang động mạch. Serfaty JM và cộng sự 
(Error! Reference source not found.) nghiên cứu so sánh 
giữa chụp cắt lớp điện toán động mạch và x 
quang động mạch cho thấy độ nhậy 100% và độ 
chuyên 63%, giá trị tiên đoán âm của hẹp động 
mạch cảnh < 70% đạt 100%. 
Độ chính xác của chụp cắt lớp điện toán 
động mạch tùy thuộc vào kinh nghiệm bác sĩ đọc 
kết quả, độ phân giải của máy chụp cắt lớp, lượng 
thuốc cản quang và kỹ thuật tiêm thuốc, ghi hình 
ảnh. Răng giả kim loại, các clip vùng cổ, bệnh 
nhân béo phì không hợp tác tốt cử động trong khi 
ghi hình ảnh sẽ ảnh hưởng tới kết quả chụp cắt 
lớp điện toán động mạch(1,5). 
Không giống như Duplex và cộng hưởng từ 
mạch máu, chụp cắt lớp điện toán động mạch 
cung cấp hình ảnh thật của lòng động mạch(5). 
Chụp cắt lớp điện toán động mạch cảnh còn cho 
phép xác định tổn thương động mạch trong sọ, 
phình động mạch đi kèm hoặc các tổn thương 
khác của não 
Theo Cinà và cs(2), tổng hợp 23 nghiên cứu 
về động mạch cảnh tại châu Âu và bắc Mỹ với 
6078 bệnh nhân trong đó 3777 bệnh nhân được 
phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh. Tác giả 
kết luận phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh 
cho những trường hợp hẹp trên 70% sẽ làm giảm 
nguy cơ đột tử và nhũn não 48%, và ở những 
trường hợp hẹp 50-69% làm giảm nguy cơ đột tử 
và tai biến mạch máu não 27%. 
Về phương pháp vô cảm chúng tôi chọn lựa 
phương pháp mê nội khí quản cho tất cả các 
trường hợp. Lợi điểm của gây mê nội khí quản là 
PHẪU THUẬT BÓC LỚP TRONG ĐỘNG MẠCH CẢNH: KINH NGHIỆM 1200 TRƯỜNG HỢP... 
 89 
kiểm soát tốt độ mê, bệnh nhna6 không căn thảng 
lo lắng và giảm tiêu thụ oxy của não. Hiện tại có 
các trung tâm phẫu thuật bóc lớp trong động 
mạch cảnh với gây tê vùng nhằm đánh giá tình 
trạng tri giác bệnh nhân khi phẫu thuật.ư kỹ thuật 
lộn ngược vỏ động mạch rút ngắn thời gian kẹp 
động mạch cảnh và không cần dùng miếng vá 
động mạch. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho 
thấy phương pháp này có tỉ lệ tổn thương não 
trong mổ cao hơn so với phương pháp kinh 
điển.(3,4) Trong nghiên cứu của chúng tôi 258 
trường hợp đã được thực hiện kỹ thuật này. 
V. KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu 1.200 trường hợp hẹp 
động mạch cảnh đã được điều trị phẫu thuật bóc 
lớp trong động mạch cảnh, chúng tôi rút ra các 
kết luận: 
Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh 
với gây mê, duy trì huyết áp tâm thu >140 
mmHg trong lúc kẹp động mạch cảnh là một 
phương pháp phẫu thuật an toàn và hiệu quả 
trong điều trị hẹp động mạch cảnh. Tỉ lệ tử 
vong, tỉ lệ đột quỵ trong và sau mổ thấp. Kết 
quả trung và dài hạn rất tốt, tần suất đột quỵ và 
hẹp tái phát rất thấp. 
TÀI LIệU THAM KHảO 
1. Ballotta E, Meneghetti G, Mananra R 
(2007). Long-term survival and stroke-free 
survival after eversion carotid endarterectomy for 
asymptomatic severe carotid stenosis. J Vasc 
Surg. 33: 678-83 
2. Cinà CS, Clase CM, Haynes BR (1999). 
Refining the indications for carotid 
endarterectomy in patients with symptomatic 
carotid stenosis: A systemic review. J Vasc Surg 
30:606-18. 
3. Demirel S, Attigah N, Bruijnen H, 
Ringleb P, Eckstein H, Fraedrich G, Bo¨ckler D 
(2012). Multicenter Experience on Eversion 
versus Conventional Carotid Endarterectomy in 
Symptomatic Carotid Artery Stenosis. Stroke 
43:1865-1871. 
4. Đỗ Kim Quế, Chung Giang Đông 
(2019). Kết quả dài hạn phẫu thuật bóc lớp 
trong động mạch cảnh kiểu lộn vỏ động mạch. 
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 1(23): 
65 – 70; 2019. 
5. Filis KA, Arko FR, Johnson BL, 
Pipinos II, Harris EJ, Oncott C, Zarins CK 
(2002). Duplex ultrasound criteria for defining 
the severity of carotid stenosis. Ann Vasc Surg 
416: 213-221. 
6. Gurm HS, Yadav JS, Fayad P, et al 
(2008) Long-term results of carotid stenting 
versus endarterectomy in high-risk patients. N 
Engl J Med. 358:1572–9. 
7. North American Symptomatic Carotid 
Endarterectomy Trial Collaborators (1991). 
Beneficial effect of carotid endarterectomy in 
symptomatic patients with high-grade carotid 
stenosis. N Engl J Med. 325:445–53 
Serfaty JM, Chirossel P, Chevallier JM, et 
al (2000). Accuracy of three dimension 
algadolinium-enhanced MR angiography in the 
assessment of extracranial carotid artery disease. 
AJR Am J Roentgenol. 175:455–63. 

File đính kèm:

  • pdfphau_thuat_boc_lop_trong_dong_mach_canh_kinh_nghiem_1200_tru.pdf