Phân tích các biến chứng phẫu thuật đặt mảnh ghép điều trị sa tạng chậu trong thời gian theo dõi 2 năm
Sử dụng mảnh ghép trong phẫu thuật điều trị sa tạng chậu được thực
hiện tại bệnh viên Từ Dũ TP.HCM từ 2009. Phẫu thuật ngả âm đạo bằng
kỹ thuật cố định sàn chậu vào dây chằng cùng gai (sacrospinopexy/
sacrospinofixation, transvaginal sacrospinous ligament fixation). Phẫu thuật
ngả bụng cố định sàn chậu vào mỏm nhô (sacrocolpopexy/ promomtofixation
per laparoscopy). Chất liệu mảnh ghép tổng hợp là polyprophylene.
Mục tiêu: Phân tích các biến chứng, sau thời gian theo dõi 2 năm,
đặc biệt nhấn mạnh biến chứng sa lại nhằm rút ra kinh nghiệm cho phẫu
thuật viên.
Phương pháp: Báo cáo hàng loạt ca.
Kết quả: Trong thời gian từ tháng 1. 2015 đến tháng 12.2016, có 92 ca
phẫu thuật ngả âm đạo và 97 ca phẫu thuật ngả bụng. Tuổi trung bình ngả
âm đạo là 69, ngả bụng là 57. Sa từ 2 tạng chậu, mức độ sa ≥ 2. Tỷ lệ sa
bàng quang 92,1 %, sa tử cung 60,1 %, sa trực tràng 30,5%. Tỷ lệ lộ mảnh
ghép ngả âm đạo 13,0%. Tỷ lệ sa tái phát ≥ độ 2 là 6,5% trong phẫu thuật
ngả âm đạo, 1% trong phẫu thuật ngả bụng. Có 2,1% són tiểu mới, 1% tiểu
tồn lưu ngả âm đạo. Không có biến chứng nào trong phẫu thuật. Thòi gian
phẫu thuật trung bình ngả âm đạo 50 ph, ngả nội soi là 180ph.
Kết luận: Hơn 90% trường hợp lộ mảnh ghép thể điều trị nội khoa, hoặc
cắt lọc tại phòng khám không cần nhập viện. Triệu chứng đau là những
cơn co thắt xảy ra ngắn và không thường xuyên, người bệnh không yêu
cầu can thiệp gì thêm. Những trường hợp són tiểu mới, hướng dẫn vật lý
trị liệu, tập bàng quang, tập mạnh cơ sàn chậu. Biến chứng sa lại sau mổ
ngả âm đạo sa vùng đỉnh là chính, là do kỹ thuật mổ chưa đạt đến mức I
DeLancy. Phẫu thuật lại do sa tái phát thường phải giải quyết vùng đỉnh,
nội soi là ưu thế khi giải quyết khối sa vùng đỉnh. Cắt đoạn cổ tử cung cần
thực hiện nếu khám lâm sàng có cổ tử cung dài. Phẫu thuật ngả bụng
nhiều ưu điểm hơn, ít biến chứng hơn, nên cần nhân rộng việc đào tạo
ekip phẫu thuật viên nội soi trong tương lai
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phân tích các biến chứng phẫu thuật đặt mảnh ghép điều trị sa tạng chậu trong thời gian theo dõi 2 năm
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 107 - 110, 2018 107 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Nguyễn Thị Vĩnh Thành, Nguyễn Bá Mỹ Nhi, Vũ Anh Tuấn Bệnh viện Từ Dũ TP. HCM PHÂN TÍCH CÁC BIẾN CHỨNG PHẪU THUẬT ĐẶT MẢNH GHÉP ĐIỀU TRỊ SA TẠNG CHẬU TRONG THỜI GIAN THEO DÕI 2 NĂM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Thị Vĩnh Thành, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: Mảnh ghép. Biến chứng. Keywords: complication, mesh. Tóm tắt Sử dụng mảnh ghép trong phẫu thuật điều trị sa tạng chậu được thực hiện tại bệnh viên Từ Dũ TP.HCM từ 2009. Phẫu thuật ngả âm đạo bằng kỹ thuật cố định sàn chậu vào dây chằng cùng gai (sacrospinopexy/ sacrospinofixation, transvaginal sacrospinous ligament fixation). Phẫu thuật ngả bụng cố định sàn chậu vào mỏm nhô (sacrocolpopexy/ promomtofixation per laparoscopy). Chất liệu mảnh ghép tổng hợp là polyprophylene. Mục tiêu: Phân tích các biến chứng, sau thời gian theo dõi 2 năm, đặc biệt nhấn mạnh biến chứng sa lại nhằm rút ra kinh nghiệm cho phẫu thuật viên. Phương pháp: Báo cáo hàng loạt ca. Kết quả: Trong thời gian từ tháng 1. 2015 đến tháng 12.2016, có 92 ca phẫu thuật ngả âm đạo và 97 ca phẫu thuật ngả bụng. Tuổi trung bình ngả âm đạo là 69, ngả bụng là 57. Sa từ 2 tạng chậu, mức độ sa ≥ 2. Tỷ lệ sa bàng quang 92,1 %, sa tử cung 60,1 %, sa trực tràng 30,5%. Tỷ lệ lộ mảnh ghép ngả âm đạo 13,0%. Tỷ lệ sa tái phát ≥ độ 2 là 6,5% trong phẫu thuật ngả âm đạo, 1% trong phẫu thuật ngả bụng. Có 2,1% són tiểu mới, 1% tiểu tồn lưu ngả âm đạo. Không có biến chứng nào trong phẫu thuật. Thòi gian phẫu thuật trung bình ngả âm đạo 50 ph, ngả nội soi là 180ph. Kết luận: Hơn 90% trường hợp lộ mảnh ghép thể điều trị nội khoa, hoặc cắt lọc tại phòng khám không cần nhập viện. Triệu chứng đau là những cơn co thắt xảy ra ngắn và không thường xuyên, người bệnh không yêu cầu can thiệp gì thêm. Những trường hợp són tiểu mới, hướng dẫn vật lý trị liệu, tập bàng quang, tập mạnh cơ sàn chậu. Biến chứng sa lại sau mổ ngả âm đạo sa vùng đỉnh là chính, là do kỹ thuật mổ chưa đạt đến mức I DeLancy. Phẫu thuật lại do sa tái phát thường phải giải quyết vùng đỉnh, nội soi là ưu thế khi giải quyết khối sa vùng đỉnh. Cắt đoạn cổ tử cung cần thực hiện nếu khám lâm sàng có cổ tử cung dài. Phẫu thuật ngả bụng nhiều ưu điểm hơn, ít biến chứng hơn, nên cần nhân rộng việc đào tạo ekip phẫu thuật viên nội soi trong tương lai. Từ khóa: Mảnh ghép. Biến chứng. NGUYỄN THỊ VĨNH THÀNH, NGUYỄN BÁ MỸ NHI, VŨ ANH TUẤN 108 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A Abstract ANALYSIS OF COMPLICATIONS FOR SURGICAL MESH FOR TREATMENT OF WOMEN WITH PELVIC ORGAN PROLAPSE IN FOLOWING 2 YEARS Surgery mesh for treatment of women with pelvic organ prolapsed was performed at Tu Du hospital from 2009. Principle vaginal technique was sacrospinopexy/ sacrospinofixation, transvaginal sacrospinous ligament fixation. Lapsroscopic surgery was sacrocolpopexy/ promomtofixation per laparoscopy. Polyprophylene mesh was used. Classification pelvic organ prolapsed by POP-Qs (Pelvic Organ Prolapse Quantification System). Objectives: Analysis complications after 2 years of follow-up, patients were invited for a follow-up visit for sharing experience for the surgeon. Method: Case series. Result: During the period from January 2015 to December 2016, 92 vaginal surgeries and 97 abdominal operations were performed. Mean age of vaginal surgery was 69, of laparoscopy surgery was 57. Procidure from 2 pelvic organs, level ≥ 2.0 The incidence of cystocele was 92.1%, uterine prolapsed was 60.1%, rectocele 30.5 %. Percentage of erosion was 13.0% in case vaginal surgery. The recurrence rate for vaginal mesh surgery, stage ≥ 2, was 6.5%, and for laparoscopy was 1%. There were 2.1% of tress incontinence de novo, 1% of urinary retention in case of vagina surgery. There are no complications ontime of surgery. The average time in vaginal intervention was 50 mn, in laparoscopy was 180mn. Conclusion: More than 90% of cases of erosion are medical treated, or removed the mesh at the clinic dayward. Symptoms of pain are short and irregular spasms, and patients do not require further intervention. Cases of incontinence de novo, treatment by physical therapy guidelines, bladder training, pelvic floor exercise. The main recurence complications after vaginal mesh is the top, is due to surgical technique has not reached sacrospino ligament, level I DeLancy. Laparoscopy is advantageous when resolving topical areas. Cervical dilatation should be performed if the clinical examination has a long cervix. Abdominal surgery is more advantageous, less complication, so need to multiply the training of the team of endoscopic surgeon in the future. Key words: complication, mesh. 1. Đặt vấn đề Phẫu thuật đặt mảnh ghép điều trị sa tạng chậu được thực hiện tại bệnh viên Từ Dũ từ 2009. Có các kỹ thuật chính sau: phẫu thuật ngả âm đạo cố định sàn chậu vào dây chằng cùng gai (sacrospinopexy/ sacrospinofixation, transvaginal sacrospinous ligament fixation), phẫu thuật ngả bụng cố định sàn chậu vào mỏm nhô (sacrocolpopexy/ promomtofixation per laparoscopy). Chất liệu mảnh ghép tổng hợp là polyprophylene. Phân loại sa tạng chậu dựa vào bảng phân loại POP-Q (Pelvic Organ Prolapse Quantification System). Sau thời gian 2 năm theo dõi, chúng tôi phân tích các trường hợp biến chứng nhằm rút ra kinh nghiệm cho ekip phẫu thuật. Mục tiêu: Phân tích biến chứng sa tái phát của phẫu thuật đặt mảnh ghép ngã âm đạo sau thời gian theo dõi 2 năm, nhằm đánh giá lại kỹ thuật và vị trí cố định mảnh ghép. 2. Phương pháp Hồi cứu báo cáo hàng loạt ca. Theo dõi 2 năm sau phẫu thuật. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 107 - 110, 2018 109 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 3. Kết quả Trong thời gian từ tháng 1. 2015 đến tháng 12.2016, có 92 ca phẫu thuật ngả âm đạo và 97 ca phẫu thuật ngả bụng. Tuổi trung bình ngả âm đạo là 69, ngả bụng là 57. Sa từ 2 tạng chậu, mức độ sa ≥ 2. Tỷ lệ sa bàng quang 92,1 %, sa tử cung 60,1 %, sa trực tràng 30,5%. Tỷ lệ lộ mảnh ghép ngả âm đạo 13,0%. Tỷ lệ sa tái phát ≥ độ 2 là 6,5% trong phẫu thuật ngả âm đạo, 1% trong phẫu thuật ngả bụng. Có 2,1% són tiểu mới, 1% tiểu tồn lưu ngả âm đạo. Không có biến chứng nào trong phẫu thuật. Thời gian phẫu thuật trung bình ngả âm đạo 50 ph, ngả nội soi là 180ph. 4. Bàn luận Sa tạng chậu là bệnh lý gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống của người phụ nữ lớn tuổi. Các phương pháp phẫu thuật hoặc không phẫu thuật (Pessary) nhằm mục đích phục hồi giải phẫu cho người bệnh, kết hợp với thay đổi lối sống sẽ cải thiện được những rối loạn chức năng đi kèm như rối loạn chức năng đường tiểu dưới, rối loạn chức năng tiêu hóa dưới... Phẫu thuật kinh điển cắt tử cung ngả âm đạo sửa hộ âm có tỷ lệ tái phát cao, đặc biệt là sa tái phát thành trước. Công bố của Weber AM và CS 2001 ghi nhận tỷ lệ tái phát sa bàng quang đến 70% trong phẫu thuật sửa chữa cũ [1]. Sử dụng Mảnh ghép trong phẫu thuật phục hồi giải phẫu sa tạng chậu ra đời từ những năm 2000 làm giảm đáng kể biến chứng sa tái phát. Phân tích gộp những báo cáo sau 2 năm theo dõi của Beer and Kuhn 3% to 37% thất bại do sa lại, tùy trung tâm [2][3]. Phẫu thuật ngả bụng thường ưu thế hơn, ít sa vùng đỉnh so với phẫu thuật ngả âm đạo. Ngày nay đã có nhiều tiến bộ trong kỹ thuật mổ đem lại hiệu quả tốt hơn, tỷ lệ tái phát ngày càng thấp [4]. Cochran database 2013 do Maher và Biến chứng Ngả âm đạo N=92 Ngả bụng N=97 Sa tái phát ≥ độ 2 6 (6,5%) 1 (1,0%) Lộ ghép 12 (13,0%) 0 Đau 0 2 (2,1%) Són tiểu mới 2 (2,1%) 0 Khác 1 tiểu tồn lưu 1 đau hạ vị Bảng 1. Bảng kết quả các biến chứng cộng sự so sánh tỷ lệ sa tái phát phẫu thuật ko sử dụng mảnh ghép và có sử dụng mảnh ghép là 28%/18% [5]. Tỷ lệ sa tái phát của chúng tôi 6,5% ngả âm đạo và 1% ngả bụng được theo dõi sau 2 năm là kết quả khả quan. Nhưng chúng ta cũng cần nhìn lại để có những cải tiến tốt hơn trong kỹ thuật mổ ngả âm đạo. Lộ mảnh ghép do xói mòn âm đạo có thể điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật lại bằng tiểu phẫu cắt lọc mảnh ghép. Abed và CS có kết quả 21% trường hợp lộ mảnh ghép được điều trị nội khoa hiệu quả bằng thuốc sát khuẩn và Estradiol tại chỗ [6]. Tại bệnh viện Từ Dũ, hơn 90% trường hợp lộ mảnh ghép, sau điều trị nội khoa không hiệu quả, được cắt lọc tại phòng khám không cần nhập viện. Người bệnh luôn được giải thích cặn kẽ các biến chứng không mong muốn như lộ mảnh ghép, đau, sa tái phát khi đồng ý phẫu thuật. Biến chứng sa tái phát luôn là biến chứng gây phiền toái nhất cho cả người bệnh lẫn phẫu thuật viên. Kỹ thuật cố định mảnh ghép 4 chi vào hố bịt nhằm mục đích nâng đỡ bàng quang ngang mức II DeLancy, đối với sa tử cung, kỹ thuật cố định Tử cung vào dây chằng cùng gai, tức là ngang mức I DeLancy [7]. Phẫu thuật ngả âm đạo là phẫu thuật mù, là cảm nhận của Phẫu thuật viên khi bóc tách ranh giới các mốc giải phẫu: bộc lộ phần rắn chắc nhất của cổ tử cung và bộc lộ dây chằng cùng gai (Sacro spino ligament). Cần bộc lộ cho đến phần rắn nhất của cổ tử cung, sau đó bóc tách qua 2 bên hố cạnh trực tràng , tìm được gai hông, dây chằng cùng gai là một dãi xơ chắc đi từ gai hông tỏa hình rẻ quạt đến bám vào xương cùng. Các nhà sản phụ khoa thường quen thuộc với gai hông hơn (ischial spine). Vị trí cố định của mảnh ghép là phần rắn chắc nhất của cổ tử cung vào dây chằng cùng gai. Vị trí xuyên kim là 1-2 cm cách gai hông hướng về phía xương cùng. Cố định bằng chỉ không tan. Phân tích các trường hợp sa tái phát ngả âm đạo chúng tôi thấy sa vùng đỉnh là chính, các điểm Aa và Ap, Ba và Bp vẫn còn – 3, nhưng cổ tử cung mấp mé quanh màng trinh, điểm C ± 2 cm so với màng trinh, là do kỹ thuật mổ chưa đạt đến mức I DeLancy, sa đỉnh xảy ra sớm. Phẫu NGUYỄN THỊ VĨNH THÀNH, NGUYỄN BÁ MỸ NHI, VŨ ANH TUẤN 110 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A thuật lại do sa tái phát thường phải giải quyết vùng đỉnh, nội soi là ưu thế khi giải quyết khối sa vùng đỉnh. Theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu De Lancey 2012, có 36,4% phụ nữ sa tạng chậu có cổ tử cung dài hơn so với phụ nữ không bị sa, trung bình dài hơn 8,6mm, qua khảo sát bằng chụp cộng hưởng từ [8]. Cổ tử cung dài cũng là một yếu tố cần xem xét, cắt đoạn cổ tử cung cần thực hiện nếu khám lâm sàng có cổ tử cung dài. Triệu chứng đau là những cơn co thắt xảy ra ngắn và không thường xuyên, người bệnh không yêu cầu can thiệp gì thêm. Những trường hợp són tiểu mới chúng tôi hướng dẫn vật lý trị liệu, tập mạnh cơ sàn chậu. 5. Kết luận Phẫu thuật ngả bụng nhiều ưu điểm hơn, ít biến chứng hơn, nên cần nhân rộng việc đào tạo ekip phẫu thuật viên nội soi trong tương lai. Biến chứng xói mòn âm đạo, lộ mảnh ghép có thể điều trị nội khoa hoặc tiểu phẫu cắt lọc mảnh ghép. Biến chứng sa tái phát là biến chứng gây phiền toái nhất cho người bệnh và phẫu thuật viên, thường xảy ra khi phẫu thuật ngả âm đạo, do chưa bộc lộ đến phần rắn chắc nhất của cổ tử cung và chưa cố định đúng vào cùng gai. Phẫu thuật ngả âm đạo cần cố định tử cung ngang mức I DeLancy, tức là ngang mức dây chằng cùng gai. Cắt đoạn cổ tử cung cần được chỉ định khi cổ tử cung dài. Tài liệu tham khảo 1. Weber AM, Walters M, Piedmonte MR, Ballard LA. Anterior colporrhaphy: a randomized trial of three surgical techniques. Am J Obstet Gynecol. 2001;185:1299-1306. 2. Beer M, Kuhn A. Surgical techniques for vault prolapse: a review of the literature.Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 2005;119:144–55. doi: 10.1016/j.ejogrb.2004.06.042. PubMed PMID: 15808370. [PubMed] 3. Transvaginal Sacrospinous Ligament Fixation for Pelvic Organ Prolapse Stage III and Stage IV Uterovaginal and Vault Prolapse. Pratiksha Gupta, MD 2015 4. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23633316 5. Maher C, Feiner B, Baessler K, Schmid C. Surgical management of pelvic organ prolapse. Cochrane Database of Systemic Review. 2013. Issue 4. 6. Succès œstrogènes ou antiseptiques. Abed et al Int Urogynecol J 2011 7. http:// contemporaryobgyn.modernmedicine.com/ contemporary-obgyn/ news/ use - biologic - grafts - pelvic - organ - prolapse - surgery? page=0,1 & ampGUID=7D86DEF6 - 6F38 - 476A - 9DC1 - 9F2EBFFBADC9 & cfcache=true & rememberme=1 & ts=17072017 8. Is Cervical Elongation Associated with Pelvic Organ Prolapse? Mitchell B. Berger, MD, PhD, Rajeev Ramanah, MD, Kenneth E. Guire, MS and John O. L. DeLancey
File đính kèm:
phan_tich_cac_bien_chung_phau_thuat_dat_manh_ghep_dieu_tri_s.pdf

