Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO)

Thuật ngữ oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (Extra-Corporeal Membrane Oxygenation – ECMO) vốn được sử dụng để mô tả quá trình hỗ trợ cơ học chức năng oxy hóa bên ngoài cơ thể trong một khoảng thời gian kéo dài. Sau đó, ở một số bệnh nhân, nhằm nêu bật mục đích loại thải CO2 nên người ta đã sử dụng thuật ngữ là quá trình loại thải CO2 ngoài cơ thể (Extra-Corporeal Carbon Dioxide Removal). Kỹ thuật hỗ trợ bên ngoài cơ thể sau này được sử dụng nhằm hỗ trợ cho các bệnh nhân sau mổ tim là chủ yếu. Sự cải thiện mức độ tương hợp sinh học các nguyên vật liệu sử dụng trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của kỹ thuật ECMO và các thầy thuốc đã xem ECMO như là phương thức cứu sống và là phương tiện để hỗ trợ các tạng trong cơ thể. Ngoài ra, những ứng dụng công nghệ điện tử trong kết cấu của hệ thống ECMO đã làm xuất hiện thêm một thuật ngữ mới là kỹ thuật hỗ trợ chức năng sống bên ngoài cơ thể (Extra-Corporeal Life Support ECLS), và đây cũng là thuật ngữ được ưa chuộng để nêu bật tính công nghệ của kỹ thuật này

pdf 8 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO)

Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO)
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 
 34 
OXY HÓA QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ 
Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO 
Đoàn Đức Hoằng*, Bùi Đức Phú*, Lê Nhật Anh*, Phan Tái Nhân**, Đỗ Đình Sơn** 
I. ĐẠI CƢƠNG 
Thuật ngữ oxy hóa qua màng ngoài cơ thể 
(Extra-Corporeal Membrane Oxygenation – 
ECMO) vốn đƣợc sử dụng để mô tả quá trình hỗ trợ 
cơ học chức năng oxy hóa bên ngoài cơ thể trong 
một khoảng thời gian kéo dài. Sau đó, ở một số 
bệnh nhân, nhằm nêu bật mục đích loại thải CO2 
nên ngƣời ta đã sử dụng thuật ngữ là quá trình loại 
thải CO2 ngoài cơ thể (Extra-Corporeal Carbon 
Dioxide Removal). Kỹ thuật hỗ trợ bên ngoài cơ thể 
sau này đƣợc sử dụng nhằm hỗ trợ cho các bệnh 
nhân sau mổ tim là chủ yếu. Sự cải thiện mức độ 
tƣơng hợp sinh học các nguyên vật liệu sử dụng 
trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng nâng 
cao hiệu quả của kỹ thuật ECMO và các thầy thuốc 
đã xem ECMO nhƣ là phƣơng thức cứu sống và là 
phƣơng tiện để hỗ trợ các tạng trong cơ thể. Ngoài 
ra, những ứng dụng công nghệ điện tử trong kết cấu 
của hệ thống ECMO đã làm xuất hiện thêm một 
thuật ngữ mới là kỹ thuật hỗ trợ chức năng sống bên 
ngoài cơ thể (Extra-Corporeal Life Support ECLS), 
và đây cũng là thuật ngữ đƣợc ƣa chuộng để nêu bật 
tính công nghệ của kỹ thuật này. 
Sự khác biệt giữa ECMO và Tuần hoàn ngoài 
cơ thể thƣờng quy nhƣ sau: 
- ECMO thƣờng đƣợc thiết lập với đặt 
cannula ở cổ bằng cách gây tê tại chỗ. Tuần hoàn 
ngoài cơ thể kinh điển thƣờng đƣợc thiết lập với các 
cannula qua đƣờng ngực và bệnh nhân phải đƣợc 
gây mê toàn thân. 
- Tuần hoàn ngoài cơ thể là kỹ thuật hỗ trợ tạm 
thời chỉ trong vài giờ, còn ECMO là kỹ thuật hỗ trợ 
lâu dài hơn thƣờng trong khoảng 3 – 10 ngày. 
- Mục đích của ECMO là cho phép kéo dài 
thời gian đủ để hồi phục chức năng tim và phổi 
của ngƣời bệnh; còn kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ 
thể để hỗ trợ tạm thời trong quá trình thực hiện 
phẫu thuật tim. 
II. LỊCH SỬ ECMO 
Tháng 05/1953, Gibbon đã tiến hành hỗ trợ 
oxy hóa và tƣới máu nhân tạo cho trƣờng hợp mổ 
tim hở thành công đầu tiên [1]. Năm 1954, Lillehei 
đã phát triển kỹ thuật tuần hoàn chéo bằng cách sử 
dụng những ngƣời lớn tình nguyện đóng vai trò nhƣ 
hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể sinh học để tƣới 
máu cho những bệnh nhi mắc bệnh tim bẩm sinh 
trong quá trình phẫu thuật [2]. Năm 1955, tại Mayo 
Clinic, Kirklin và cộng sự đã cải tiến thiết bị của 
Gibbon và đã thành công trong phẫu thuật đóng 
thông liên nhĩ [3].* 
Năm 1965, Rashkind và cộng sự là những 
ngƣời đầu tiên sử dụng loại oxygenator kiểu bọt khí 
để hỗ trợ cho một bé sơ sinh bị suy hô hấp [4]. Năm 
1969, Dorson và cộng sự đã báo cáo sử dụng loại 
oxygenator kiểu màng để chạy tuần hoàn ngoài cơ 
thể ở bệnh nhân trẻ nhỏ [5]. 
Năm 1970, Baffes và cộng sự đã báo cáo sử 
dụng thành công kỹ thuật oxy hóa qua màng ngoài 
cơ thể (ECMO) để hỗ trợ cho các bệnh nhi tim bẩm 
sinh sau mổ tim [6]. Năm 1975, Bartlett và cộng sự 
đã thực hiện ECMO thành công đầu tiên ở trẻ so 
sinh bị suy hô hấp nặng [7]. 
*
 Bệnh viện Trung ương Huế 
** Sở Y tế TP Huế 
Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
Ngày nhận bài: 05/04/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/05/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
OXY HÓA QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO 
 35 
III. CẤU TẠO HỆ THỐNG ECMO 
3.1 Cấu tạo máy ECMO 
Máy ECMO gồm có một bơm máu, một bể 
chứa máu tĩnh mạch, một bộ màng phổi nhân tạo 
(membrane oxygenator), và một hệ thống trao đổi 
nhiệt độ 2 chiều. 
Bơm máu đƣợc thiết kế bằng loại bơm con 
lăn (thông dụng nhất) hoặc là bơm ly tâm kiểu xoắn 
ốc. Loại bơm con lăn ít gây tan máu và thƣờng 
đƣợc sử dụng khi làm ECMO cho trẻ sơ sinh. Bể 
chứa máu tĩnh mạch đƣợc sử dụng kèm với bơm 
con lăn trong hệ thống ECMO ở trẻ sơ sinh. Chất 
lƣợng của phổi nhân tạo (oxygenator) giúp trao đổi 
O2 và CO2 là điểm mấu chốt đảm bảo hiệu quả của 
những trƣờng hợp ECMO kéo dài. Có 3 kiểu phổi 
nhân tạo bao gồm kiểu bọt khí, kiểu màng và loại 
thiết bị kiểu sợi rỗng. Bộ phận trao đổi nhiệt giúp 
sƣởi ấm máu theo cơ chế đối lƣu nhiệt độ 2 chiều. 
Dòng máu qua phổi nhân tạo trao đổi nhiệt gián tiếp 
với dòng nƣớc ấm lƣu chuyển bên trong các ống 
dẫn bằng kim loại. 
Hình 1. Hệ thống oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (ECMO) 
3.2 Thiết bị theo dõi và cảnh báo an toàn 
hệ thống ECMO 
- Thiết bị phát hiện bọt khí của hệ thống 
ECMO có thể phát hiện ra các bọt khí rất nhỏ có 
kích thƣớc vài micrometer trong dòng máu động 
mạch và khi đó sẽ tự ngắt hệ thống bơm máu. 
- Bầu lọc độc mạch đặt ở vị trí giữa bộ phận 
trao đổi nhiệt và cannul động mạch để bẫy các bọt 
khí, các mẫu huyết khối, hoặc các mảnh gây thuyên 
tắc khác. 
- Thiết bị theo dõi áp lực đƣợc đặt trƣớc và 
sau màng phổi nhân tạo, để đo áp lực của dòng máu 
đang chảy trong hệ thống và đƣợc sử dụng để phát 
hiện những khi tăng nguy hiểm áp lực của hệ thống. 
Trƣờng hợp này xảy ra khi có tạo các huyết khối 
bám ở màng phổi nhân tạo hoặc huyết khối gây tắc 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 
 36 
ống dẫn máu hoặc các cannula. Cần theo dõi áp lực 
nghiêm ngặt để dự phòng trƣờng hợp gây vỡ hệ 
thống do tắc nghẽn trong hệ thống ở đoạn sau bơm. 
- Theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch và 
theo dõi nhiệt độ là những tiêu chuẩn quan trọng 
khác khi tiến hành kỹ thuật ECMO. 
IV. NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT ECMO 
Hệ thống dẫn máu của ECMO phải đƣợc làm 
đầy và đuổi sạch bọt khí bởi dung dịch sinh lý và 
chế phẩm máu. Kiểm soát và điều chỉnh tối ứu 
thăng bằng toan kiềm và nồng độ các chất khí trong 
máu. Có 2 kiểu thực hiện với ECMO tĩnh mạch – 
động mạch và ECMO tĩnh mạch – tĩnh mạch. 
Kỹ thuật chuẩn thiết lập ECMO trong hồi sức 
sơ sinh theo kiểu tĩnh mạch – động mạch. Thực 
hiện kỹ thuật này với một cannula đƣợc đặt lvào 
bên trong tĩnh mạch cảnh bên phải để luồn vào 
trong tâm nhĩ phải để dẫn lƣu máu đến một bể chứa 
máu đặt ở vị trí thấp hơn mức quả tim của bệnh 
nhân khoảng 60cm. máu đƣợc chủ động bơm qua 
màng phổi nhân tạo để trao đổi khí theo chiều đối 
lƣu giữa các dòng máu và khí. Sau đó, máu đƣợc 
sƣởi ấm lên cùng với thân nhiệt bệnh nhân bởi bộ 
phận trao đổi nhiệt trƣớc khi trở lại tuần hoàn ngƣời 
bệnh bằng một cannula đƣợc đặt trong động mạch 
cảnh bên phải hƣớng về phía cung động mạch chủ 
để tƣới máu cho khắp cơ thể. Thực hiện liệu pháp 
kháng đông bằng cách truyền heparin vào hệ thống 
đồng thời theo dõi và duy trì thời gian đông máu 
hoạt hóa (ACT: activated clotting time) trong 
khoảng từ 180-240 giây. 
Kiểu ECMO tĩnh mạch – tĩnh mạch thực hiện 
bởi 1 cannula 2 nòng đƣợc đặt trong tĩnh mạch cảnh 
bên phải và luồn vào trong tâm nhĩ phải. Máu từ nhĩ 
phải ngƣời bệnh đƣợc dẫn lƣu qua lỗ bên của 
cannule 2 nòng và sau khi đƣợc oxy hóa sẽ đƣợc 
bơm trở lại qua lỗ trong ở vị trí đầu xa của cannula 
hƣớng dòng máu chảy qua van 3 lá. 
Bảng 1. Phân biệt 2 kiểu ECMO tĩnh mạch - động mạch và ECMO tĩnh mạch - tĩnh mạch 
ECMO tĩnh mạch – động mạch ECMO tĩnh mạch – tĩnh mạch 
Nồng độ oxy máu PaO2 cao. Nồng độ oxy máu PaO2 thấp hơn. 
Lƣu lƣợng tƣới máu thấp. Lƣu lƣợng tƣới máu cao hơn. 
Bỏ qua tuần hoàn phổi. Duy trì lƣu lƣợng máu lên phổi. 
Làm giảm áp lực động mạch phổi. Áp lực oxy máu tĩnh mạch trộn PO2 cao. 
Mục đích hỗ trợ tim và hỗ trợ tuần hoàn hệ thống. Không giúp hỗ trợ tim và hỗ trợ tuần hoàn hệ thống. 
Cần đặt cannula động mạch. Chỉ cần đặt cannula tĩnh mạch. 
Đối với những bệnh nhân bị suy tim hoặc 
suy hô hấp sau phẫu thuật tim, thì có thể đặt 
cannula qua đƣờng ngực ở tiểu nhĩ phải và ở quai 
động mạch chủ để thay thế cho cannula qua 
đƣờng cổ. Đạt cannula qua đƣờng ngực cho phép 
làm giảm áp các buồng tim bên trái bằng cách đạt 
cannula dẫn lƣu máu nhĩ trái. Điều này giúp ích 
cho các bệnh nhân bị suy tim trái. 
OXY HÓA QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO 
 37 
Hình 2. Các kiểu ECMO tĩnh mạch – tĩnh mạch và ECMO tĩnh mạch – động mạch 
V. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH ECMO 
5.1 Chỉ định và chống chỉ định ECMO ở 
trẻ sơ sinh 
5.1.1 Chỉ định 
Có 2 chỉ định chủ yếu sử dụng ECMO cho 
bệnh nhi sơ sinh nhƣ sau: 
- Tăng áp phổi tiên phát ở trẻ mới sinh, bao 
gồm tăng áp phổi nguyên phát, hội chứng hít sặc 
nƣớc ối, hội chứng suy hô hấp, nhiễm liên cầu 
nhóm B, và ngạt. 
- Thoát vị hoành bẩm sinh. 
5.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh 
- Tuổi tai từ 34 tuần trở lên* 
- Cân nặng lúc sinh từ 2000 g trở lên* 
- Không rối loạn đông máu đáng kể, hoặc 
tình trạng chảy máu không kiểm soát. 
- Không bị xuất huyết nội sọ* 
- Nếu phải thở máy thì thời gian thở máy 
dƣới 10-14 ngày* 
- Tồn thƣơng phổi không thể hồi phục đƣợc 
- Không có khuyết tật di truyền mà vì nó mà 
bệnh nhân không thể sống đƣợc 
- Không có các khuyết tật tim bẩm sinh mad 
không thể sửa chữa đƣợc 
- Đã thất bại với liệu pháp điều trị nội khoa 
tối ƣu 
*Biểu hiện khác dấu hiệu này là những chống 
chỉ định tƣơng đối sử dụng ECMO. 
5.1.3 Đánh giá tiêu chuẩn bệnh nhân để 
thực hiện ECMO 
Đánh giá các tiêu chuẩn sau khi bệnh nhi sơ 
sinh đã đƣợc thở máy tối đa với 100% oxy (nồng độ 
oxy trong khí thở vào FiO2 = 100%) với áp lực đỉnh 
khi thở vào (PIP) thƣờng cao hơn 35 cm H2O. 
- Chênh áp nồng độ O2 giữa phế nang và máu 
động mạch (A-a) = 600-624 mmHg trong vòng 4-12 
giờ, đƣợc tính theo phƣơng trình sau: 
 (A-a)O2 = áp suất khí quyển - 47 - (PaCO2 
+ PaO2])/FiO2 
Trong đó: 
(A-a)O2: khả năng khuếch tán oxy từ phế 
nang vào máu động mạch 
 47: áp lực riêng phần của hơi nƣớc trong 
khí quyển 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 
 38 
- Chỉ số oxy hóa (OI) ≥ 40 khi 3 trong 5 lần 
kiểm tra phân tích kết quả khí máu cách nhau 30 – 
60 phút, đƣợc tính theo phƣơng trình sau: 
OI = (MAP x FiO2 x 100)/ PaO2 PaO2 = 35-
50mmHg trong 2-12 giờ, trong đó: 
MAP : áp lực đƣờng thở trung bình 
- Tình trạng bệnh lý trở nên xấu cấp tính 
o PaO2 ≤ 30-40 mmHg trong vòng 2 giờ 
o pH ≤ 7.25 trong vòng 2 giờ 
o Tụt huyết áp khó điều trị 
5.2 Chỉ định và chống chỉ định ECMO ở 
trẻ lớn 
5.2.1 Chỉ định 
- Cung lƣợng tim thấp do suy thất phải, suy 
thất trái, hoặc suy cả 2 tâm thất sau phẫu thuật điều 
trị bệnh tim bẩm sinh 
- Cơn tăng áp phổi sau phẫu thuật điều trị tim 
bẩm sinh gây thiếu oxy máu nặng, gây giảm cung 
lƣợng tim, hoặc cả hai 
- Chỉ định ECMO hiếm hơn để làm cầu nối 
chờ phẫu thuật tim cho những bệnh nhi bị tổn thƣơng 
chức năng tạng đích nghiêm trọng do bệnh tim bẩm 
sinh làm giảm cung lƣợng tim nghiêm trọng 
- Chỉ định làm cầu nối chờ ghép tim 
- Có thể chỉ định ECMO làm cầu nối chờ hồi 
phục trong các bệnh lý cơ tim thứ phát có thể hồi 
phục do suy thận, do viêm cơ tim, và do bỏng 
Ngày nay, chỉ định ECMO với các tiêu chuẩn 
chọn bệnh ít nghiêm ngặt hơn và sử dụng kỹ thuật 
này đa dạng hơn khong chỉ trong điều trị những 
bệnh lý tim cấp tính mà còn để điều trị những bệnh 
lý phổi tiên phát [8], [9], [10] 
Không nhƣ trong những bệnh nhi sơ sinh, 
ECMO đƣợc sử dụng ở những bệnh nhi lớn hơn mà 
không cần có những tiêu chuẩn lựa chọn hoặc tiêu 
chuẩn loại trừ rõ ràng. Việc đánh giá bệnh nhân để 
đặt ECMO thƣờng dựa vào đánh giá tình trạng bệnh 
lý và tùy thuộc vào kinh nghiệm sử dụng ECMO ở 
bệnh nhi. 
VI. ĐIỀU TRỊ TRONG QUÁ TRÌNH HỖ TRỢ 
ECMO 
6.1 Hệ thống phổi 
ECMO là kỹ thuật hỗ trợ tạm thời trong khi 
chờ hồi phục chức năng phổi. trƣờng hợp điển hình 
sử dụng ECMO trong điều trị bệnh nhi sơ sinh, cần 
điều chỉnh thở máy với các thông số nhƣ nồng độ 
oxy trong khí thở vào FiO2=21-30%, áp lực đỉnh 
trong thì thở vào PIP=15-25 cmH2O, áp lực dƣơng 
cuối thì thở ra PEEP=3-5 cmH2O, và thở máy hỗ trợ 
ngắt quãng (IMV) với tần số f=10-20 lần/phút. Có 
thể sử dụng PEEP cao hơn từ 12-14 cmH2O dự 
phòng xẹp phổi; điều này giúp rút ngắn thờ gian hồi 
phục chức năng phổi. Chăm sóc phổi nghiêm ngặt 
với thay đổi tƣ thế giúp dẫn lƣu phổi tốt hơn, hút 
dịch phổi qua ống nội khí quản mỗi 4 giờ hoặc phụ 
thuộc vào bản chất của chất tiết, và kiểm trap phim 
phổi hàng ngày. 
6.2 Hệ thống tim mạch 
Tƣới máu hệ thống và thể tích tuần hoàn cần 
phải đƣợc duy trì. Đánh giá thể tích tuần hoàn bằng 
cách theo dõi lƣu lƣợng nƣớc tiểu và các triệu chứng 
thực thể nhƣ đo CVP và huyết áp. Cải thiện cung 
lƣợng tim với điều trị hỗ trợ inotrope. Siêu âm tim để 
loại trừ các bệnh tim bẩm sinh đáng kể hoặc cần phải 
phẫu thuật điều trị sớm. (nhƣ trƣờng hợp tuần hoàn 
tĩnh mạch phổi bất thƣờng toàn phần tắt nghẽn). 
6.3 Hệ thần kinh trung ƣơng 
Những biến chứng thần kinh là rất nghiêm 
trọng và thƣờng liên quan đến mức độ nặng của tình 
trạng thiếu oxy tổ chức và tình trạng toan chuyển 
hóa. Cần tránh các thuốc gây liệt cơ và thực hiện 
thăm khám thần kinh thƣờng xuyên. Nếu đƣơc cần 
thực hiện siêu âm xuyên sọ trƣớc khi tiến hành 
ECMO ở trẻ sơ sinh. Lặp lại siêu âm hằng ngày, 
đặc biệt sau các biến cố. Ở bệnh nhân có các biểu 
OXY HÓA QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO 
 39 
hiện co giật hoặc nghi ngờ có co giật cần điều trị an 
thần chủ động. 
6.4 Chức năng thận 
Trong 24-48 giờ đầu khởi động ECMO, tình 
trạng thiểu niệu và hoại tử óng thận cấp do hiện 
tƣợng thoát mạch và thiếu thể tích tuần hoàn khá 
phổ biến bởi vì ECMO làm khởi động một loạt 
phản ứng nhƣ trong đáp ứng viêm cấp tính. Giai 
đoạn tiểu nhiều, thƣờng bắt đầu sau 48 giờ, là một 
biểu hiện sự hồi phục. nếu thiểu niệu tồn tại sau 48-
72 giờ, cần sử dụng thêm lợi tiểu để giảm phù. Khi 
suy thận không cải thiện, cần tiến hành lọc máu 
hoặc lọc thẩm phân máu hỗ trợ. 
6.5 Chức năng huyết học 
Để tối ƣu hóa việc vận chuyển oxy, cần duy 
trì nồng độ hemoglobin trong khoảng 12-15 g/dL 
với truyền hồng cầu khối. Sử dụng ECMO làm tiêu 
hủy tiểu cầu, vì vậy cần truyền tiểu cấu khối để duy 
trì số lƣợng tiểu cầu ≥ 100,000/mcL. Duy trì thời 
gian đông máu hoạt hóa (ACT) từ 180-240 giây để 
tránh biến chứng chảy máu. 
6.6 Kiểm soát nhiễm trùng 
Thực hiện quy trình vô khuẩn nghiêm ngặt. 
Theo dõi biểu hiện nhiễm trùng bằng cách định kỳ 
cấy bệnh phẩm lấy từ hệ thống ECMO ít nhất 1 lần 
/ tuần. Thực hiện điều trị kháng sinh dự phòng theo 
phác đồ. Cần cấy bệnh phẩm để tìm các tác nhân 
khác (nấm, virus). 
6.7 Điều trị bù dịch, điện giải, và nuôi 
dƣỡng 
Bệnh nhận đƣợc hỗ trợ ECMO cần đƣợc theo 
dõi nghiêm ngặt thể tích tuần hoàn và điện giải đồ. 
Nuôi dƣỡng bằng cách truyền các dung dịch giàu 
năng lƣợng bằng cách sử dụng các dung dịch ƣu 
trƣơng. Cần theo dõi cân nặng ngƣời bệnh trong 
vòng 1-3 ngày đầu sau khởi động ECMO vì nguy 
cơ quá tải dịch. 
6.8 Điều trị thuốc 
- Các thuốc inotrope, nhƣ dopamine, 
dobutamine, và epinephrine, thƣờng đƣợc giảm liều 
khi bệnh nhân đã đƣợc hỗ trợ ECMO. 
- Các thuốc lợi tiểu, nhƣ furosemide và 
chlorothiazide, cần đƣợc sử dụng để giúp lấy dịch 
từ trong mô. 
- Các thuốc kháng acid và các thuốc đối vận 
H2 thƣờng đƣợc sử dụng để đề phòng xuất huyết từ 
dạ dày ruột. 
- An thần nhẹ với fentanyl, midazolam, hoặc 
morphine khi huyết động ổn định. 
- Sử dụng thuốc phenobarbital khi bệnh nhân 
có biểu hiện co giật. 
- Điều trị aminocaproic acid để làm giảm 
chảy máu trong quá trình phẫu thuật. 
- Điều trị kháng sinh, nhƣ ampicillin và 
cefotaxime, với đích điều trị là các mầm bệnh hay 
gặp hoặc dựa theo kết quả kháng sinh đồ. 
VII. BIẾN CHỨNG CỦA ECMO 
7.1 Biến chứng cơ học 
- Tạo huyết khối trong hệ thống là biến chứng 
cơ học thƣờng gặp nhất (19%). Những mẫu huyết 
khối lớn có thể làm hỏng màng phổi nhân tạo, gây 
rối loạn đông máu, và thuyên tắc mạch hệ thống 
hoặc tắc mạch phổi. Những hệ thống ECMO ngày 
nay đƣợc tráng phủ heparin giúp làm giảm biến 
chứng này. 
- Việc đặt cannula có thể đâm thủng tĩnh 
mạch cảnh trong gây chảy máu ỗ ạt trong trung thất. 
Bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh có thể lan 
đến quai động mạch chủ rất nguy hiểm. 
- Lọt bọt khí vào hệ thống từ mức độ chỉ một 
vài bọt khí cho đến thuyên tắc khí làm gián đoạn 
hoàn toàn hồi lƣu tĩnh mạch. Bọt khí tràn vào hệ 
thống có thể do tuột cannula tĩnh mạch, do bị rách 
nhẹ màng phổi nhân tạo, hoặc do áp lực riêng phần 
oxy trong máu quá cao, ngoài ra nguyên nhân có thể 
sơ suất khi tiêm truyền bơm bọt khí vào hệ thống. 
- Hỏng màng phổi nhân tạo khi thấy giảm 
khả năng trao đổi O2 và CO2 hoặc khi có tình trạng 
tiêu hủy đông máu nhanh chóng. Trƣờng hợp này 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 
 40 
cần đƣợc thay thế màng phổi nhân tạo khác nhanh 
chóng. 
- Vỡ các đầu nối hoặc dây dẫn máu có thể 
xảy ra nhƣng ít gặp hơn nếu nhƣ sử dụng loại bơm 
con lăn Tygon. 
- Hỏng chức năng bơm ECMO biểu hiện với 
hồi lƣu tĩnh mạch trở về bơm không đầy đủ. 
- Hỏng chức năng bộ phận trao đổi nhiệt có 
thể làm hạ than nhiệt nặng. 
- Hỏng toàn bộ hệ thống bao gồm nguồn 
cung cấp oxy, hoặc bộ phận trộn khí oxy cũng có 
thể xảy ra. 
- Hỏng các thiết bị theo dõi và báo động an 
toàn của hệ thống. 
Xử lý sự cố hệ thống ECMO 
- Ngay lập tức cặp đƣờng dẫn máu tĩnh mạch, 
mở nối thông giữa 2 đƣờng tĩnh mạch và động 
mạch, cặp đƣờng dẫn máu động mạch để rút ECMO 
khỏi ngƣời bệnh. 
- Bởi vì bệnh nhân đang còn thở máy, nên 
điều chỉnh thở máy với FiO2=100%, hoặc quay trở 
lại kiểu thở máy trƣớc khi hỗ trợ ECMO. 
7.2 Biến chứng trên bệnh nhân ECMO 
7.2.1 Biến chứng thần kinh 
- Biến chứng co giật. 
- Xuất huyết nội sọ và nhồi máu não có thể 
do chèn động mạch cảnh và tĩnh mạch cảnh trong, 
quá liều heparin, giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, 
tụt huyết áp kéo dài. 
7.2.2 Biến chứng xuất huyết 
- Tan máu và do rối loạn tiêu hủy các yếu tố 
đông máu. 
- Chảy máu tại vết mổ, vị trí đặt cannula, 
hoặc ở vết mổ có sẵn từ trƣớc khi sử dụng heparin 
toàn thân. 
- Chảy máu trong khoang lòng ngực, ổ bụng, 
hoặc khoang sau phúc mạc. 
- Giảm số lƣợng tiểu cầu do giảm sinh tiểu 
cầu do heparin, tăng tiêu hủy tiểu cầu, lắng đọng 
tiểu cầu ở màng nhân tạo, hoặc do pha loãng máu. 
7.2.3 Biến chứng trên tim 
- Choáng cơ tim là sự nhồi máu trong khoảng 
thời gian ngắn tâm thất trái trong hơn 25% trƣờng 
hợp khi khởi đầu ECMO và tình trạng này thƣờng 
sẽ hồi phục bình thƣờng sau 48h chạy ECMO. 
- Tăng huyết áp là một biến chứng nguy hiểm 
vì nguy cơ xuất huyết và đột quỵ. Loạn nhịp có thể 
xảy ra do thiếu oxy tổ chức và rối loạn điện giải. 
- Mở thông ống động mạch có thể xảy ra. 
- Tràn dịch màng ngoài tim. 
7.2.4 Biến chứng trên phổi 
- Tràn khí màng phổi là một biến chứng tiềm ẩn. 
- Chảy máu trong phổi. 
7.2.5 Biến chứng trên thận 
- Thƣờng thấy thiểu niệu trong giai đoạn sớm 
của ECMO. 
- Hoại tử ống thận cấp ở 1 số bệnh nhân đôi khi 
cần phải loạc máu hoặc thẩm phân. 
7.2.6 Biến chứng trên dạ dày, ruột 
- Xuất huyết tiêu hóa do stress, do thiếu máu 
hoặc nguy cơ xuất huyết. 
- Tăng bilirubine trực tiếp trong máu và nguy cơ 
sỏi túi mật xảy ra thƣ phát nếu nuôi dƣỡng toàn bộ 
ngoài đƣờng ruột, do thẩm phân, và lợi tiểu kéo dài. 
7.2.7 Biến chứng do nhiễm trùng 
- Hệ thống ECMO nguy cơ đƣa ra ngoài cơ 
thể những mạch máu lớn, kết hợp thao tác phẫu 
thuật nhiều lần làm tăng nguy cơ nhiễm khuẫn. 
7.2.8 Biến chứng về chuyển hóa 
- Toan chuyển hóa hoặc kiềm chuyển hóa. 
- Tăng kali máu hoặc hạ kali máu 
- Tăng natri máu hoặc hạ natri máu 
- Tăng calci máu hoặc hạ calci máu 
- Tăng đƣờng huyết hoặc hạ đƣờng huyết 
OXY HÓA QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ Extracorporeal Membrane Oxygenation - ECMO 
 41 
7.2.9 Thay đổi nồng độ thuốc trong máu ở 
bệnh nhân ECMO 
- Thực hiện kỹ thuật ECMO làm thay đổi 
nồng độ thuốc trong máu do làm thăng thể tích phân 
bố thuốc. 
- Thận trọng khi sử dụng những loại thuốc có 
phổ liều điều trị hẹp, cần định lƣợng nồng độ thuốc 
để điều chỉnh liều thuốc hợp lý. 
7.3. Chẩn đoán phân biệt tình trạng mất 
bù tim hô hấp cấp ở bệnh nhân đang đƣợc hỗ 
trợ ECMO 
- Chèn ép tim cấp (do chảy máu hoặc tràn khí) 
- Tràn khí màng phổi gây tăng áp hoặc tràn 
máu màng phổi 
- Suy hô hấp 
- Thiếu máu cơ tim 
- Rối loạn điện giải 
- Chảy máu ồ ạt (thƣờng là xuất huyết nội sọ) 
- Do tác dụng của thuốc 
- Nhiễm khuẫn kháng trị 
7.4 Cai và theo dõi giai đoạn cai ECMO 
Ở những bệnh nhân có chẩn đoán suy hô hấp 
trƣớc chạy ECMO, cần có giai đoạn thử nghiệm 
ngừng hoạt động ECMO để kiểm chứng bệnh nhân 
đảm bảo chức năng trao đổi kí với chế độ thở máy 
cho phép và khi đó bệnh nhân phải dung nạp tốt với 
một lƣu lƣợng bơm nhỏ từ 10-20 mL/kg/phút và tổng 
lƣu lƣợng ở mức tối thiểu khoảng 200 mL/phút. 
Từ khóa: 
Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể, ECMO, phổi 
nhân tạo, tuần hoàn ngoài cơ thể, suy hô hấp, suy 
tim, cơn tăng áp phổi, tăng huyết áp. 
Keywords: 
extracorporeal membrane oxygenation, 
ECMO, oxygenator, cardiopulmonary bypass, 
respiratory failure, heart failure, pulmonary 
vasoreactive crisis, hypertension. 

File đính kèm:

  • pdfoxy_hoa_qua_mang_ngoai_co_the_extracorporeal_membrane_oxygen.pdf