Nước ối lẫn phân su ở thai kì đủ tháng: một số yếu tố nguy cơ và kết quả kết thúc thai kì

Mục tiêu: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến sự xuất hiện phân su trong nước

ối. Nghiên cứu các kết quả trên thai nhi sau khi kết thúc thai kì. Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu: mô tả cắt ngang có đối chứng. Đối tượng nghiên cứu gồm 107 sản phụ đã được

kết thúc thai kì đủ tháng có nước ối lẫn phân su, so sánh với nhóm chứng bao gồm 125 sản

phụ mang thai đủ tháng có nước ối trong. Kết quả: Có 107 sản phụ được kết thúc thai kì đủ

tháng có nước ối lẫn phân su phù hợp với tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ của nghiên cứu,

và 125 sản phụ khác có nước ối trong được chọn vào nhóm chứng. Nhóm sản phụ có nước

ối xanh đặc chiếm 33,6%. Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 30,6±6,7 tuổi, cao hơn có ý

nghĩa so với nhóm có nước ối trong (27,0±5,1 tuổi). Tuổi thai trung bình của mẫu nghiên cứu

là 39,9±1,5 tuần, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong (39,2±1,4 tuần). Tỉ lệ mổ lấy

thai ở nhóm có nước ối lẫn phân su là 53,3%, cao hơn 2,2 lần so với nhóm có nước ối trong,

đặc biệt nhóm có nước ối xanh đặc thì tỉ lệ này là 77,8%. Cân nặng lúc sinh của mẫu nghiên

cứu là 2839,3±400,9 gam, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong (3100±347,5

gam). Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa ở nhóm có nước ối màu vàng. pH máu

trung bình của mẫu nghiên cứu là 7,2±0,1, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng, thấp nhất

là nhóm có nước ối xanh đặc.

pdf 9 trang phuongnguyen 400
Bạn đang xem tài liệu "Nước ối lẫn phân su ở thai kì đủ tháng: một số yếu tố nguy cơ và kết quả kết thúc thai kì", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nước ối lẫn phân su ở thai kì đủ tháng: một số yếu tố nguy cơ và kết quả kết thúc thai kì

Nước ối lẫn phân su ở thai kì đủ tháng: một số yếu tố nguy cơ và kết quả kết thúc thai kì
Hoàng Báo Nhân/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 101
NƯỚC ỐI LẪN PHÂN SU Ở THAI KÌ ĐỦ THÁNG: 
MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ KẾT QUẢ KẾT 
THÚC THAI KÌ
Hoàng Bảo Nhân*, Nguyễn Vũ Quốc Huy**
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến sự xuất hiện phân su trong nước 
ối. Nghiên cứu các kết quả trên thai nhi sau khi kết thúc thai kì. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu: mô tả cắt ngang có đối chứng. Đối tượng nghiên cứu gồm 107 sản phụ đã được 
kết thúc thai kì đủ tháng có nước ối lẫn phân su, so sánh với nhóm chứng bao gồm 125 sản 
phụ mang thai đủ tháng có nước ối trong. Kết quả: Có 107 sản phụ được kết thúc thai kì đủ 
tháng có nước ối lẫn phân su phù hợp với tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ của nghiên cứu, 
và 125 sản phụ khác có nước ối trong được chọn vào nhóm chứng. Nhóm sản phụ có nước 
ối xanh đặc chiếm 33,6%. Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 30,6±6,7 tuổi, cao hơn có ý 
nghĩa so với nhóm có nước ối trong (27,0±5,1 tuổi). Tuổi thai trung bình của mẫu nghiên cứu 
là 39,9±1,5 tuần, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong (39,2±1,4 tuần). Tỉ lệ mổ lấy 
thai ở nhóm có nước ối lẫn phân su là 53,3%, cao hơn 2,2 lần so với nhóm có nước ối trong, 
đặc biệt nhóm có nước ối xanh đặc thì tỉ lệ này là 77,8%. Cân nặng lúc sinh của mẫu nghiên 
cứu là 2839,3±400,9 gam, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong (3100±347,5 
gam). Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa ở nhóm có nước ối màu vàng. pH máu 
trung bình của mẫu nghiên cứu là 7,2±0,1, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng, thấp nhất 
là nhóm có nước ối xanh đặc. Kết luận: tuổi mẹ lớn và tuổi thai tính theo tuần cao là hai yếu 
tố nguy cơ liên quan đến tình trạng nước ối lẫn phân su. Và tình trạng này làm tăng tỉ lệ mổ 
lấy thai, làm giảm cân nặng lúc sinh của trẻ sơ sinh, pH máu dây rốn của nhóm này cũng 
thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong. 
Từ khóa: nước ối lẫn phân su, tỉ lệ mổ lấy thai, pH máu dây rốn.
Abstract: 
Meconium Stained Amniotic Fluid in Term Pregnancies: Some Risk Factors and Outcomes
Objectives: To estimate some risk factors and the outcomes of term pregnancies with 
meconium stained amniotic fluid (MSAF). Method: cross-sectional descriptive. Results: there 
were 107 term pregnant women with MSAF were included, and 125 pregnant women with 
clear amniotic fluid as the controlled group. There were 33.6% of them had thick meconium 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3) 101-109,2012
102 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10 Số 03, Tháng 7- 2012
in amniotic fluid. The mean age of the study group was 30.9±6.9 years old, higher than the 
controls. The mean gestational age was 39.9±1.5 weeks, higher than the controls, too. And 
the rate of Cesarean section was 53.3%, higher than the clear fluid group, but the highest rate 
is of the thick meconium goup. Mean birth weight was 2839.3±400.9 gam, lower than the 
controls. And the mean pH value was 7.2±0.1, lower than the controls, too. Conclusions: the 
higher age of the mother and the gestation age, the higher risk of MSAF. And this condition 
makes it increase of C-section rate, decrease of birth weight and pH value. 
Keywords: Meconium stained amniotic fluid (MSAF), cesarean section rate, cord blood pH.
* BSNT, (**) PGS TS, Bộ môn Phụ Sản, Trường Đại học Y Dược Huế.
Đặt vấn đề
Phân su được hình thành từ quá trình 
nuốt nước ối, các chất tiết của ruột (như 
mật), các mảng tế bào chết và một số mảnh 
vụn khác. Nó xuất hiện đầu tiên vào 3 tháng 
đầu thai kì và tích lũy trong tử cung trong 
suốt thai kì. Các acid mật được tiết ra vào 
đầu của 3 tháng giữa. Ở thai trưởng thành, 
phân su bao gồm nước, mucopolysacahride, 
cholesterol, tiền chất sterol, protein, lipid, 
acid mật, muối mật, enzyme, các chất thuộc 
nhóm máu, tế bào tiết nhầy, tóc, chất bã (các 
tế bào tuyến bã đã bong nguồn gốc từ da 
của thai nhi) [4][11].
Phân su thường có màu xanh đậm, 
nhưng tùy vào thời điểm phân su được tống 
xuất vào trong buồng ối mà nó có thể làm 
cho nước ối có màu sắc khác nhau. Có thể là 
màu xanh đặc, xanh loãng, màu vàng xanh 
hoặc màu vàng như dưa cải. Sự thoái hóa 
các thành phần trong phân su qua những 
khoảng thời gian khác nhau làm cho nước 
ối có những màu sắc khác nhau [13][14][19]. 
Nước ối có màu xanh đặc là do thai nhi vừa 
mới tống xuất phân su, nước ối có màu vàng 
nhạt là do thai nhi đã tống suất phân su trong 
một khoảng thời gian rất lâu trước đây, còn 
màu xanh nhạt hoặc màu vàng xanh thì nằm 
ở khoảng giữa của hai tình huống trên. Sự 
khác nhau về màu sắc đó thường được qui 
cho những nguyên nhân khác nhau, nước ối 
xanh đặc thường được qui cho là thai suy 
cấp, ngược lại thì nước ối có màu vàng là do 
thai suy mãn tính hay thai kém phát triển 
trong tử cung [1][2][3]. 
Nước ối xanh hay nước ối lẫn phân su là 
một dấu hiệu thường gặp trong thực hành 
sản khoa hàng ngày, nó được ghi nhận vào 
khoảng 10-20% các thai kì đủ tháng [7][9]
[10]. Khi có biểu hiện nước ối lẫn phân su 
thì dự hậu cho thai nhi thường xấu hơn so 
với những trường hợp nước ối trong [4]
[10][12]. Cho nên người ta thường chỉ định 
mổ lấy thai trong những trường hợp này 
với chẩn đoán thai suy cấp trong chuyển 
dạ hoặc thai suy mãn trong tử cung [5][12]
[20][21]. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến 
dấu hiệu này hiện chưa được thống nhất, 
và chúng tôi nhận thấy rằng chỉ số Apgar 
ở những trẻ này thường tốt, thông thường 
là 8 điểm 1 phút và 9 điểm 5 phút. Do đó, 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 
hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ liên 
quan đến sự xuất hiện phân su trong nước ối.
2. Nghiên cứu các kết quả trên thai nhi 
sau khi kết thúc thai kì.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 107 sản phụ mang thai đủ tháng 
chuyển dạ được ghi nhận nước ối có lẫn 
phân su và đã được kết thúc thai kì trong 
khoảng thời gian 6/2011-6/2012. So sánh với 
nhóm chứng bao gồm 125 sản phụ mang 
thai đủ tháng được kết thúc thai kì có nước 
ối trong trong cùng khoảng thời gian. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Mang thai đơn thai.
- Thai ngôi đầu.
- Được kết thúc thai kì bằng phương 
pháp đẻ đường âm đạo hoặc mổ lấy thai.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Thai được chẩn đoán dị tật hoặc chết 
Hoàng Báo Nhân/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 103
Kết quả và bàn luận
Các yếu tố nguy cơ
Màu sắc nước ối
Biểu đồ 1: Các màu ối khác nhau
Tỉ lệ sản phụ có nước ối màu xanh nhạt được ghi nhận nhiều nhất trong nhóm những sản 
phụ có nước ối màu xanh. Nhóm có nước ối có màu xanh đặc chiếm 33,6%. 
Tuổi mẹ
Biểu đồ 2: Độ tuổi ở những sản phụ có màu sắc nước ối khác nhau 
lưu trước khi có dấu hiệu chuyển dạ.
- Mẹ bị tiền sản giật, sản giật, nhau bong 
non, có vết mổ cũ trên tử cung hoặc các 
bệnh lý khác dẫn đến chỉ định can thiệp 
không do thai.
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu và 
nhóm chứng
Nhóm nghiên cứu được lấy ngẫu nhiên 
trong thời gian nghiên cứu.
Các sản phụ được chọn vào trong nhóm 
chứng cũng phù hợp với tiêu chuẩn chọn 
bệnh và loại trừ như đối với mẫu nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt 
ngang, có đối chứng.
Nhóm nghiên cứu được chia làm các 
nhóm có màu sắc nước ối khác nhau bao 
gồm nước ối xanh nhạt, xanh đặc, vàng 
xanh và vàng.
Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi mẹ, số 
lần mang thai và tuổi thai được mô tả phân 
tích và so sánh giữa nhóm nghiên cứu và 
nhóm chứng và giữa các nhóm khác nhau 
trong mẫu nghiên cứu. 
Phương pháp kết thúc thai kì bao gồm 
mổ lấy thai và đẻ đường âm đạo.
Kết quả kết thúc thai kì bao gồm cân nặng 
trẻ lúc sinh, pH máu dây rốn được mô tả, 
phân tích và so sánh giữa các nhóm với nhau.
Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống 
kê SPSS17.0. Sử dụng các phép toán tính tỉ 
lệ phần trăm, trung bình, so sánh sự khác 
biệt hai trung bình, hai tỉ lệ với mức ý nghĩa 
p=0,05.
104 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10 Số 03, Tháng 7- 2012
Bảng 1: Độ tuổi ở những sản phụ có màu sắc nước ối khác nhau
Màu sắc nước ối N Tuổi trung bình
Xanh nhạt 37 29,0±7,1 30,9±6,7
Xanh đặc 36 31,5±6,8
Vàng xanh 22 34,5±5,7
Vàng 12 30,5±6,4
Trong 125 27,0±5,1
Nhóm sản phụ có nước ối lẫn phân su có tuổi thai trung bình cao hơn có ý nghĩa thống 
kê so với nhóm sản phụ có nước ối trong với mức ý nghĩa 0,05, và 95%CI sự khác biệt này là 
2,2-5,2 tuổi. Trong đó, nhóm sản phụ có nước ối vàng xanh là cao nhất, 34,5±5,7 tuổi. 
Số lần mang thai
Bảng 2: Số lần mang thai ở những bệnh nhân có màu sắc nước ối khác nhau
Màu sắc nước ối N Số lần mang thai trung bình
Xanh nhạt 37 2,3±1,2 2,4±1,1
Xanh đặc 36 2,4±1,1
Vàng xanh 22 2,6±1,1
Vàng 12 2,3±0,8
Trong 125 2,4±1,1
Sự khác biệt về tuổi thai giữa các nhóm nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê với mức 
ý nghĩa 0.05.
Tuổi thai
Bảng 3: Tuổi thai ở những nhóm có màu sắc nước ối khác nhau
Màu sắc nước ối N Tuổi thai trung bình
Xanh nhạt 37 39,9±1,4 39,9±1,5
Xanh đặc 36 39,9±1,6
Vàng xanh 22 39,9±1,5
Vàng 12 40,2±1,6
Trong 125 39,2±1,4
So với nhóm chứng thì nhóm nghiên cứu có tuổi thai cao hơn có ý nghĩa thống kê với 
mức ý nghĩa 0,05 và 95%CI sự khác biệt này là 0,4-1,1 tuần. Trong đó, nhóm có nước ối màu 
vàng là cao nhất, 40,2±1,6 tuần. 
Hoàng Báo Nhân/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 105
Biểu đồ 3: Phân bố tuổi thai theo màu sắc nước ối
Tuổi thai càng cao thì nguy cơ nước ối lẫn phân su càng cao. Trong nhóm sản phụ có nước 
ối lẫn phân su thì tỉ lệ những thai kì trên 40 tuần (43,9%) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có 
nước ối trong (19,2%) với mức ý nghĩa 0,05.
Phương pháp can thiệp
Bảng 4: Phương pháp can thiệp
Phương pháp can thiệp
Đẻ đường âm đạo Mổ lấy thai
N % N %
Màu sắc nước ối Xanh nhạt 28 75,7 9 24,3
Xanh đặc 8 22,2 28 77,8
Vàng xanh 6 27,3 16 72,7
Vàng 8 66,7 4 33,3
Tổng 50 46,7 57 53,3
Trong 94 75,2 31 24,8
Những sản phụ có nước ối lẫn phân su có nguy cơ mổ lấy thai cao gấp 2,15 lần so với 
nhóm sản phụ có nước ối trong (95%CI 1,51-3,06). Trong đó, tỉ lệ can thiệp mổ lấy thai cao 
nhất trong nhóm có nước ối xanh đặc, 77,8% và thấp nhất là nhóm có nước ối có màu xanh 
nhạt, 24,3%.
106 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10 Số 03, Tháng 7- 2012
Kết quả kết thúc thai kì
Cân nặng lúc sinh:
Bảng 5: Cân nặng lúc sinh
Màu sắc 
nước ối
N Trung bình
So sánh với nhóm ối trong
Mức giá 
trị p
95%CI
của sự khác biệt
Xanh nhạt 37 2800±396,7
2839,3±400,9
0,007 49,6 – 315,1
Xanh đặc 36 2700±458,9 0,002 79,4 – 359,5
Vàng xanh 22 2650±373,6 0,001 123,0 – 444,1
Vàng 12 2900±270,8 0,272
Trong 125 3100±347,5
Nhóm có nước ối xanh nhạt có cân 
nặng lúc sinh cao nhất, 2800±396,7gam, và 
những trẻ sơ sinh trong nhóm nghiên cứu 
có cân nặng lúc sinh thấp hơn có ý nghĩa so 
với nhóm chứng với mức ý nghĩa p = 0,05, 
95%CI của sự khác biệt là 111,1- 304,8 gam. 
Trong đó, chỉ có nhóm có nước ối vàng là 
không khác biệt so với nhóm ối trong, còn 
lại các nhóm khác đều có trọng lượng thai 
thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước 
ối trong.
pH máu dây rốn
Bảng 6 : pH máu dây rốn
Màu sắc nước ối N pH máu dây rốn So sánh với nhóm có ối trong
Mức giá trị p 95%CI
của sự khác biệt
Xanh nhạt 37 7,23±0,07 7,21±0,07 0,01 0,006 – 0,047
Xanh đặc 36 7,19±0,06 <0,001 0,062 – 0,102
Vàng xanh 22 7,26±0,08 0,084
Vàng 12 7,27±0,07 0,866
Trong 125 7,26±0,05
pH máu dây rốn trung bình của nhóm 
nghiên cứu là 7,21±0,07, thấp hơn có ý 
nghĩa so với nhóm chứng với mức ý nghĩa 
p = 0,05, và 95%CI của sự khác biệt này là 
0,03-0,06. Tuy nhiên, sự khác biệt chỉ có ý 
nghĩa ở nhóm có nước ối màu xanh nhạt và 
xanh đặc với mức ý nghĩa lần lượt là 0,01 
và < 0,001. 
Bàn luận
Các yếu tố nguy cơ
Màu sắc nước ối:
Theo biểu đồ 1, tỉ lệ sản phụ có nước ối 
màu xanh nhạt được ghi nhận nhiều nhất 
trong nhóm nghiên cứu, nhóm có nước ối 
có màu xanh đặc chiếm 33,6%, đây là tình 
trạng khá thường gặp trong thực hành lâm 
sàng, và thường được qui cho nguyên nhân 
là thai suy, hay do thai mới tống suất phân 
su vào trong buồng ối. 
Trong một nghiên cứu tại đơn vị chăm 
sóc sơ sinh thuộc khoa Nhi bệnh viện 
trường đại học Banaras Hindu đã cho thấy 
tỉ lệ trẻ sơ sinh sống có nước ối đặc phân su 
là 141/204 trường hợp có nước ối lẫn phân 
su [13]. Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu 
của chúng tôi. 
Tuy nhiên, một nghiên cứu được công bố 
năm 2010 cho thấy tỉ lệ sản phụ có phân su 
Hoàng Báo Nhân/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 107
mức độ III trong nước ối là khoảng 22% [22]. 
Nghiên cứu khác lại cho thấy tỉ lệ thai phụ 
có nước ối đặc phân su chiếm khoảng 39% 
trong khi nhóm còn lại có nước ối lẫn phân 
su loãng hơn chiếm 61% [16].
Tuổi mẹ
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận độ 
tuổi trung bình ở nhóm sản phụ có nước ối 
xanh hay lẫn phân su cao hơn so với nhóm 
có nước ối trong với mức ý nghĩa 0,05. 
Trong một nghiên cứu về yếu tố nguy 
cơ của tình trạng nước ối có lẫn phân su đã 
cho thấy rằng tuổi mẹ trên 30 là một yếu tố 
nguy cơ dẫn đến nước ối có lẫn phân su [16]. 
Tuy nhiên, các nghiên cứu khác không thấy 
có bàn luận đến yếu tố này như một yếu tố 
nguy cơ dẫn đến thai tống suất phân su vào 
trong buồng ối. 
Số lần mang thai
Bảng 2 cho thấy số lần mang thai trung 
bình của nhóm có nước ối xanh và nhóm 
có nước ối trong không có sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa p = 0,05. 
Một nghiên cứu ở Ấn Độ khi nghiên cứu các 
yếu tố nguy cơ thì cho thấy rằng thai con so 
là một yếu tố nguy cơ của tình trạng nước 
ối lẫn phân su [16]. Tuy nhiên, nghiên cứu 
chúng tôi không ghi nhận tình trạng này, có 
lẽ cuộc chuyển dạ ở những sản phụ mang 
thai con so thường kéo dài hơn, làm tăng 
nguy cơ thai thiếu oxy và dẫn đến tình trạng 
tống suất phân su vào trong buồng ối. Sự 
khác biệt kết quả nghiên cứu này có lẽ là do 
sự khác biệt về qui trình theo dõi chuyển 
dạ cũng như các chỉ định can thiệp giữa hai 
đơn vị lâm sàng khác nhau.
Tuổi thai
Bảng 3 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê về tuổi thai giữa nhóm nghiên 
cứu và nhóm chứng với mức ý nghĩa 0,05 
và 95%CI sự khác biệt này là 0,4-1,1 tuần. 
Trong đó, nhóm có nước ối màu vàng có 
tuổi thai cao nhất, 40,2±1,6 tuần. 
Mặc dù hiện nay, nguyên nhân của 
tình trạng nước ối lẫn phân su vẫn chưa 
rõ, nhưng một trong những nguyên nhân 
được nhiều người chấp nhận là tình trạng 
trưởng thành của hệ thống tiêu hóa của thai 
nhi [18],[22],[14],[10]. Và hiếm khi ghi nhận 
được tình trạng nước ối lẫn phân su khi tuổi 
thai còn non, nhất là trước 33 tuần [19]. 
Phân su trong nước ối là một triệu chứng 
thường gặp ở những thai kì đủ tháng với tỉ 
lệ có thể lên đến 30% ở các thai kì già tháng. 
Trong một nghiên cứu trên 13.000 bánh rau, 
khoảng 20% trường hợp ghi nhận có phân 
su ở các mức độ khác nhau và phần lớn 
trong số đó là thai đủ tháng [19].
Phương pháp can thiệp
Bảng 4 cho thấy những sản phụ có nước 
ối lẫn phân su có nguy cơ mổ lấy thai cao 
gấp 2,2 lần so với nhóm sản phụ có nước 
ối trong (95%CI 1,5-3,1). Trong đó, tỉ lệ can 
thiệp mổ lấy thai cao nhất trong nhóm có 
nước ối xanh đặc, 77,8% và thấp nhất là 
nhóm có nước ối có màu xanh nhạt, 24,3%.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho 
thấy kết quả tương tự, nước ối lẫn phân su 
làm tăng tỉ lệ can thiệp mổ lấy thai [22],[24]. 
Một nghiên cứu ở vùng Trung Đông cho thấy 
tỉ lệ đó là 50,6% [8], tỉ lệ này tương đương với 
nghiên cứu của chúng tôi. Một nghiên cứu 
khác ở Ấn Độ công bố năm 2010 cho thấy tỉ 
lệ can thiệp mổ lấy thai ở nhóm có nước ối 
lẫn phân su thấp hơn nghiên cứu của chúng 
tôi, 33,3%, tuy nhiên, cũng cho thấy kết quả 
tương tự khi so sánh với nhóm nước ối trong 
thì tỉ lệ mổ lấy thai cũng cao gấp hơn 2 lần 
(33,3% so với 17,1%) [10]. Như đã nói ở trên 
thì nước ối lẫn phân su thường được qui cho 
nguyên nhân thai thiếu oxy, nên các bác sĩ 
lâm sàng thường chỉ định mổ lấy thai khi 
phát hiện dấu hiệu này [12],[14]. Điều này 
làm tăng tỉ lệ mổ lấy thai trong nhóm này. 
Kết quả kết thúc thai kì
Cân nặng lúc sinh:
Bảng 5 cho thấy nhóm có nước ối lẫn 
phân su có trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh 
thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng với 
mức ý nghĩa p = 0,05. 95%CI của sự khác biệt 
là 111,1- 304,8 gam. Chỉ có nhóm có nước 
ối vàng là không khác biệt so với nhóm ối 
108 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10 Số 03, Tháng 7- 2012
trong, còn lại các nhóm khác đều có trọng 
lượng thai thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm 
có nước ối trong. Một nghiên cứu ở Thái Lan 
đã cho thấy một trong những nguy cơ của 
tình trạng nước ối lẫn phân su là tăng trọng 
lượng thai [18]. Có lẽ những thai kì có trọng 
lượng trẻ sơ sinh cao thường có cuộc chuyển 
dạ kéo dài hơn và tiêu chuẩn chọn bệnh giữa 
hai nghiên cứu là khác nhau nên dẫn đến sự 
khác biệt về kết quả nghiên cứu này.
pH máu dây rốn
Bảng 6 cho thấy so với nhóm chứng thì 
nhóm nghiên cứu có giá trị pH máu dây 
rốn thấp hơn có ý nghĩa thống kê với mức 
ý nghĩa p = 0,05 và 95% CI của sự khác biệt 
này là 0,03-0,06. Tuy nhiên, sự khác biệt chỉ 
có ý nghĩa ở nhóm có nước ối màu xanh 
nhạt và xanh đặc với mức ý nghĩa lần lượt là 
0,01 và < 0,001. 
Mối liên quan giữa triệu chứng có phân 
su trong nước ối và tình trạng nhiễm toan 
của thai nhi là một vấn đề còn tranh cãi 
[6]. Một số tác giả báo cáo rằng không có 
sự liên quan giữa triệu chứng có phân su 
trong nước ối và chỉ số pH động mạch rốn 
trung bình và tỉ lệ nhiễm toan của thai nhi, 
trong khi một số tác giả khác lại tìm thấy 
sự liên quan giữa triệu chứng này và kết 
quả xét nghiệm khí máu thai nhi [9]. Sự 
khác biệt kết quả giữa các nghiên cứu này 
có thể là do tỉ lệ chẩn đoán hạ oxy máu 
thai nhi liên quan đến triệu chứng có phân 
su trong nước ối còn thấp [17]. Trong một 
nghiên cứu trên 19.000 thai kì đủ tháng (từ 
37 tuần trở lên) được ghi nhận có phân su 
trong nước ối thì chỉ 14% có hình ảnh CTG 
bất thường, dưới 3,2% có chỉ số Apgar nhỏ 
hơn 7 điểm sau 5 phút, và pH động mạch 
rốn dưới 7,10 chỉ được ghi nhận trong 
3,6% trường hợp, điều này gợi ý rằng 
hạ oxy máu không phải là nguyên nhân 
thường gặp trong các trường hợp có phân 
su trong nước ối [12],[23]. Tuy nhiên, việc 
ghi nhận phân su đặc và mới xuất hiện 
trong chuyển dạ làm tăng 2 lần nguy cơ 
có pH máu dây rốn nhỏ hơn 7,10 và chỉ số 
Apgar nhỏ hơn 7 sau 5 phút so với nhóm 
có nước ối trong hoặc xanh loãng [11]. 
Điều này gợi ý rằng nếu phân su được ghi 
nhận trước khi chuyển dạ thì có thể là sinh 
lý do sự trưởng thành của hệ tiêu hóa, và 
ghi nhận phân su trong nước ối có thể là 
biểu hiện của một quá trình bệnh lý [19]. 
Kết luận
- Tuổi mẹ cao và tuổi thai tính theo tuần 
cao là hai yếu tố nguy cơ của tình trạng nước 
ối lẫn phân su.
- Nước ối lẫn phân su làm tăng nguy cơ 
mổ lấy thai.
- Nhóm trẻ sơ sinh được sinh ra với nước 
ối lẫn phân su có cân nặng lúc sinh thấp hơn 
có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong, 
trong đó nhóm có nước ối màu vàng xanh 
là thấp nhất.
- Nước ối xanh nói chung làm giảm có ý 
nghĩa pH máu dây rốn ở trẻ sơ sinh, trong 
đó chỉ có nhóm có nước ối xanh đặc và xanh 
nhạt có pH thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm 
có nước ối trong. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ môn Phụ Sản trường Đại học Y Dược 
Huế (2006), “Suy thai”, Sản phụ khoa, 
Nhà xuất bản y học, tr 446-454.
2. Bộ môn Phụ Sản trường Đại học Y Dược 
thành phố Hồ Chí Minh (2006), “Suy 
thai cấp trong chuyển dạ”, Sản phụ khoa, 
Tập 1, Nhà xuất bản y học, tr. 426-432.
3. Bộ Y tế (2009) “Thai suy cấp”, Hướng 
dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức 
khỏe sinh sản, Bộ Y tế, Hà Nội, tr.131.
4. Nguyễn Đức Hinh (2007), “Thành phần 
của nước ối”, Nước ối- một số vấn đề cần 
thiết đối với bác sĩ sản khoa, Nhà xuất bản 
Y học, tr. 26-31.
5. Phan Hiếu (2006), “Thai suy”, Cấp cứu sản 
phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, tr. 29-30.
Hoàng Báo Nhân/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 109
6. Bahiah AS, Murphy JF, Sharida HE 
(2010) “Fetal Distress in Labor and 
Caesarean Section Rate”, Bahrain 
Medical Bulletin, 32(2): 14-19.
7. Dastur AE (2005) “Intrapartum fetal 
distress”, J Obstet Gynecol India, 55(2): 
115-117.
8. Duhan N, Paul A, Duhan U, Anjali (2010) 
“Meconium Staining of Amniotic Fluid-A 
Poor Indicator of Fetal Compromise”, JK 
Science, 12(4): 184-186.
9. Gelfand SL, Fanaroff JM, Walsh MC 
(2007) “Meconium stained fluid: 
approach to the mother and the baby”, 
Clinics in Perinatology, 34(4): 653– 665.
10. Grignaffini A, Soncini E, Ronzoni E, 
Piazza E, Anfuso S, Vadora E (2004) 
“Meconium-stained amniotic fluid and 
fetal oxygen saturation measured by 
pulse oximetry during labour”, Acta Bio 
Medica Ateneo Parmense; 75(1): 45-52.
11. Gupta V, Bhatia BD and Mishra OP 
(1995) “Meconium stained amnionitic 
fluid: antenatal, intrapartum and 
neonatal attributes”, Indian Pediatrics, 
33(4): 293-297.
12. Kamat M, Wu S, Yeh TF (2009) “Meconium 
Aspiration Syndrome -Pathogenesis and 
Current Management”, Neonatalogy 
Today, 4(4): 2-11.
13. Krzyscin M, Banaszak A, Dera A, 
Szymankiewicz M, Breborowicz G 
(2009) “Intrapartum amnioinfusion for 
meconium- stained amniotic fluid”, 
Archives of Perinatal Medicine, 15(2): 
95-100.
14. Naveen S, Vijay Kumar S, Ritu S, Kushla 
P (2005) “Predictors of meconium 
stained amniotic fluid: a possible 
strategy to reduce neonatal morbidity 
and mortality”, J Obstet Gynecol India, 
56(6): 514-517.
15. Ojha RK, Singh SK, Batra S, Sreenivas 
V and Puliyel JM (2006) “Lactate: 
creatinine ratio in babies with thin 
meconium staining of amniotic fluid”, 
BMC Pediatrics, 6:13.
16. Piyayotai V (2008) “Outcome of 
Pregnancy with Meconium Stained 
Amniotic Fluid at Uthaithani Hospital”, 
Khon Kaen Hospital Medical Journal, 
32(5): 50-58.
17. Poggi SH, Ghidini A (2009) 
“Pathophysiology of meconium passage 
into the amniotic fluid”, Early Human 
Development, 85(10): 607–610.
18. Roggensack A, Jefferies AL, Farine D 
(2009) “Management of Meconium at 
Birth” J Obstet Gynaecol Can; 31(4): 
353–354.
19. Roy KK, Baruah J, Kumar S, Deorari 
AK, Sharma JB and Karmakar D (2008) 
“Cesarean Section for Suspected Fetal 
Distress, Continuous Fetal Heart 
Monitoring and Decision to Delivery 
Time”, Indian J Pediatr; 75(12): 1249-1252.
20. Shaikh EM, Mehmood S, Shaikh MA 
(2010) “Neonatal outcome in meconium 
stained amniotic fluid-one year 
experience”, J Pak Med Assoc, 60(9): 
711-714.
21. Staribratova D, Belovejdov V (2011) 
“Fetal hypoxia and meconium in 
preterm deliveries and stillbirth”, Trakia 
Journal of Sciences, 9(2): 45-48.
22. Khatua S, Serrao PR, Milano EL. 
(2000) “Advances in the Management 
of Meconium Aspiration Syndrome”, 
International Journal of Pediatrics, 
67(11): 837-841.
23. Teksam O, Tekinalp G, Yurdakok M, 
Yigit S, Korkmaz A and Guc D (2008) 
“Vascular Endothelial Growth Factor 
Levels in Newborns with Meconium 
Stained Amniotic Fluid”, Indian J 
Pediatr; 75(10): 1015-1017.
24. Wiberg-Itzel E, Lipponer C et al (2008) 
“Determination of pH or lactate in 
fetal scalp blood in management of 
intrapartum fetal distress: randomized 
controlled multicentre trial”, BMJ 
Research, 336 (7656): 1284–1287.

File đính kèm:

  • pdfnuoc_oi_lan_phan_su_o_thai_ki_du_thang_mot_so_yeu_to_nguy_co.pdf