Nội soi cổ tay cơ bản (Basic Study of Wrist Arthroscopy)
Nội soi cổ tay đã được thực hiện và mô tả lần đầu tiên bởi Chen năm 1979 [1]. Lúc đầu kĩ thuật này chỉ dùng để quan sát một phần mặt khớp mà không dùng để điều trị [2]. Cho đến năm 1986, Whipple đã cải thiện kĩ thuật kéo và nghiên cứu các cổng đặt để đánh giá khớp cổ tay một cách tối ưu nhất [3]. Tuy nhiên vào thời điểm này nội soi khớp cổ tay chỉ dừng lại chủ yếu là chẩn đoán, việc điều trị vẫn còn hạn chế. Kể từ sau thời điểm này, nội soi cổ tay dần được cải tiến với nhiều chỉ định và thực hiện nhiều thủ thuật hơn
Bạn đang xem tài liệu "Nội soi cổ tay cơ bản (Basic Study of Wrist Arthroscopy)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nội soi cổ tay cơ bản (Basic Study of Wrist Arthroscopy)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 113 NỘI SOI CỔ TAY CƠ BẢN (Basic Study of Wrist Arthroscopy) Lê Gia Ánh Thỳ1, Nguyễn Viết Tân1, Nguyễn Thanh Diệu1 Nội soi cổ tay đã được thực hiện và mô tả lần đầu tiên bởi Chen năm 1979 [1]. Lúc đầu kĩ thuật này chỉ dùng để quan sát một phần mặt khớp mà không dùng để điều trị [2]. Cho đến năm 1986, Whipple đã cải thiện kĩ thuật kéo và nghiên cứu các cổng đặt để đánh giá khớp cổ tay một cách tối ưu nhất [3]. Tuy nhiên vào thời điểm này nội soi khớp cổ tay chỉ dừng lại chủ yếu là chẩn đoán, việc điều trị vẫn còn hạn chế. Kể từ sau thời điểm này, nội soi cổ tay dần được cải tiến với nhiều chỉ định và thực hiện nhiều thủ thuật hơn. Việc chẩn đoán và điều trị thông qua kĩ thuật nội soi cổ tay được cải thiện nhờ vào hiểu rõ hơn về giải phẫu cũng như chức năng cổ tay. Nội soi giúp cho việc sửa chữa các tổn thương khó ở cổ tay 1 cách chính xác. Nội soi cổ tay cho phép phẫu thuật viên thăm khám trực tiếp các cấu trúc như mặt khớp, dây chằng những cấu trúc mà phải thông qua phẫu thuật mở mới có thể quan sát được.[4] Với việc quan sát đánh giá trực tiếp như vậy, phẫu thuật viên có thể so sánh được các cấu trúc bình thường và tổn thương nhằm tối ưu hoá việc điều trị giúp cho bệnh nhân sớm phục hồi đạt được tầm hoạt động chức năng.[5] Khoa Chi trên bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình đã triển khai nội soi khớp cổ tay để phục vụ giúp cho việc chẩn đoán và điều trị các tổn thương vùng cổ tay. Bài báo cáo này sẽ nói về tổng quan, kĩ thuật cơ bản, và 1 số tổn thương phổ biến mà nội soi khớp cổ tay có thể giải quyết. Giải phẫu Khớp cổ tay bao gồm 8 xương cổ tay, với rất nhiều khớp và các dây chằng nội tại và ngoại lại, và phức hợp dây chằng sụn sọi tam giác (TFCC). Tất cả cấu trúc trên được bao bọc xung quanh bơi gân cơ và mạch máu thần kinh. [7,8] Để đặt được các cổng chính xác, các cấu giải phẫu phải được vẽ trước khi rạch da. Các cấu trúc được đánh dấu như lồi củ Lister, đầu dưới của xương quay và xương trụ, khớp quay trụ dưới, và các khoang gân duỗi. Có 6 khoang gân duỗi, trong đó khoang gân duỗi số 3 (gân duỗi 1 Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP. HCM Người phản hồi (Corresponding): Lê Gia Ánh Thỳ ([email protected]) Ngày nhận bài: 25/7/2019, ngày phản biện: 28/7/2019 Ngày bài báo được đăng: 30/9/2019 TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 19 - 9/2019 114 ngón cái dài) nằm ngay phía trụ của lồi củ Lister nên được đánh đấu. Khoang gân duỗi số 4 (gân duỗi chung các ngón) cũng được xác định ngay cạnh phía trụ của gân duỗi ngón cái dài. Khoang gân duỗi số 6 (duỗi cổ tay trụ) cũng được xác định bằng cách sờ 1 cách dễ dàng. Việc nắm rõ các cấu trúc giải phẫu này giúp thuận lợi cho việc đặt mở các cổng nội soi để tránh tổn thương các cấu trúc quan trọng như mặt sụn khớp, gân,và thần kinh mạch máu. Hình 1: Sự liên quan của các khoang gân duỗi và đường vào của các cổng. (Geissler WB, Freeland AE, Weiss AP, Chow JC. Techniques of wrist arthroscopy. Instr Course Lect. 2000:49:225-237) Hình 2: Giải phẫu mặt lưng cổ tay và các cổng vào phía sau. (Geissler WB, Freeland AE, Weiss AP, Chow JC. Techniques of wrist arthroscopy. Instr Course Lect. 2000:49:225-237) TỔNG QUAN TÀI LIỆU 115 Lâm sàng Hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng trước khi thực hiện nội soi cổ tay là vô cùng quan trọng. Có thể nói rằng, phẫu thuật viên nên phải có ít nhất 1 chẩn đoán lâm sàng trước khi thực hiện nội soi cổ tay, bởi vì chỉ cần 1 ít thông tin lâm sàng cũng có thể giúp tập trung thám sát tìm nguyên nhân tổn thương trong khớp [9]. Thăm hỏi bệnh sử, phẫu thuật viên phải hỏi về các hoạt động gây tăng đau và giảm đau, mất chức năng, và khả năng lao động, sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân. Ngoài ra phải ghi nhận cơ chế chấn thương của bệnh nhân. Thăm khám lâm sàng là phương tiện quan trọng chính xác nhất để chẩn đoán. Việc thăm phải theo trình tự rất quan trọng bao gồm quan sát, sờ, và các nghiệm pháp đặc biệt để xác định chẩn đoán. Các vùng sưng nề, đau hay điểm đau nhiều nhất có nhiều khả năng là tổn thương ở đó nhiều nhất. Khám cần đánh giá tất cả các cấu trúc từ gân xương cho đến thần kinh mạch máu. Cận lâm sàng Đánh giá thông thường ban đầu nhất là Xquang bao gồm các tư thế thẳng, nghiêng và chếch ở vùng cổ tay. Xquang có thể phát hiện tổn thương gãy xương, bất thường trục xương, và khoảng cách các khớp. Trong các trường hợp khó có thể sử dụng các tư thế đặt biệt như sấp, ngửa, nắm bàn tay, tư thế đường hầm cổ tay, hay Xquang động để xác định chẩn đoán. Nếu sau khi khám và Xquang vẫn chưa rõ chẩn đoán thì các cận lâm sàng sau có thể sử dụng: CT scan đánh giá hình thái xương và mặt sụn. Ngoài ra có thể sử dụng CT scan bơm thuốc cản quang vào cổ tay để đánh giá phức hợp sụn sợi tam giác có nguyên vẹn hay không. MRI đánh giá về tình trạng phần mềm ở cổ tay và mạch máu [10]. Chỉ định Nội soi cổ tay được sử dụng để chẩn đoán và đánh giá sau khi các phương tiện khác như khám lâm sàng và cận lâm sàng chưa rõ ràng [8]. Thông qua nội soi có thể giúp đánh giá các tổn thương như: rách dây chằng, đánh giá mức độ mất vững cổ tay, phân ly thuyền nguyệt, tháp nguyệt, bệnh lý hoại tử xương bán nguyệt Kienbock. Ngoài ra nội soi cổ tay giúp điều trị như: lấy dị vật, lấy bướu hoạt dịch, cắt lọc giải phóng khớp, điều trị các tổn thương dây chằng, rách dây chằng sụn sợi tam giác. Trong các trường hợp gãy đầu dưới xương quay phạm khớp và gãy xương thuyền, nội soi cổ tay giúp đánh giá quan sát nắn mặt khớp hay ghép xuơng. Trong các trường hợp viêm thoái hoá cổ tay, nội soi cho phép cắt lọc bao gồm cắt mỏm trâm quay, cắt 1 phần đầu xa xương trụ (thủ thuật Wafer), lấy bỏ hàng 1 xương cổ tay, cắt cực gần xương thuyền, lấy bỏ xương bán nguyệt trong Kienbock và hàn khớp cả nguyệt. Chống chỉ định: Vết thương hay nhiễm trùng vùng cổ tay là chống chỉ đinh nội soi cổ tay. Kĩ thuật Chuẩn bị TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 19 - 9/2019 116 Khung kéo cổ tay: đây là thiết bị giúp việc kéo dãn khớp cổ tay nhằm hỗ trợ cho phẫu thuật viên thao tác trong khớp. Có thể sử dụng khung treo với mức tạ kéo từ 3-5 kg. Thiết bị này nên được hấp vô trùng. Rọ treo ngón tay hay khung giữ bàn tay: rọ treo tay có thể làm thủ công từ cây mây hấp vô trùng hay sợi nylon vô trùng dùng 1 lần. Treo với ngón 2 và ngón 4. Bệnh nhân nằm ngửa, tê tùng nách. Cánh tay tư thế dạng. Cổ tay phải được cố định vững cùng với cánh tay và cẳng tay nhằm thuận lợi cho việc thao tác nội soi. Hình 3: Khung treo và rọ treo tay, đánh dấu vị trí cổng vào bằng bút. Dụng cụ: Giàn máy nội soi. Sử dụng camera với đường kính 2.0 đến 3.0mm góc 30 độ cùng với trocar đầu tù để không tổn thương sụn khi vào khớp. Lưỡi cắt (shaver) và đầu đốt 2.7 hay 2.9mm Que thăm dò 1.7 hay 2.0mm. Kim tuỷ sống với nhiều đường kính khác nhau. Ngoài ra còn có các dụng cụ như gắp, cắt, bộ khâu TFCC, và bộ nắn kết hợp xương tuỳ thuộc vào tổn thương cổ tay. Dung dịch sử dụng là Lactate Ringer 0.9% (nhanh chóng được hấp thụ bởi phần mềm) Cổng vào Cổng vào khớp quay cổ tay bao gồm cổng 3-4, 4-5, 6-R, 6-U, và cổng 1-2. Cổng 3-4: là cổng đầu tiên được mở. Đây là ranh giới của khoan gân duỗi số 3 (duỗi ngón cái dài) và khoan gân duỗi số 4 (duỗi chung các ngón), ở phía xa 1cm so với lồi củ Lister. Cổng này là cổng đặt camera cho phép quan sát hầu hết khớp quay cổ tay phía mặt lòng. Cổng này tương đối an toàn vì nhánh nông cảm giác thần kinh quay cách cổng này trung bình TỔNG QUAN TÀI LIỆU 117 là 16mm. Cổng 4-5: là cổng giữa khoan gân duỗi số 4 (duỗi chung các ngón) và khoan gân duỗi số 5 (duỗi riêng ngón 5), cách cổng 3-4 khoảng 1 cm phía trụ. Thông qua cổng này có thể đặt các dụng cụ ngay sát phần giữa TFCC. Đây cũng là cổng thao tác chính ở phía trụ cổ tay. Ngoài ra còn là cổng đặt camera để quan sát các cấu trúc bên trụ. Cổng 6-R: là cổng nằm ngay phía quay khoan số 5 ( duỗi riêng ngón 5) và phía trụ khoan số 6 (duỗi cổ tay trụ). Cổng này được tạo dưới quan sát trực tiếp qua nội soi bằng kim tuỷ sống. Thông qua cổng này có thể thao tác cắt lọc hay khâu dây chằng. Nó cũng giúp quan sát trực tiếp cấu trúc như TFCC, các dây chằng trụ nguyệt, trụ tháp và các dây chằng thuyền tháp. Nhánh nông thần kinh quay cách cổng này khoảng 8.2mm. Cổng 6-U: Cổng này nằm ngay phía trụ của khoan gân duỗi số 6 (duỗi cổ tay trụ). Cổng này được mở dưới nội soi và là cổng chủ yếu để thao tác trong khám hay khâu phức hợp sụn sợi tam giác. Cổng ngày mặc dù cách nhánh cảm giác thần kinh quay 4.5mm, nhưng trên 1 số bệnh nhân thần kinh trụ lại cho rất nhiều nhánh cảm giác ở vùng này. [11] Cổng 1-2: ít khi được sử dụng. Nằm giữa khoang gân duỗi số 1( duỗi cổ tay quay dài duỗi cổ tay quay ngắn) và 2 (gân dạng ngón cái dài và duỗi ngón cái ngắn). Cổng này giúp đánh giá mỏm trâm quay, xương thuyền, mặt khớp đầu dưới xương quay. Cổng này nguy cơ tổn thương nhánh cảm giác thần kinh quay và động mạch quay [12]. Các cổng giữa 2 hàng xương cổ tay: Nội soi cổ tay có thể đánh giá được khoang khớp giữa 2 hàng xương cổ tay là hàng 1 và hàng 2. Bình thường không có sự thông thương giữa hàng 1 và hàng 2. Khoang này rất hẹp do đó thao tác trong khoang này phải rất cẩn thận và tỷ mỷ. Việc đánh giá mất vững các xương cổ tay qua nội soi là tốt nhất qua khoang này, so với chỉ 1 khoang khớp quay cổ tay. Ví dụ như các mất vững khớp thuyền nguyệt và khớp nguyệt tháp được đánh giá tốt hơn thông qua nội soi giữa hàng 1 và hàng 2 hơn là chỉ riêng đơn thuần nội soi tại khớp quay cổ tay. Các nghiên cứu cho rằng phân loại mất vững bằng hoặc cao hơn nếu thông qua việc thăm khám qua nội soi hàng 1 và hàng 2 so với việc chẩn đoán lâm sàng. [13] Do đó việc thực hiện thám sát khoan giữa khớp cổ tay này nên được xem là quy trình trong nội soi cổ tay thám sát chẩn đoán. Cổng giữa cổ tay bên quay (MCR:Midcarpal Radial): Là cổng phổ biến nhất, vị trí phía quay so với gân gập cổ tay quay ngắn và phía trụ là duỗi chung các ngón, cách 1 cm phía xa so với cổng 3-4. Camera được đặt vào thông qua giữa xương cả và xương thuyền. Cổng này cho phép đánh giá khoang giữa khớp cổ tay, khớp thuyền nguyệt, khớp tháp nguyệt và khớp thuyền thang thê (STT). Cổng này tương đối an toàn, với nhánh cảm giác thần kinh quay cách khoảng 15.8mm. Cổng giữa cổ tay bên trụ (MCU: Midcarpal Ulnar): vị trí cổng phía bờ TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 19 - 9/2019 118 quay của gân duỗi chung các ngón, phía trụ của gân duỗi riêng ngón 5, nằm cách 1 cm phía xa so với cổng 4-5. Cổng này được sử dụng cổng thao tác tại khoan giữa hàng 1 và hàng 2 cổ tay. Cổng khớp quay trụ dưới: Khớp quay trụ dưới (DRUJ) là 1 khớp rất khó để thăm khám, thông thường nội soi khớp rất ít khi thăm khám khớp này. Vị trí đường vào cổng này là phía quay của gân duỗi chung các ngón và phía trụ duỗi cổ tay trụ. Khi vào cổng này chú ý ngửa cẳng tay để dãn bao khớp sau, camera được đặt vào giữa 2 xương trụ và quay, ngay dưới TFCC. Cổng gày giúp quan sát đánh giá được mặt khớp quay trụ dưới và bờ dưới của TFCC. Nguy cơ tổn thương Có thể tổn thương nhánh sâu động mạch quay, nhánh cảm giác nông thần kinh quay, trụ hay nhánh bì cẳng tay ngoài. Tổn thương các cấu trúc này có thể gây tê bì, hay thành lập các u thần kinh gây đau và hội chứng rối loạn dinh dưỡng (CRPS). Để tránh các tổn thương này nên nắm kĩ giải phẫu và kĩ thuật như rạch da theo chiều dọc sau đó dùng kelly đầu tù bóc tách mô dưới da. Sau khi đâm thủ bao khớp, dùng trocar đầu tù để bảo vệ tổn thương bề mặt sụn. Nội soi chẩn đoán Để thực hiện nội soi chẩn đoán, phẫu thuật viên phải nên quen với các cấu trúc bình thường cũng như các cấu trúc bất thường. Thông thường mặt khớp phải trắng và trơn láng phân biệt với bất thường như sụn khớp bị vàng hay bị cấp kênh. Đối với các dây chằng thường có màu trắng hoặc vàng và phải căng khi dùng que thăm dò đặc biệt là khi bị kéo. Còn đối với dây chằng tổn thương sẽ bị tưa, không liên tục do chấn thương hay thoái hoá. Hậu phẫu Đối với thủ thuật cắt lọc, sau mổ cần băng ép. Tập vận động được bắt đầu sau 1 tuần. Nếu cần thiết có thể tập vật lý trị liệu sau 3-4 tuần. Đối với các thủ thuật khâu như khâu TFCC có thể sử dụng nẹp bột cánh bàn tay hay Sugar Tong trong 6 tuần. Cổ tay được cố định hơi ngửa và trung tính. Nẹp này phải cố định không cho cổ tay sấp ngửa. Khoảng sau 4 tuần, bỏ nẹp tập tầm vận động. Sau 6-8 tuần, bỏ hẳn nẹp và bắt đầu tập vật lý trị liệu. Hồi phục sau 3-9 tháng. KẾT LUẬN Với sự đa dạng và phức tạp của chấn thương vùng cổ tay, thì nội soi cổ tay là 1 thủ thuật cho phép thăm khám khớp cổ tay đáng tin cậy. Mặc dù ban đầu là một công cụ giúp chẩn đoán, tuy nhiên với sự phát triển của kĩ thuật nội soi nói chung và thiết bị dụng cụ nội soi nói riêng, thì nội soi cổ tay hiện nay có thể dùng để điều trị những trường hợp tổn thương phức tạp mà phẫu thuật mở còn hạn chế. Tuy nhiên, để nâng cao khả năng phẫu thuật viên phải nắm rõ giải phẫu và các nguy cơ của thủ thuật để đạt được kết quả tốt nhất. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chen YC. Arthroscopy of the wrist and finger joints. Orthop Clin North TỔNG QUAN TÀI LIỆU 119 Am. 1979;10:723-733. 2. Whipple TL, Cooney WP 3rd, Osterman AL, Viegas SF. Wrist arthros- copy. Instr Course Lect. 1995;44:139-145. 3. Whipple TL, Marotta JJ, Powell JH 3rd. Techniques of wrist arthros- copy. Arthroscopy. 1986;2:244-252. 4. Bain GI, Munt J, Turner PC. New advances in wrist arthroscopy. Ar- throscopy. 2008;24:355-367. 5. Haisman JM, Matthew B, Scott W. Wrist arthroscopy: standard portals and arthroscopic anatomy. J Am Soc Surg Hand. 2005;5:175-181. 6. Berger RA. Arthroscopic anatomy of the wrist and distal radioulnar joint. Hand Clin. 1999;15:393-413, vii. 7. Geissler WB, Freeland AE, Weiss AP, Chow JC. Techniques of wrist ar- throscopy. Instr Course Lect. 2000;49:225-237. 8. Gupta R, Bozentka DJ, Osterman AL. Wrist arthroscopy: principles and clinical applications. J Am Acad Orthop Surg. 2001;9:200-209. 9. Jones WA, Lovell ME. The role of arthroscopy in the investigation of wrist disorders. J Hand Surg Br. 1996;21:442- 445. 10. Maizlin ZV, Brown JA, Clement JJ, et al. MR arthrography of the wrist: controversies and concepts. Hand (N Y). 2009;4:66-73. 11. Abrams RA, Petersen M, Botte MJ. Arthroscopic portals of the wrist: an anatomic study. J Hand Surg Am. 1994;19:940-944. 12. Bettinger PC, Cooney WP 3rd, Berger RA. Arthroscopic anatomy of the wrist. Orthop Clin North Am. 1995;26:707-719. 13. Hofmeister EP, Dao KD, Glowacki KA, Shin AY. The role of midcarpal arthroscopy in the diagnosis of disorders of the wrist. J Hand Surg Am. 2001;26:407-414.
File đính kèm:
noi_soi_co_tay_co_ban_basic_study_of_wrist_arthroscopy.pdf

