Niệu quản sau tĩnh mạch chủ: nguyên nhân hiếm gặp gây thận ứ nước ở trẻ em

Niệu quản sau tĩnh mạch chủ (NQSTMC) là một dị dạng hiếm gặp do sự phát triển bất thường của tĩnh

mạch chủ và thường biểu hiện triệu chứng trong khoảng từ 30 – 40 tuổi. Các báo cáo của nhi khoa về dị dạng này

là rất hiếm. Những trường hợp có triệu chứng chủ yếu là do tắc nghẽn niệu quản. Tất cả các bệnh nhân có triệu

chứng cần được phẫu thuật di chuyển và tạo hình niệu quản ra trước tĩnh mạch chủ. Chúng tôi giới thiệu ba

trường hợp NQSTMC ở trẻ em trong đó một trường hợp có phối hợp với thận ứ nước do hẹp khúc nối bể thận

niệu quản bên đối diện

pdf 5 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Niệu quản sau tĩnh mạch chủ: nguyên nhân hiếm gặp gây thận ứ nước ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Niệu quản sau tĩnh mạch chủ: nguyên nhân hiếm gặp gây thận ứ nước ở trẻ em

Niệu quản sau tĩnh mạch chủ: nguyên nhân hiếm gặp gây thận ứ nước ở trẻ em
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 286 
NIỆU QUẢN SAU TĨNH MẠCH CHỦ: 
NGUYÊN NHÂN HIẾM GẶP GÂY THẬN Ứ NƯỚC Ở TRẺ EM 
Lê Tấn Sơn1, Lê Thanh Hùng2, Nguyễn Thị Trúc Linh1, Huỳnh Công Chấn2, Trần Đại Phú2, 
Nguyễn Bình An2, Hồ Trung Cường2, Nguyễn Thị Thùy Trang1, Nguyễn Trần Minh Quỳnh1 
TÓM TẮT 
Niệu quản sau tĩnh mạch chủ (NQSTMC) là một dị dạng hiếm gặp do sự phát triển bất thường của tĩnh 
mạch chủ và thường biểu hiện triệu chứng trong khoảng từ 30 – 40 tuổi. Các báo cáo của nhi khoa về dị dạng này 
là rất hiếm. Những trường hợp có triệu chứng chủ yếu là do tắc nghẽn niệu quản. Tất cả các bệnh nhân có triệu 
chứng cần được phẫu thuật di chuyển và tạo hình niệu quản ra trước tĩnh mạch chủ. Chúng tôi giới thiệu ba 
trường hợp NQSTMC ở trẻ em trong đó một trường hợp có phối hợp với thận ứ nước do hẹp khúc nối bể thận 
niệu quản bên đối diện. 
Từ khóa: niệu quản sau tĩnh mạch chủ, thận ứ nước, niệu quản quanh tĩnh mạch chủ 
ABSTRACT 
RETROCAVAL URETER: A RARE CAUSE OF HYDRONEPHROSIS IN CHILDREN 
Le Tan Son, Le Thanh Hung, Nguyen Thi Truc Linh, Huynh Cong Chan, Tran Dai Phu, 
Nguyen Binh An, Ho Trung Cuong, Nguyen Thi Thuy Trang, Nguyen Tran Minh Quynh, 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 286 - 290 
Retrocaval ureter is a relatively rare condition due to the anomalous development of the inferior vena cava. 
This usually presents during the 3rd to 4th decade of life. Pediatric reports of this condition are very rare. 
Individuals with this anomaly are symptomatic because of ureteric obstruction. All symptomatic patients need 
surgery where the ureter is divided and anastomosed anterior to inferior vena cava. We report three children with 
retrocaval ureter in which a child combines contralateral hydronephrosis due to ureteropelvic junction 
obstruction. 
Keywords: retrocaval ureter, hydronephrosis, circumcaval ureter 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Niệu quản sau tĩnh mạch chủ (NQSTMC) là 
dị dạng hiếm gặp do sự phát triển bất thường 
của tĩnh mạch chủ. Trong bất thường này, đoạn 
gần của niệu quản đi phía sau tĩnh mạch chủ 
dưới ở ngang mức đốt sống thắt lưng 3 trong khi 
niệu quản đoạn xa vẫn nằm ở vị trí bình thường 
theo giải phẫu(1). Tần suất được ghi nhận khoảng 
1/1500 trẻ sinh ra sống, tỉ số nam/ nữ là 3/1. 
NQSTMC thường xảy ra ở bên phải(2). Một vài 
trường hợp xảy ra ở bên trái khi có liên quan đến 
tình trạng tĩnh mạch chủ dưới đôi, đảo ngược 
phủ tạng một phần hoặc hoàn toàn(3). Triệu 
chứng chủ yếu là tắc nghẽn đường tiết niệu trên 
và thường biểu hiện vào lứa tuổi từ 30 – 40. 
NQSTMC rất hiếm khi được phát hiện ở trẻ em 
và chỉ có một số trường hợp được báo cáo(2,3,4,5). 
Bệnh nhân thường có các triệu chứng đau hông 
phải, tiểu máu, viêm đài bể thận tái phát và có 
thể kèm theo sỏi niệu. Chúng tôi giới thiệu 3 
trường hợp NQSTMC ở trẻ em tại bệnh viện Nhi 
Đồng 1, trong đó, một trường hợp có phối hợp 
với thận ứ nước do hẹp khúc nối bể thận niệu 
quản bên đối diện. 
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP 
Trường hợp 1 
Bé nam, 3 tuổi, nhập viện vì đau bụng hông 
1Bộ môn Ngoại nhi, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Thùy Trang ĐT: 0937990951 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 287 
lưng trái và tiểu đục. Siêu âm bụng ghi nhận có 
thận ứ nước 2 bên, trong đó, thận phải ứ nước 
độ II và thận trái ứ nước độ III. Phim niệu đồ 
tĩnh mạch (IVU – Intravenous Urography) cho 
thấy hình ảnh thận trái ứ nước do hẹp khúc nối 
bể thận-niệu quản và thận phải ứ nước nghi ngờ 
do NQSTMC (Hình 1, 2). 
Hình 1: IVU cho hình ảnh thận ứ nước do hẹp khúc 
nối bể thận-niệu quản bên trái và niệu quản phải có 
hình ảnh chữ J ngược nghĩ nhiều đến niệu quản sau 
tĩnh mạch chủ 
Hình 2: Phim cắt lớp điện toán với hình ảnh niệu 
quản phải bị tắc ở khoảng đốt sống L3 
Bệnh nhân được mổ tạo hình khúc nối bể 
thận-niệu quản trái có đặt dẫn lưu xuyên bể thận 
ra ngoài. Ống dẫn lưu được rút sau 1 tuần và 
bệnh nhân xuất viện. Quá trình tái khám cho 
thấy kết quả mổ tiến triển tốt thông qua các siêu 
âm định kì. Bốn năm sau, bệnh nhân đến khám 
vì đau bụng hông lưng phải. Siêu âm bụng cho 
thấy bể thận trái nhỏ, kích thước bể thận phải là 
20 mm, ứ nước độ III. Chúng tôi quyết định can 
thiệp niệu quản phải. Đường rạch da vị trí đầu 
sườn 12 bên phải. Tách cơ, bộc lộ bể thận và niệu 
quản phải, ghi nhận niệu quản đoạn gần đi ra 
phía sau tĩnh mạch chủ (Hình 3). Tiến hành cắt 
niệu quản ở đoạn trên vị trí sau tĩnh mạch chủ. 
Nối niệu quản-niệu quản với PDS 6-0, có đặt 
nòng niệu quản. Bệnh nhân được rút nòng niệu 
quản sau 5 ngày và xuất viện sau mổ 7 ngày. 
Siêu âm bụng theo dõi qua các lần tái khám cho 
thấy thận phải giảm ứ nước. Bệnh nhân tiếp tục 
được theo dõi 4 năm sau mổ. 
Hình 3: Niệu quản sau tĩnh mạch chủ, niệu quản 
phía trên dãn lớn 
Trường hợp 2 
Bé nam, 10 tuổi, nhập viện vì đau bụng cơn 
vùng hông phải. Siêu âm ghi nhận thận phải ứ 
nước độ II. IVU cho thấy hình ảnh niệu quản 
phải sau tĩnh mạch chủ với chữ J ngược điển 
hình (Hình 4), thận trái bài tiết bình thường. Xạ 
hình thận với chức năng thận bên trái 48%, phải 
52%. Bệnh nhân được xuất viện và hẹn tái khám, 
theo dõi định kì. Trong thời gian theo dõi, bệnh 
nhận thỉnh thoảng vẫn đau hông phải. Ba tháng 
sau, bệnh nhân nhập viện lại vì đau bụng nhiều. 
Siêu âm và xạ hình thận không thay đổi nhưng 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 288 
bệnh nhân cư trú xa thành phố nên xin được phẫu thuật. 
A B 
Hình 4: Hình ảnh IVU trước và sau mổ. (A) IVU trước mổ, niệu quản sau tĩnh mạch chủ với chữ J ngược. (B) 
IVU một năm sau mổ tạo hình lại niệu quản, đoạn niệu quản chữ J ngược đã biến mất 
Rạch da đầu sườn 12 bên phải. Bộc lộ niệu 
quản phải, ghi nhận niệu quản phải đi ra phía 
sau tĩnh mạch chủ. Đoạn niệu quản phía trên vị 
trí sau tĩnh mạch chủ dãn lớn và bể thận ứ nước 
rõ. Cắt rời niệu quản ở vị trí dãn, đưa hai đầu 
niệu quản ra phía trước tĩnh mạch chủ, nối tận-
tận với PDS 6-0, không đặt dẫn lưu bể thận-niệu 
quản. Bệnh nhân được xuất viện sau mổ 7 ngày 
và tái khám định kì. Sau một năm, bệnh nhân 
được chụp lại IVU và hình ảnh chữ J ngược biến 
mất trên phim IVU (Hình 4B). 
Trường hợp 3 
Bé nữ 5 tuổi nhập viện vì đau bụng cơn vùng 
hông phải. Siêu âm ghi nhận dãn nhẹ bể thận 
phải, ứ nước độ I. Xạ hình thận chức năng thận 
phải 49,5%, thận trái 50,5%, bài tiết tốt. Bệnh nhi 
được xuất viện và hẹn tái khám sau 3 tháng. Một 
tháng sau, bệnh nhi nhập viện vì đau bụng 
nhiều. Phim chụp cắt lớp điện toán hệ niệu có 
cản quang với hình ảnh tắc 1/3 trên niệu quản 
phải và được chỉ định mổ. 
A B 
Hình 5: Phim cắt lớp điện toán trước (A) và sau mổ (B) 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 289 
Rạch da đầu sườn 12 bên phải. Bộc lộ bể 
thận-niệu quản phải. Khúc nối bể thận-niệu 
quản phải đi ra phía sau tĩnh mạch chủ, bể thận 
dãn nhẹ. Cắt rời niệu quản ở vị trí khúc nối, 
chuyển hai đầu niệu quản ra phía trước tĩnh 
mạch chủ. Tạo hình khúc nối bể thận-niệu quản 
phải theo Anderson-Hynes với PDS 6-0, không 
đặt dẫn lưu miệng nối. Bệnh nhân được xuất 
viện sau mổ 7 ngày và tái khám định kì. Sau mổ 
4 tháng, bệnh nhân được chụp cắt lớp kiểm tra 
thấy hình ảnh bể thận phải còn ứ nước nhẹ 18 
mm, niệu quản phải thông tốt, chức năng bài tiết 
bình thường. 
BÀN LUẬN 
Niệu quản sau tĩnh mạch chủ là dị dạng 
hiếm gặp với nguyên nhân là sự tồn tại của tĩnh 
mạch sau tim bên phải (right posterior cardinal 
vein) trong thời kỳ bào thai(6). Theo y văn dị tật 
hay được phát hiện vào tuổi 30 – 40 do triệu 
chứng biểu hiện muộn. Tuy nhiên một số báo 
cáo cho thấy dị tật này cũng biểu hiện triệu 
chứng ở trẻ em(3,4,5,7). 
Có 2 loại NQSTMC(7,8): 
Loại I: “quai thấp”, trong đó đoạn niệu quản 
gần dãn to và có hình chữ J ngược, niệu quản 
đoạn gần chạy xuống rồi quặt ngược lên vòng ra 
phía sau tĩnh mạch chủ dưới ở ngang khoảng 
đốt sống thắt lưng L3 hoặc L4. Đoạn niệu quản 
xa không dãn, nằm ở bờ trong tĩnh mạch chủ 
dưới, chạy xuống bắt chéo bó mạch chậu bên 
phải. Loại I chiếm 90% các trường hợp. 
Loại II: “quai cao”, có hình liềm chiếm 10%. 
Niệu quản dạng hình liềm đi qua phía sau tĩnh 
mạch chủ dưới ở mức khúc nối bể thận-niệu 
quản và gây nhầm lẫn với hẹp khúc nối bể thận-
niệu quản. Niệu quản đoạn trên không bị tắc mà 
chỉ đi vòng ra phía sau tĩnh mạch chủ dưới. Bể 
thận và niệu quản hầu như nằm ngang trước khi 
vòng ra sau tĩnh mạch chủ dưới và gây ra ứ 
nước nhẹ hoặc không ứ nước. 
3 trường hợp của chúng tôi đều là loại I. 
Hầu hết các trường hợp bệnh diễn tiến âm 
thầm và chỉ được phát hiện với xét nghiệm hình 
ảnh học, một số trường hợp chỉ được chẩn đoán 
trong lúc mổ. Các triệu chứng thường gặp là đau 
bụng, tiểu máu, nhiễm trùng tiểu, sỏi niệu quản. 
Chẩn đoán hình ảnh giúp phát hiện là IVU với 
hình ảnh J ngược. Ngày nay phim cắt lớp điện 
toán có giá trị vượt trội so với IVU về phương 
diện chẩn đoán NQSTMC. Xạ hình thận với 
Lasix được sử dụng để đánh giá chức năng thận. 
Như đã nêu trên, dị dạng NQSTMC thường có 
triệu chứng vào lứa tuổi 30 – 40, ít khi gặp ở trẻ 
em. Tuy nhiên một số báo cáo đã nêu ra dị tật 
này gặp ở trẻ em và đã được can thiệp phẫu 
thuật do có triệu chứng. Ba trường hợp của 
chúng tôi cũng được phát hiện do có triệu chứng 
đau bụng ngày càng tăng. 
Về dị dạng đi kèm trong NQSTMC rất ít 
được ghi nhận. Perimenis P(9) báo cáo 2 trường 
hợp NQSTMC có đi kèm dị tật trong đó một 
bệnh nhân có tật nhiều đốt sống bụng 
(supernumerary lumbar vertebra) và lỗ tiểu 
thấp, bệnh nhân thứ hai có tật dính ngón 
(syndactylia) ở cả 2 bàn chân. Tác giả này cũng 
nêu ra 352 trường hợp NQSTMC có 74 dị tật đi 
kèm được trích dẫn từ nhiều báo cáo khác như 
trong Bảng 1. 
Bảng 1: Các loại dị tật 
Loại dị dạng Số trường hợp 
Tim mạch 29 
Thận 18 
Thận móng ngựa 9 
Niệu đạo 2 
Sinh dục 6 
Hội chứng Turner 3 
Hệ cơ 3 
Sa tủy màng tủy 1 
U túi noãn hoàng (York sac) 1 
Ống tiêu hóa 2 
Gần đây, Fernando MH giới thiệu một 
trường hợp niệu quản sau tĩnh mạch chủ có phối 
hợp với tinh hoàn ẩn(1). 
Về điều trị, nguyên tắc phẫu thuật là di 
chuyển và tạo hình niệu quản ra trước tĩnh mạch 
chủ. Các phương pháp phẫu thuật được chọn 
lựa tùy theo kinh nghiệm của phẫu thuật viên và 
phương tiện sẵn có của các trung tâm. Tuy 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 290 
nhiên, với sự phát triển của phẫu thuật xâm lấn 
tối thiểu, nhiều nghiên cứu cho thấy phẫu thuật 
nội soi sau phúc mạc có hiệu quả và an toàn 
trong điều trị NQSTMC ở trẻ em(5,10,11,12). 
KẾT LUẬN 
Niệu quản sau tĩnh mạch chủ là một dị dạng 
hiếm gặp ở trẻ em. Hiện nay việc phát hiện khá 
dễ với những phương tiện chẩn đoán hình ảnh 
hiện đại. Chỉ định mổ cũng tuân theo chỉ định 
chung đối với dị dạng tắc nghẽn đường tiết niệu 
trên. Can thiệp đúng lúc để có thể bảo vệ chức 
năng thận. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Fernando MH, Jayarajah U, Arulanantham A, et al (2018). 
"Retrocaval ureter associated with cryptorchidism: A case 
report and review of literature". Clin Case Rep, 6(8):1592-1594. 
2. Soundappan SV, Barker AP (2004). "Retrocaval ureter in 
children: a report of two cases". Pediatr Surg Int, 20(2):158-60. 
3. Salonia A, Maccagnano C, Lesma A, et al (2006). "Diagnosis 
and Treatment of the Circumcaval Ureter". European Urology 
Supplements, 5(5):449-462. 
4. López González PA, López Cubillana P, Server Pastor G, et al 
(2011). "Retrocaval ureter in children. Case report and 
bibliographic review". Arch Esp Urol, 64(5):461-4. 
5. Sun JS, Zhang G, Lin T (2015). "Retrocaval Ureter in Children: 
A Report of Eight Cases". West Indian Medical Journal, 64(4):397-
399. 
6. Lesma A, Bocciardi A, Rigatti P (2006). "Circumcaval Ureter: 
Embryology". European Urology Supplements, 5(5):444-448. 
7. Basok EK, Yildirim A, Tokuc R (2008). "Type I and II 
circumcaval ureter in children: experience in three cases". Adv 
Ther, 25(4):375-9. 
8. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng, Phạm Phú Phát, Nguyễn Văn Học 
và cộng sự (2007). "Tạo hình niệu quản sau tĩnh mạch chủ qua 
nội soi sau phúc mạc". Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 11(1):247-
255. 
9. Perimenis P, Gyftopoulos K, Athanasopoulos A, et al (2002). 
"Retrocaval ureter and associated abnormalities". Int Urol 
Nephrol, 33(1):19-22. 
10. Kadar A, Vatra L, Avram A, et al (2018). "Laparoscopic Repair 
of a Left Retrocaval Ureter in a 16-Year-Old Girl". European J 
Pediatr Surg Rep, 6(1):e104-e107. 
11. Escolino M, Masieri L, Valla JS, et al (2019). "Laparoscopic and 
robotic-assisted repair of retrocaval ureter in children: a multi-
institutional comparative study with open repair". World J Urol, 
37(9):1941-1947. 
12. Peycelon M, Rembeyo G, Tanase A, et al (2020). "Laparoscopic 
retroperitoneal approach for retrocaval ureter in children". 
World Journal of Urology, 38(8):2055-2062. 
Ngày nhận bài báo: 20/08/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfnieu_quan_sau_tinh_mach_chu_nguyen_nhan_hiem_gap_gay_than_u.pdf