Những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 40 bệnh nhân (40 khớp gối), bị đứt dây
chằng chéo sau (DCCS) khớp gối đơn thuần, được phẫu thuật tái tạo DCCS qua nội soi, chất
liệu mảnh ghép là gân cơ thon và gân cơ bán gân tự thân chập 4. Độ tuổi trung bình 31±9,77
năm (từ 18 đến 51 tuổi). Kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn của Lysholm và IKDC-2000.
Kết quả: Điểm Lyshom trung bình sau mổ là 82,68±14,15 điểm, theo IKDC có 22/32BN
đạt kết quả loại A hoặc B. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phẫu thuật: 02BN bỏ sót tổn
thương khu sau ngoài trước mổ, 6 BN đường hầm mâm chày chưa chính xác, 23BN luyện
tập sau mổ chưa đạt yêu cầu.
Kết luận: Kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối bằng gân cơ thon và bán gân cho
kết quả khả quan. Có nhiểu yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, trong đó yếu tố chính
do bỏ sót tổn thương, kỹ thuật mổ và luyện tập sau mổ
Tóm tắt nội dung tài liệu: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 105 TÓM TẮT Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 40 bệnh nhân (40 khớp gối), bị đứt dây chằng chéo sau (DCCS) khớp gối đơn thuần, được phẫu thuật tái tạo DCCS qua nội soi, chất liệu mảnh ghép là gân cơ thon và gân cơ bán gân tự thân chập 4. Độ tuổi trung bình 31±9,77 năm (từ 18 đến 51 tuổi). Kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn của Lysholm và IKDC-2000. Kết quả: Điểm Lyshom trung bình sau mổ là 82,68±14,15 điểm, theo IKDC có 22/32BN đạt kết quả loại A hoặc B. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phẫu thuật: 02BN bỏ sót tổn thương khu sau ngoài trước mổ, 6 BN đường hầm mâm chày chưa chính xác, 23BN luyện tập sau mổ chưa đạt yêu cầu. Kết luận: Kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối bằng gân cơ thon và bán gân cho kết quả khả quan. Có nhiểu yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, trong đó yếu tố chính do bỏ sót tổn thương, kỹ thuật mổ và luyện tập sau mổ. Từ khóa: tái tạo dây chằng chéo sau, mảnh ghép tự thân gân Hamstring. THE MAIN FACTORS AFFECTING THE RESULTS OF ARTHROSCOPIC PCL RECONSTRUCTION ABSTRACT Materials and menthods: 40 patients (40 knees) who had isolated posterior cruciate ligament (PCL) ruptures and were treated with arthroscopy PCL reconstructions using quadrupled semitendinosus and gracilis. The mean age was 31±9,77 years (range:18-51). The results were evaluated according to the Lysholm and IKDC-2000 score. Results: The mean Lysholm score were 82,68±14,15 points. Following the IKDC-2000 score, 22 patients were classified A or B. The main factors affecting the results: missed PLC injuries in 2 patients, the inexact tibial tunnel locations in 6 patients, the unsatisfactory postoperative rehabilitations in 23 patients. Conclusion: Results of arthroscopy PCL reconstructions using quadrupled semitendinosus and gracilis were perspective. There were many factors affecting the results in which the main factors were: mission lesions, surgical techniques and postoperative rehabilitaions. NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO SAU KHỚP GỐI Phùng Văn Tuấn(1), Lê Hồng Hải(1), Nguyễn QuốcDũng(1), Lê Hanh(1), Mai Đắc Việt(1), Mai Đức Thuận(1) (1) Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Người phản hồi (Corresponding): Phùng Văn Thuấn TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 106 Keywords: PCL reconstruction, Hamstring tendon autograft. ĐẶT VẤN ĐỀ Cho đến nay phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau (DCCS) khớp gối đã trở nên phổ biến trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy kết quả rất khả quan. Tại Việt Nam, phẫu thuật tái tạo DCCS mới được triển khai ở một số trung tâm y tế lớn, có chuyên khoa sâu về Chấn thương chỉnh hình. Phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối qua nội soi tuy cho kết quả khả quan, nhưng tỷ lệ thành công không cao như phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước (DCCT) do có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu phân tích về vấn đề này. Tại Việt Nam hiện chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Trước tình hình như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “đánh giá những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối” với hai mục tiêu. Đánh giá kết quả điều trị Xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Bao gồm 40 BN với 40 khớp gối (34 nam, 6 nữ), tuổi trung bình là 31±9,77 (từ 18 đến 51 tuổi), được phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon qua nội soi. Thời gian theo dõi trung bình là 37,87±11 tháng (ngắn nhất 13 tháng, dài nhất 58 tháng). Tiêu chuẩn lựa chọn: những BN đứt DCCS đơn thuần độ II,III, có biểu hiện lỏng, đau, nề khớp gối. Tiêu chuẩn loại trừ: các BN có tổn thương DCCS kết hợp với các dây chằng khác, BN thoái hóa khớp gối độ III, IV, BN tuổi dưới 18 và trên 55 tuổi. 2. Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang, không có nhóm chứng, kết hợp hồi cứu và tiến cứu. Hồi cứu: 30BN, tiến cứu: 10BN Nghiên cứu hồi cứu: - Lập hồ sơ nghiên cứu. - Đánh giá tổn thương trước mổ theo số liệu hồ sơ bệnh án và hồ sơ nghiên cứu. - Tổng hợp, đánh giả kết quả của từng BN trước mổ theo thang điểm Lyshom và IKDC. - Gọi BN đến kiểm tra đánh giá kết quả điều trị theo thang điểm Lyshom và IKDC. Lưu ý xác định nguyên nhân những BN kết quả TB, kém Nghiên cứu tiến cứu - Thăm khám bệnh nhân, đánh giá tổn thương lâm sàng và cận lâm sàng theo hồ sơ nghiên cứu, chỉ định phẫu thuật. - Tham gia phẫu thuật và trực tiếp phẫu thuật cho bệnh nhân. -Điều trị sau mổ, hướng dẫn BN luyện tập. Kiểm tra định kỳ theo hẹn. - Đánh giá kết quả điều trị cho những BN kết thúc quá trình luyện tập. Đánh giá kết quả Kết quả xa được đánh giá từ tháng thứ 12 trở đi. Các bệnh nhân được đánh giá chức năng khớp gối trước mổ theo thang điểm của Lysholm (rất tốt: 91-100 điểm, tốt; 77- 90 điểm, vừa: 68-76 điểm, xấu: <68 điểm) TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 107 và IKDC-2000 (Loại A: bình thường, loại B: gần bình thường, loại C: không bình thường, loại D: không bình thường mức độ nặng). KẾT QUẢ 1. Tình trạng tổn thương trước mổ 40/40 BN cảm giác lỏng khớp gối, đặc biệt khi xuống cầu thang. Thăm khám lâm sàng có 40/40 BN nghiệm pháp ngăn kéo sau (+). Đo trên XQ chụp nghiêng khớp gối thấy 36/40BN mâm chày di lệch ra sau so với lồi cầu đùi, 4/40BN mâm chày ngang mức so với lồi cầu đùi trong. Trên cộng hưởng từ thấy 40/40 khớp gối mất tín hiệu DCCS. Theo thang điểm của Lyshom, có 40/40 BN xếp loại kém (<68 điểm), với điểm trung bình trước mổ là 51,20±8,91 điểm , cao nhất 67 điểm, thấp nhất 33 điểm. Theo thang điểm IKDC-2000, 36/40 bệnh nhân xếp loại D, 4/40 trường hợp xếp loại C. Tổn thương kèm theo: có 12 trường hợp rách sụn chêm, 4 trường hợp thoái hóa khớp gối độ I, II. 2. Kết quả điều trị Chúng tôi đánh giá kết quả 32/40 BN, trong đó có 27BN nam, 5 BN nữ, độ tuổi trung bình 30,46±8,74 tuổi, thời gian theo dõi trung bình 37,87±11 tháng, ngắn nhất 13 tháng, dài nhất 58 tháng. Theo thang điểm đánh giá của Lyshom Bảng 1. Kết quả theo Lyshom (n=32) Xếp loại Số BN Tỷ lệ (%) Rất tốt 10 31,25 Tốt 12 37,50 Trung bình 5 15,63 Kém 5 15,63 Tổng 32 100 Điểm trung bình của 32 BN theo dõi là 82,68±14,15 điểm, cao nhất 100 điểm, thấp nhất 42 điểm. Có 22/32 BN đạt kết quả rất tốt và tốt, 5 BN đạt kết quả trung bình, 5 BN đạt kết quả kém. Theo phân loại của IKDC 2000 Bảng 2. Xếp loại chung theo phân loại của IKDC-2000 (n=32) Xếp loại Số BN Tỷ lệ (%) A 11 34,38 B 13 40,62 C 3 9,38 D 5 15,62 Tổng 32 100 TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 108 Trong 32 BN được đánh giá có 21 BN nghiệm pháp ngăn kéo sau (+), trong đó 3/32BN không cải thiện so với trước mổ. Có 23/32 BN còn teo cơ tứ đầu đùi chi bên bệnh, với kích thước trung bình 2,3cm. Ngoài ra có 5 BN hạn chế vận động khớp gối, 10BN có biểu hiện nề khớp gối ở các mức độ khác nhau, trong đó có 1BN nề khớp ngay cả khi hoạt động bình thường. Biến chứng: thoái hóa khớp: 5BN, dị cảm da: 2BN, đau tại mảnh ghép: 2BN, hạn chế vận động khớp: 5BN. 3. Luyện tập sau mổ. Chúng tôi đánh giá kết quả luyện tập sau mổ sau khi kết thúc quá trình luyện tập - Sức cơ tứ đầu đùi: + Tại thời điểm đánh giá có 27/32 BN phục hồi sức cơ, tuy nhiên vẫn có cảm giác yếu hơn chân lành. Đo chu vi vòng đùi 10 cm trên khớp gối, có 23/32 BN chu vi vòng đùi bên bệnh nhỏ hơn chu vi vòng đùi bên lành, với độ kích thước trung bình là 2,3cm, lớn nhất 5cm, nhỏ nhất 1cm. Biên độ vận động khớp: + Tại thời điểm theo dõi, còn 27/32 BN phục hồi hoàn toàn biên độ vận động khớp sau 9 tháng, 5/32 BN còn hạn chế biên độ vận động khớp gối ở các mức độ khác nhau. Trong đó có một BN nữ 50 tuổi chỉ gấp gối được 900, hạn chế duỗi 50, có 1BN nam 25 tuổi, hạn chế gấp gối 300 BÀN LUẬN Các chỉ số của thang điểm Lyhsom và IKDC tại thời điểm đánh giá đều có cải thiện so với trước mổ, nhất là tình trạng đau, nề và độ vững khớp gối. Tuy nhiên, trong 32 BN, chỉ có 4 BN cảm thấy hồi phục độ vững khớp gối hoàn toàn, còn có 3 BN cảm thấy lỏng khớp ngay trong khi sinh hoạt bình thường, có 1 BN nữ thoái hóa khớp, không ngồi xổm với gấp gối > 900 được, 1BN nam 25 tuổi hạn chế gấp gối 300. Trên thế giới, nhiều các nghiên cứu công bố trước đây cho thấy kết quả phẫu thuật nội soi tái tạo DCCS khớp gối cho kết quả rất khả quan, như nghiên cứu của David J. D. và cs năm 2003 [1] đánh giá kết quả phẫu thuật 27BN, độ tuổi trung bình 27, theo dõi trung bình 40 tháng. Kết quả, điểm Lyshom tăng từ 64 điểm trước mổ lên 94 điểm sau mổ, không có tổn thương DCCS độ III, 63% có thể trở lại hoạt động như trước khi tổn thương. Năm 2008, Jackson W.F.M. và cs [5] đánh giá kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS bằng gân cơ thon và bán gân cho 26 BN. Tuổi trung bình 28 năm (18-57 năm), thời gian theo dõi 10 năm. Sau 10 năm, điểm Lyshom tăng từ 64 lên 90 điểm. Năm 2010, Sommer Hammoud và cs [10] tổng hợp 3 nghiên cứu tái tạo DCCS đơn thuần sử dụng gân Hamstring tự thân, với 96BN, kết quả có 12 trường hợp thất bại (12,5%). Năm 2009, Jong-Keun Seon và cs [7] phẫu thuật 21 bệnh nhân, 18 nam, 3 nữ, tuổi trung bình 29,1 năm (17-56 tuổi), thời gian theo dõi trung bình 31,8 tháng (24- 58 tháng). Điểm Lyshom trước mổ trung bình 55,5 điểm (22-76 điểm), 7 BN tổn thương DCCS độ II, 14 BN độ III. Kết quả sau mổ, điểm Lyshom đạt trung bình 91,3 điểm (từ 74-100). 19 BN phục hồi tổn thương ở độ I, 2 BN độ II. Đo độ di lệch ra sau của mâm chày so với lồi cầu đùi trước mổ 12,3±2,1mm (7-14mm), sau mổ 3,7±2,1mm (0-7mm). Có 89% BN hài lòng với kết quả điều trị. Tác giả kết luận sử dụng gân bán gân và gân cơ thon để phẫu thuật tái tạo DCCS mang lại kết quả khả quan. Năm 2011, Young-Mo Kim TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 109 và cs [83] tổng hợp 10 nghiên cứu, thang điểm đánh giá sử dụng phổ biến là Lyshom và IKDC, kết quả điểm Lyshom trung bình trước mổ từ 55.5 -67 điểm, kết quả sau mổ đạt 81-100 điểm. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng với những tổn thương DCCS đơn thuần độ III, kết quả cuối cùng của phương pháp điều trị phẫu thuật có thể cải thiện chứ không phục hồi hoàn toàn độ vững khớp gối. Mục đích của phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối không chỉ nhằm phục hồi chức năng khớp mà còn phòng ngừa biến chứng thoái hóa khớp hoặc chống thoái hóa khớp tiến triển. Đạt kết quả như trên, chúng tôi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan, trong phạm vi bài viết chúng tôi không phân tích các yếu tố khách quan như lứa tuổi, thời gian từ khi tổn thương đến khi phẫu thuật, giải phẫu DCCS phức tạp, hướng đi của mảnh ghép ziczag qua nghiên cứu chúng tôi thấy nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả điều trị do chủ quan, đó là: Bỏ sót tổn thương Trong nhóm BN nghiên cứu của chúng tôi, có 02 BN bị bỏ sót tổn thương khu sau ngoài, nên chúng tôi chỉ phẫu thuật tái tạo DCCS, sau phẫu thuật, dù đã kết thúc quá trình luyện tập, BN vẫn lỏng khớp, kết quả đều xếp loại kém. Những nghiên cứu trước đó của các tác giả cho thấy tổn thương DCCS thường là tổn thương kết hợp, tỷ lệ dao động 50- 90% (Stijn H. và cs [12], Wolf Petersen và cs), Năm 2008, Jon K. S. và cs nghiên cứu trên 20 xác tươi, khi cắt bỏ DCCS đơn thuần, đo mức độ di lệch ra sau của mâm chày chỉ ở mức độ II, nếu cắt bỏ cả khu sau ngoài thì độ di lệch của tất cả đều độ III. Tác giả kết luận, trên lâm sàng nếu khám thấy độ di lệch của mâm chày ra sau so với lồi cầu đùi >1cm, cần lưu ý có tổn thương kết hợp của DCCS và khu sau ngoài [8]. Christopher D. H. và cs, Frank R. Noyes và Sue D. B.[2] nghiên cứu trên lâm sàng và đưa ra kết luận: một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại khi tái tạo DCCS là do bỏ sót tổn thương khu sau ngoài (chiếm 40%). Thực tế cho thấy, việc thăm khám để phát hiện tổn thương khu sau ngoài không đơn giản, thậm chí với cả các phẫu thuật viên có kinh nghiệm. Trong lâm sàng, với bất cứ trường hợp BN nào có nghiệm pháp ngăn kéo sau (+), cần phải khám nghiệm pháp xoay ngoài bàn chân (dial test), so sánh với bên đối diện, và thực hiện nghiệm pháp ngăn kéo sau khi bàn chân xoay ngoài tối đa, nhằm phát hiện tổn thương khu sau ngoài kết hợp. Sau khi vô cảm thực hiện lại các nghiệm pháp trên và trong quá trình nội soi cần quan sát kỹ gân khoeo để tránh bỏ sót tổn thương. Kỹ thuật khoan đường hầm mâm chày không chính xác Vị trí đầu ra của đường hầm mâm chày tại cực sau mâm chày thông thường dưới diện khớp khoảng 1.5cm, tại điểm xa nhất của diện bám DCCS, và hơi lệch ngoài. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, qua chụp Xquang khớp gối thẳng nghiêng tại thời điểm theo dõi trên 22 BN, chúng tôi thấy rằng có 3 trường hợp đường hầm mâm chày lên cao, 3 trường hợp hơi lệch trong. Trong các trường hợp đường hầm mâm chày lên cao, có 1BN xếp loại D, tuy BN này trẻ, thời gian phẫu thuật sớm, nhưng sau mổ 2 năm mâm chày vẫn tụt ra sau so với lồi cầu đùi trong (độ III), kết quả xếp loại D, 2 trường hợp còn lại mâm TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 110 chày ngang với lồi cầu đùi trong (độ II) xếp loại C. Nghiên cứu của Frank R. N. và Sue D. B. [2] thấy rằng nguyên nhân thất bại chủ yếu sau tái tạo DCCS đó là sai sót về kỹ thuật khoan đường hầm, trong đó chủ yếu là đường hầm mâm chày, do đầu ra của đường hầm ở mặt sau mâm chày lên cao và gần với gai chày, làm cho hướng đi của mảnh ghép sẽ có xu hướng dựng đứng, không có tác dụng chống sự di lệch ra sau. Nếu điểm ra của đường hầm lên cao, mảnh ghép sẽ gập góc 900 tại bờ trên của mặt sau mâm chày trước khi vào khớp gối và xoay quanh góc này (gọi là “góc xoay chết”), khi đó lực tác động lên mảnh ghép tăng lên, gây kéo giãn mảnh ghép, làm tăng nguy cơ thất bại. Trong bài viết của mình, Matthew J. M. và cs [9] đã trích dẫn nghiên cứu của Markolf K. L. và cs thực hiện trên xác tươi, với 2000 chu kỳ tác động, chiều dài của gân tăng thêm 17%. Để khắc phục hiện tượng “góc xoay chết”, các tác giả đều cho rằng nên khoan đường hầm mâm chày xuống thấp, ở cực dưới của điểm bám DCCS, và lệch ngoài 1 chút, để xác định độ chính xác của vị trí đường hầm, nên dùng Carm kiểm tra sau khi khoan mũi khoan định hướng [3], [9], [13]. Trên hình ảnh Xquang, Adam M. J. và cs dùng chất cản quang đánh dấu các mốc giải phẫu của DCCS, tác giả cho thấy tại mâm chày tâm điểm bám nằm hơi lệch ngoài và dưới đường khớp khoảng 1,5cm Đây là cơ sở làm mốc đặt đầu ra của đường hầm mâm chày. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, đế khoan chính xác đinh dẫn hướng, tránh hiện tượng “góc xoay chết”, khi phẫu thuật phẫu thuật viên cần bộc lộ mặt sau mâm chày đủ sâu, cho tới khi quan sát thấy bờ trên của cơ khoeo là được, khi đặt định vị, để chỗ vị trí dự kiến đầu ra của đinh ở ngay phía dưới cực sau (chỗ nhô cao nhất) của mâm chày, và hơi lệch ngoài một chút. Chúng tôi cũng nhất trí với các quan điểm hiện nay, sau khi khoan đinh dẫn hướng nên tiến hành kiểm tra dưới C-arm để đảm bảo việc khoan đường hầm mâm chày được chính xác. Luyện tập phục hồi chức năng sau mổ Trong các phẫu thuật chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình, phẫu thuật tái tạo dây chằng nói chung và DCCS nói riêng, việc luyện tập phục hồi chức năng đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Với nội dung luyện tập, phục hồi chức năng sau phẫu thuật tái tạo DCCS, trong giai đoạn đầu (8 tuần đầu sau mổ), việc bảo vệ, tránh gây lực căng lên mảnh ghép là quan trọng, song song cần lưu ý tập phục hồi sức cơ và chống dính khớp. Để bảo vệ mảnh ghép và chống dính khớp, ngoài việc tỳ nén phù hợp, việc mang nẹp khóa đóng vai trò rất quan trọng, Jin-zhong Zhao và cs [6], Jong-Keun Seon và cs [7] đều thống nhất sau mổ tái tạo DCCS, thời gian mang nẹp khóa 2 tháng, trong đó 2 tuần đầu để duỗi 0 độ, bắt đầu tập gấp gối từ tuần thứ 3. Dùng nẹp khóa cả trong khi vận động và nghỉ ngơi giúp tránh gấp duỗi gối quá mức, và hạn chế việc tỳ nén. Để phục hồi độ vững khớp, Gregory C. F. [4], Stanislav I. S. và cs [11] cho rằng luyện tập phục hồi chức năng cơ tứ đầu đùi là một yếu tố quan trọng nhất, các tác giả đề nghị trong quá trình phẫu thuật không nên gây tổn thương thêm cơ rộng trong để giúp sớm phục hồi sức cơ tứ đầu đùi. Việc tập phục hồi sức cơ tứ đầu đùi đỏi hỏi BN phải kiên trì, tập đúng động tác, tốt nhất có sự hỗ trợ của TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 111 máy tập chuyên dụng. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tất cả BN đều được hướng dẫn luyện tập theo một qui trình thống nhất, tuy nhiên, việc luyện tập có sự hỗ trợ của nhân viên y tế chỉ được thực hiện khi BN nằm viện, phần lớn BN không được mang nẹp khóa, khi ra viện đều tự tập tại gia đình, trong tình trạng thiếu thốn trang thiết bị, không có nẹp và máy chuyên dụng, nên hiệu quả của việc luyện tập không cao, cá biệt có BN không tuân thủ qui trình, như tỳ nén sớm, bỏ nẹp khi chưa đủ thời gian. Tại thời điểm đánh giá có 27/32 bệnh nhân phục hồi sức cơ, tuy nhiên vẫn có cảm giác yếu hơn chân lành, có 23/32 bệnh nhân chu vi vòng đùi bên bệnh nhỏ hơn chu vi vòng đùi bên lành, với độ kích thước trung bình là 2,3cm, lớn nhất 5cm, nhỏ nhất 1cm. Ngoài ra còn có 5BN hạn chế vận động khớp, trong đó có 1BN hạn chế gấp 900, 1 BN hạn chế gấp 300. Như vậy rõ ràng việc luyện tập không phù hợp cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Như vậy, có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối, trong đó yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng, các phẫu thuật viên cần nắm vững và khắc phục các yếu tố chủ quan để hạn chế tối thiểu các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị, nâng cao hiệu quả điều trị cho BN. KẾT LUẬN Phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon qua nội soi cho kết quả khả quan, kết quả sau mổ có cải thiện rõ rệt so với trước mổ, với điểm Lyshom trung bình sau mổ là 82,68±14,15 điểm (trước mổ 51,20±8,9 điểm), có 22BN/32BN đạt kết quả rất tốt và tốt, 5BN kết quả trung bình, 5BN kết quả kém. Theo IKDC có 22/32BN đạt kết quả loại A hoặc B (trước mổ 40/40 BN loại D hoặc C). Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, trong đó có 3 yếu tố chính đó là: bỏ sót tổn thương khu sau ngoài 02BN, vị trí đường hầm mâm chày chưa chính xác 06BN, luyện tập sau mổ chưa đạt yêu cầu ở 23BN. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. David J. D. et al (2003). Endoscopic Single-Bundle Posterior Cruciate Ligament reconstruction results at minimum 2-year follow-up. The Journal of Arthroscopic and Related Surgery, Vol 19, No 9, 955- 962. 2. Frank R. N. et al. (2006). An analysis of the causes of failure in 57 consecutive posterolateral operative proceduces. Am J Sports Med, 34: 1419. 3. Gregory C. F. et al. (2009). Posterior Cruciate Ligament and Posterolateral Corner Reconstruction. Knee Arthroscopy 153-164. Spinger. 4. Gregory C. F. (2006) Posterior Cruciate Ligament Reconstruction. Surgery of the knee. Insall and Scott. Fourth edition.. Vol 1. Chap 48. pp 746 5. Jackson W.F.M et al. (2008). Endoscopically-assisted single-budle PCL reconstruction. Result at minimum ten- year follow-up. J Bone Joint Surg (Br); 90-B: 1328-33 6. Jin-Zhong Zhao, Xiao-qiao Huang- Fu, Yao-hua He, Xing-guang Yang (2009). Single-bundle PCL reconstruction with remnant preservation: lateral versus medial-sided augmentation technique. Orthopeadic surgery , Vol 1, No.1, 66-73. TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015 112 7. Jong-Keun Seon, Eun-Kyoo Song (2006). Reconstruction of Isolate PCL injuries: A clinical comparation of the transtibial and tibial inlay techniques. The Journal of Arthroscopic and Related Surgery. Vol 22. No.1, pp: 27-32. 8. Jon K. S. et al. (2008). A Clinically relevant assessment of PCL and PLC injuries. Evaluation of isolated and combined deficiency. J Bone Joint Surg Am.; 90:1621-1627. 9. Matthew J. M. et al. (2009).Surgical treatment of posterior cruciate ligament Tears: An Evolving Technique. J Am Acad Orthop Surg. 17: 435-466. 10. Sommer H. et al. (2010). Outcomes of posterior cruciate ligament treatment. A review of the evidence. Sports Med Arthrosc Rev; 18: 280-291. 11. Stanislav I. S. et al. (2011). Isolated and Combined Grade-III Posterior Cruciate Ligament Tears treated with Double-bundle reconstruction with use of the endoscopically placed femoral tunnel graft. J Bone Joint Am: 93: 1773-80. 12. Stijin H. et al. (2009). Long-term Results of Isolated Anterolateral Bundle Reconstructions of the Posterior Cruciate Ligament A 6 to 12 Year Followup Study. Am J Sports Med 37: 1499. 13. William M. W.(2004). Clinical Sports Medicine Update: Evaluation and Treatment of Posterior Cruciate Ligament Injuries: Revisited. Am J Sports Med October 32 1765-1775. Han J, Kwon OJ (2004). Does CT of Thy- mic Epithelial Tumors Enable Us to Dif- ferentiate Histologic Subtypes and Predict Prognosis? AJR Am J Roentgenal 2004; 183: 283-289 5 Jung KJ, Lee KS, Han J, Kim J, Kim TS, Kim EA. Malignant thymic epithelial tumors: CT-pathologic correlation. AJR Am J Roentgenal 2001; 176: 433-439 6. Marchevsky AM, Kaneko M (1984). Tumors of the thymus: thymoma. In: Marchevsky AM, Kaneko M, eds, Surgical pathology of the mediastinum. New York: Raven; 58-116 7. Rosado-de-Christenson ML, Ga- lobardes J, Moran CA (1992). Thymoma: Radiological-Pathological Correlation. Ra- diographics; 12: 151-198 8. Tomiyama N, Johkoh T, Mihara N, et al (2002). Using the World Health Orga- nization Classification of thymic epithelial neoplasms to describe CT findings. AJR Am J Roentgenal 2002; 179: 881-886 (Tiếp theo trang 104) ĐÁNH GIÁ SỰ LIÊN QUAN....
File đính kèm:
nhung_yeu_to_chinh_anh_huong_den_ket_qua_phau_thuat_tai_tao.pdf

