Những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối

Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 40 bệnh nhân (40 khớp gối), bị đứt dây

chằng chéo sau (DCCS) khớp gối đơn thuần, được phẫu thuật tái tạo DCCS qua nội soi, chất

liệu mảnh ghép là gân cơ thon và gân cơ bán gân tự thân chập 4. Độ tuổi trung bình 31±9,77

năm (từ 18 đến 51 tuổi). Kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn của Lysholm và IKDC-2000.

Kết quả: Điểm Lyshom trung bình sau mổ là 82,68±14,15 điểm, theo IKDC có 22/32BN

đạt kết quả loại A hoặc B. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phẫu thuật: 02BN bỏ sót tổn

thương khu sau ngoài trước mổ, 6 BN đường hầm mâm chày chưa chính xác, 23BN luyện

tập sau mổ chưa đạt yêu cầu.

Kết luận: Kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối bằng gân cơ thon và bán gân cho

kết quả khả quan. Có nhiểu yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, trong đó yếu tố chính

do bỏ sót tổn thương, kỹ thuật mổ và luyện tập sau mổ

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối

Những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
105
TÓM TẮT
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 40 bệnh nhân (40 khớp gối), bị đứt dây 
chằng chéo sau (DCCS) khớp gối đơn thuần, được phẫu thuật tái tạo DCCS qua nội soi, chất 
liệu mảnh ghép là gân cơ thon và gân cơ bán gân tự thân chập 4. Độ tuổi trung bình 31±9,77 
năm (từ 18 đến 51 tuổi). Kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn của Lysholm và IKDC-2000.
Kết quả: Điểm Lyshom trung bình sau mổ là 82,68±14,15 điểm, theo IKDC có 22/32BN 
đạt kết quả loại A hoặc B. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phẫu thuật: 02BN bỏ sót tổn 
thương khu sau ngoài trước mổ, 6 BN đường hầm mâm chày chưa chính xác, 23BN luyện 
tập sau mổ chưa đạt yêu cầu.
Kết luận: Kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối bằng gân cơ thon và bán gân cho 
kết quả khả quan. Có nhiểu yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, trong đó yếu tố chính 
do bỏ sót tổn thương, kỹ thuật mổ và luyện tập sau mổ. 
Từ khóa: tái tạo dây chằng chéo sau, mảnh ghép tự thân gân Hamstring.
THE MAIN FACTORS AFFECTING THE RESULTS OF ARTHROSCOPIC 
PCL RECONSTRUCTION
ABSTRACT
Materials and menthods: 40 patients (40 knees) who had isolated posterior cruciate 
ligament (PCL) ruptures and were treated with arthroscopy PCL reconstructions using 
quadrupled semitendinosus and gracilis. The mean age was 31±9,77 years (range:18-51). 
The results were evaluated according to the Lysholm and IKDC-2000 score.
Results: The mean Lysholm score were 82,68±14,15 points. Following the IKDC-2000 
score, 22 patients were classified A or B. The main factors affecting the results: missed PLC 
injuries in 2 patients, the inexact tibial tunnel locations in 6 patients, the unsatisfactory 
postoperative rehabilitations in 23 patients.
Conclusion: Results of arthroscopy PCL reconstructions using quadrupled 
semitendinosus and gracilis were perspective. There were many factors affecting the results 
in which the main factors were: mission lesions, surgical techniques and postoperative 
rehabilitaions.
NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ
PHẪU THUẬT TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO SAU KHỚP GỐI
Phùng Văn Tuấn(1), Lê Hồng Hải(1), Nguyễn QuốcDũng(1),
Lê Hanh(1), Mai Đắc Việt(1), Mai Đức Thuận(1)
(1) Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Người phản hồi (Corresponding): Phùng Văn Thuấn
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
106
Keywords: PCL reconstruction, Hamstring tendon autograft.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho đến nay phẫu thuật tái tạo dây 
chằng chéo sau (DCCS) khớp gối đã trở nên 
phổ biến trên thế giới, các nghiên cứu cho 
thấy kết quả rất khả quan. Tại Việt Nam, 
phẫu thuật tái tạo DCCS mới được triển khai 
ở một số trung tâm y tế lớn, có chuyên khoa 
sâu về Chấn thương chỉnh hình. 
Phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối qua 
nội soi tuy cho kết quả khả quan, nhưng tỷ 
lệ thành công không cao như phẫu thuật nội 
soi tái tạo dây chằng chéo trước (DCCT) 
do có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả 
phẫu thuật. Trên thế giới đã có nhiều nghiên 
cứu phân tích về vấn đề này. Tại Việt Nam 
hiện chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề 
những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu 
thuật. Trước tình hình như vậy, chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu đề tài “đánh giá những yếu 
tố chính ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật 
tái tạo DCCS khớp gối” với hai mục tiêu.
Đánh giá kết quả điều trị
Xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến 
kết quả điều trị. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 40 BN với 40 khớp gối (34 
nam, 6 nữ), tuổi trung bình là 31±9,77 (từ 18 
đến 51 tuổi), được phẫu thuật tái tạo DCCS 
khớp gối bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon 
qua nội soi. Thời gian theo dõi trung bình 
là 37,87±11 tháng (ngắn nhất 13 tháng, dài 
nhất 58 tháng). 
Tiêu chuẩn lựa chọn: những BN đứt 
DCCS đơn thuần độ II,III, có biểu hiện 
lỏng, đau, nề khớp gối.
Tiêu chuẩn loại trừ: các BN có tổn 
thương DCCS kết hợp với các dây chằng 
khác, BN thoái hóa khớp gối độ III, IV, BN 
tuổi dưới 18 và trên 55 tuổi. 
2. Phương pháp nghiên cứu: mô tả, 
cắt ngang, không có nhóm chứng, kết hợp 
hồi cứu và tiến cứu. Hồi cứu: 30BN, tiến 
cứu: 10BN
Nghiên cứu hồi cứu: 
- Lập hồ sơ nghiên cứu.
- Đánh giá tổn thương trước mổ theo 
số liệu hồ sơ bệnh án và hồ sơ nghiên cứu.
- Tổng hợp, đánh giả kết quả của từng 
BN trước mổ theo thang điểm Lyshom và 
IKDC. 
- Gọi BN đến kiểm tra đánh giá kết quả 
điều trị theo thang điểm Lyshom và IKDC. 
Lưu ý xác định nguyên nhân những BN kết 
quả TB, kém
Nghiên cứu tiến cứu
- Thăm khám bệnh nhân, đánh giá tổn 
thương lâm sàng và cận lâm sàng theo hồ sơ 
nghiên cứu, chỉ định phẫu thuật.
- Tham gia phẫu thuật và trực tiếp phẫu 
thuật cho bệnh nhân.
-Điều trị sau mổ, hướng dẫn BN luyện 
tập. Kiểm tra định kỳ theo hẹn. 
- Đánh giá kết quả điều trị cho những 
BN kết thúc quá trình luyện tập.
Đánh giá kết quả
Kết quả xa được đánh giá từ tháng thứ 
12 trở đi.
Các bệnh nhân được đánh giá chức 
năng khớp gối trước mổ theo thang điểm 
của Lysholm (rất tốt: 91-100 điểm, tốt; 77-
90 điểm, vừa: 68-76 điểm, xấu: <68 điểm) 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
107
và IKDC-2000 (Loại A: bình thường, loại B: 
gần bình thường, loại C: không bình thường, 
loại D: không bình thường mức độ nặng).
KẾT QUẢ 
1. Tình trạng tổn thương trước mổ
40/40 BN cảm giác lỏng khớp gối, đặc 
biệt khi xuống cầu thang. Thăm khám lâm 
sàng có 40/40 BN nghiệm pháp ngăn kéo 
sau (+). Đo trên XQ chụp nghiêng khớp gối 
thấy 36/40BN mâm chày di lệch ra sau so với 
lồi cầu đùi, 4/40BN mâm chày ngang mức 
so với lồi cầu đùi trong. Trên cộng hưởng 
từ thấy 40/40 khớp gối mất tín hiệu DCCS. 
Theo thang điểm của Lyshom, có 40/40 BN 
xếp loại kém (<68 điểm), với điểm trung 
bình trước mổ là 51,20±8,91 điểm , cao nhất 
67 điểm, thấp nhất 33 điểm. Theo thang 
điểm IKDC-2000, 36/40 bệnh nhân xếp loại 
D, 4/40 trường hợp xếp loại C.
Tổn thương kèm theo: có 12 trường hợp 
rách sụn chêm, 4 trường hợp thoái hóa khớp 
gối độ I, II. 
2. Kết quả điều trị 
Chúng tôi đánh giá kết quả 32/40 BN, 
trong đó có 27BN nam, 5 BN nữ, độ tuổi 
trung bình 30,46±8,74 tuổi, thời gian theo 
dõi trung bình 37,87±11 tháng, ngắn nhất 13 
tháng, dài nhất 58 tháng.
 Theo thang điểm đánh giá của Lyshom
Bảng 1. Kết quả theo Lyshom (n=32)
Xếp loại Số BN Tỷ lệ (%)
Rất tốt 10 31,25
Tốt 12 37,50
Trung bình 5 15,63
Kém 5 15,63
Tổng 32 100
 Điểm trung bình của 32 BN theo dõi 
là 82,68±14,15 điểm, cao nhất 100 điểm, 
thấp nhất 42 điểm. Có 22/32 BN đạt kết 
quả rất tốt và tốt, 5 BN đạt kết quả trung 
bình, 5 BN đạt kết quả kém. 
Theo phân loại của IKDC 2000
Bảng 2. Xếp loại chung theo phân loại của IKDC-2000 (n=32)
Xếp loại Số BN Tỷ lệ (%)
A 11 34,38
B 13 40,62
C 3 9,38
D 5 15,62
Tổng 32 100
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
108
Trong 32 BN được đánh giá có 21 BN 
nghiệm pháp ngăn kéo sau (+), trong đó 
3/32BN không cải thiện so với trước mổ. 
Có 23/32 BN còn teo cơ tứ đầu đùi chi bên 
bệnh, với kích thước trung bình 2,3cm. 
Ngoài ra có 5 BN hạn chế vận động khớp 
gối, 10BN có biểu hiện nề khớp gối ở các 
mức độ khác nhau, trong đó có 1BN nề 
khớp ngay cả khi hoạt động bình thường.
Biến chứng: thoái hóa khớp: 5BN, dị 
cảm da: 2BN, đau tại mảnh ghép: 2BN, 
hạn chế vận động khớp: 5BN. 
3. Luyện tập sau mổ.
Chúng tôi đánh giá kết quả luyện tập 
sau mổ sau khi kết thúc quá trình luyện tập
- Sức cơ tứ đầu đùi:
+ Tại thời điểm đánh giá có 27/32 BN 
phục hồi sức cơ, tuy nhiên vẫn có cảm 
giác yếu hơn chân lành. Đo chu vi vòng 
đùi 10 cm trên khớp gối, có 23/32 BN chu 
vi vòng đùi bên bệnh nhỏ hơn chu vi vòng 
đùi bên lành, với độ kích thước trung bình 
là 2,3cm, lớn nhất 5cm, nhỏ nhất 1cm.
Biên độ vận động khớp:
+ Tại thời điểm theo dõi, còn 27/32 
BN phục hồi hoàn toàn biên độ vận động 
khớp sau 9 tháng, 5/32 BN còn hạn chế 
biên độ vận động khớp gối ở các mức độ 
khác nhau. Trong đó có một BN nữ 50 tuổi 
chỉ gấp gối được 900, hạn chế duỗi 50, có 
1BN nam 25 tuổi, hạn chế gấp gối 300
BÀN LUẬN
Các chỉ số của thang điểm Lyhsom và 
IKDC tại thời điểm đánh giá đều có cải 
thiện so với trước mổ, nhất là tình trạng 
đau, nề và độ vững khớp gối. Tuy nhiên, 
trong 32 BN, chỉ có 4 BN cảm thấy hồi 
phục độ vững khớp gối hoàn toàn, còn có 
3 BN cảm thấy lỏng khớp ngay trong khi 
sinh hoạt bình thường, có 1 BN nữ thoái 
hóa khớp, không ngồi xổm với gấp gối > 
900 được, 1BN nam 25 tuổi hạn chế gấp 
gối 300. 
Trên thế giới, nhiều các nghiên cứu 
công bố trước đây cho thấy kết quả phẫu 
thuật nội soi tái tạo DCCS khớp gối cho 
kết quả rất khả quan, như nghiên cứu của 
David J. D. và cs năm 2003 [1] đánh giá 
kết quả phẫu thuật 27BN, độ tuổi trung 
bình 27, theo dõi trung bình 40 tháng. Kết 
quả, điểm Lyshom tăng từ 64 điểm trước 
mổ lên 94 điểm sau mổ, không có tổn 
thương DCCS độ III, 63% có thể trở lại 
hoạt động như trước khi tổn thương. Năm 
2008, Jackson W.F.M. và cs [5] đánh giá 
kết quả phẫu thuật tái tạo DCCS bằng gân 
cơ thon và bán gân cho 26 BN. Tuổi trung 
bình 28 năm (18-57 năm), thời gian theo 
dõi 10 năm. Sau 10 năm, điểm Lyshom 
tăng từ 64 lên 90 điểm. Năm 2010, 
Sommer Hammoud và cs [10] tổng hợp 
3 nghiên cứu tái tạo DCCS đơn thuần sử 
dụng gân Hamstring tự thân, với 96BN, 
kết quả có 12 trường hợp thất bại (12,5%). 
Năm 2009, Jong-Keun Seon và cs [7] 
phẫu thuật 21 bệnh nhân, 18 nam, 3 nữ, 
tuổi trung bình 29,1 năm (17-56 tuổi), thời 
gian theo dõi trung bình 31,8 tháng (24-
58 tháng). Điểm Lyshom trước mổ trung 
bình 55,5 điểm (22-76 điểm), 7 BN tổn 
thương DCCS độ II, 14 BN độ III. Kết 
quả sau mổ, điểm Lyshom đạt trung bình 
91,3 điểm (từ 74-100). 19 BN phục hồi 
tổn thương ở độ I, 2 BN độ II. Đo độ di 
lệch ra sau của mâm chày so với lồi cầu 
đùi trước mổ 12,3±2,1mm (7-14mm), sau 
mổ 3,7±2,1mm (0-7mm). Có 89% BN 
hài lòng với kết quả điều trị. Tác giả kết 
luận sử dụng gân bán gân và gân cơ thon 
để phẫu thuật tái tạo DCCS mang lại kết 
quả khả quan. Năm 2011, Young-Mo Kim 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
109
và cs [83] tổng hợp 10 nghiên cứu, thang 
điểm đánh giá sử dụng phổ biến là Lyshom 
và IKDC, kết quả điểm Lyshom trung bình 
trước mổ từ 55.5 -67 điểm, kết quả sau mổ 
đạt 81-100 điểm. 
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng với 
những tổn thương DCCS đơn thuần độ III, 
kết quả cuối cùng của phương pháp điều 
trị phẫu thuật có thể cải thiện chứ không 
phục hồi hoàn toàn độ vững khớp gối. Mục 
đích của phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối 
không chỉ nhằm phục hồi chức năng khớp 
mà còn phòng ngừa biến chứng thoái hóa 
khớp hoặc chống thoái hóa khớp tiến triển.
Đạt kết quả như trên, chúng tôi xem 
xét các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả 
điều trị, bao gồm các yếu tố chủ quan và 
khách quan, trong phạm vi bài viết chúng 
tôi không phân tích các yếu tố khách quan 
như lứa tuổi, thời gian từ khi tổn thương 
đến khi phẫu thuật, giải phẫu DCCS phức 
tạp, hướng đi của mảnh ghép ziczag qua 
nghiên cứu chúng tôi thấy nguyên nhân 
chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả điều trị do 
chủ quan, đó là:
Bỏ sót tổn thương
Trong nhóm BN nghiên cứu của chúng 
tôi, có 02 BN bị bỏ sót tổn thương khu sau 
ngoài, nên chúng tôi chỉ phẫu thuật tái tạo 
DCCS, sau phẫu thuật, dù đã kết thúc quá 
trình luyện tập, BN vẫn lỏng khớp, kết quả 
đều xếp loại kém. 
Những nghiên cứu trước đó của các 
tác giả cho thấy tổn thương DCCS thường 
là tổn thương kết hợp, tỷ lệ dao động 50-
90% (Stijn H. và cs [12], Wolf Petersen 
và cs), Năm 2008, Jon K. S. và cs nghiên 
cứu trên 20 xác tươi, khi cắt bỏ DCCS đơn 
thuần, đo mức độ di lệch ra sau của mâm 
chày chỉ ở mức độ II, nếu cắt bỏ cả khu sau 
ngoài thì độ di lệch của tất cả đều độ III. 
Tác giả kết luận, trên lâm sàng nếu khám 
thấy độ di lệch của mâm chày ra sau so với 
lồi cầu đùi >1cm, cần lưu ý có tổn thương 
kết hợp của DCCS và khu sau ngoài [8]. 
Christopher D. H. và cs, Frank R. Noyes 
và Sue D. B.[2] nghiên cứu trên lâm 
sàng và đưa ra kết luận: một trong những 
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại khi 
tái tạo DCCS là do bỏ sót tổn thương khu 
sau ngoài (chiếm 40%). 
Thực tế cho thấy, việc thăm khám để 
phát hiện tổn thương khu sau ngoài không 
đơn giản, thậm chí với cả các phẫu thuật 
viên có kinh nghiệm. Trong lâm sàng, với 
bất cứ trường hợp BN nào có nghiệm pháp 
ngăn kéo sau (+), cần phải khám nghiệm 
pháp xoay ngoài bàn chân (dial test), so 
sánh với bên đối diện, và thực hiện nghiệm 
pháp ngăn kéo sau khi bàn chân xoay ngoài 
tối đa, nhằm phát hiện tổn thương khu sau 
ngoài kết hợp. Sau khi vô cảm thực hiện 
lại các nghiệm pháp trên và trong quá trình 
nội soi cần quan sát kỹ gân khoeo để tránh 
bỏ sót tổn thương.
Kỹ thuật khoan đường hầm mâm chày 
không chính xác
Vị trí đầu ra của đường hầm mâm chày 
tại cực sau mâm chày thông thường dưới 
diện khớp khoảng 1.5cm, tại điểm xa nhất 
của diện bám DCCS, và hơi lệch ngoài. 
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, 
qua chụp Xquang khớp gối thẳng nghiêng 
tại thời điểm theo dõi trên 22 BN, chúng 
tôi thấy rằng có 3 trường hợp đường hầm 
mâm chày lên cao, 3 trường hợp hơi lệch 
trong. Trong các trường hợp đường hầm 
mâm chày lên cao, có 1BN xếp loại D, 
tuy BN này trẻ, thời gian phẫu thuật sớm, 
nhưng sau mổ 2 năm mâm chày vẫn tụt ra 
sau so với lồi cầu đùi trong (độ III), kết 
quả xếp loại D, 2 trường hợp còn lại mâm 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
110
chày ngang với lồi cầu đùi trong (độ II) 
xếp loại C.
Nghiên cứu của Frank R. N. và Sue 
D. B. [2] thấy rằng nguyên nhân thất bại 
chủ yếu sau tái tạo DCCS đó là sai sót về 
kỹ thuật khoan đường hầm, trong đó chủ 
yếu là đường hầm mâm chày, do đầu ra 
của đường hầm ở mặt sau mâm chày lên 
cao và gần với gai chày, làm cho hướng 
đi của mảnh ghép sẽ có xu hướng dựng 
đứng, không có tác dụng chống sự di lệch 
ra sau. Nếu điểm ra của đường hầm lên 
cao, mảnh ghép sẽ gập góc 900 tại bờ trên 
của mặt sau mâm chày trước khi vào khớp 
gối và xoay quanh góc này (gọi là “góc 
xoay chết”), khi đó lực tác động lên mảnh 
ghép tăng lên, gây kéo giãn mảnh ghép, 
làm tăng nguy cơ thất bại.
Trong bài viết của mình, Matthew J. 
M. và cs [9] đã trích dẫn nghiên cứu của 
Markolf K. L. và cs thực hiện trên xác 
tươi, với 2000 chu kỳ tác động, chiều dài 
của gân tăng thêm 17%. Để khắc phục 
hiện tượng “góc xoay chết”, các tác giả 
đều cho rằng nên khoan đường hầm mâm 
chày xuống thấp, ở cực dưới của điểm bám 
DCCS, và lệch ngoài 1 chút, để xác định 
độ chính xác của vị trí đường hầm, nên 
dùng Carm kiểm tra sau khi khoan mũi 
khoan định hướng [3], [9], [13]. Trên hình 
ảnh Xquang, Adam M. J. và cs dùng chất 
cản quang đánh dấu các mốc giải phẫu 
của DCCS, tác giả cho thấy tại mâm chày 
tâm điểm bám nằm hơi lệch ngoài và dưới 
đường khớp khoảng 1,5cm Đây là cơ sở 
làm mốc đặt đầu ra của đường hầm mâm 
chày.
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, đế 
khoan chính xác đinh dẫn hướng, tránh 
hiện tượng “góc xoay chết”, khi phẫu thuật 
phẫu thuật viên cần bộc lộ mặt sau mâm 
chày đủ sâu, cho tới khi quan sát thấy bờ 
trên của cơ khoeo là được, khi đặt định 
vị, để chỗ vị trí dự kiến đầu ra của đinh ở 
ngay phía dưới cực sau (chỗ nhô cao nhất) 
của mâm chày, và hơi lệch ngoài một chút. 
Chúng tôi cũng nhất trí với các quan điểm 
hiện nay, sau khi khoan đinh dẫn hướng 
nên tiến hành kiểm tra dưới C-arm để đảm 
bảo việc khoan đường hầm mâm chày 
được chính xác. 
Luyện tập phục hồi chức năng sau mổ
Trong các phẫu thuật chuyên ngành 
Chấn thương Chỉnh hình, phẫu thuật tái 
tạo dây chằng nói chung và DCCS nói 
riêng, việc luyện tập phục hồi chức năng 
đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Với nội dung luyện tập, phục hồi chức 
năng sau phẫu thuật tái tạo DCCS, trong 
giai đoạn đầu (8 tuần đầu sau mổ), việc 
bảo vệ, tránh gây lực căng lên mảnh ghép 
là quan trọng, song song cần lưu ý tập phục 
hồi sức cơ và chống dính khớp. Để bảo vệ 
mảnh ghép và chống dính khớp, ngoài việc 
tỳ nén phù hợp, việc mang nẹp khóa đóng 
vai trò rất quan trọng, Jin-zhong Zhao và 
cs [6], Jong-Keun Seon và cs [7] đều thống 
nhất sau mổ tái tạo DCCS, thời gian mang 
nẹp khóa 2 tháng, trong đó 2 tuần đầu để 
duỗi 0 độ, bắt đầu tập gấp gối từ tuần thứ 
3. Dùng nẹp khóa cả trong khi vận động 
và nghỉ ngơi giúp tránh gấp duỗi gối quá 
mức, và hạn chế việc tỳ nén. Để phục hồi 
độ vững khớp, Gregory C. F. [4], Stanislav 
I. S. và cs [11] cho rằng luyện tập phục hồi 
chức năng cơ tứ đầu đùi là một yếu tố quan 
trọng nhất, các tác giả đề nghị trong quá 
trình phẫu thuật không nên gây tổn thương 
thêm cơ rộng trong để giúp sớm phục hồi 
sức cơ tứ đầu đùi. Việc tập phục hồi sức 
cơ tứ đầu đùi đỏi hỏi BN phải kiên trì, tập 
đúng động tác, tốt nhất có sự hỗ trợ của 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
111
máy tập chuyên dụng.
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, 
tất cả BN đều được hướng dẫn luyện tập 
theo một qui trình thống nhất, tuy nhiên, 
việc luyện tập có sự hỗ trợ của nhân viên 
y tế chỉ được thực hiện khi BN nằm viện, 
phần lớn BN không được mang nẹp khóa, 
khi ra viện đều tự tập tại gia đình, trong 
tình trạng thiếu thốn trang thiết bị, không 
có nẹp và máy chuyên dụng, nên hiệu quả 
của việc luyện tập không cao, cá biệt có 
BN không tuân thủ qui trình, như tỳ nén 
sớm, bỏ nẹp khi chưa đủ thời gian. Tại thời 
điểm đánh giá có 27/32 bệnh nhân phục 
hồi sức cơ, tuy nhiên vẫn có cảm giác yếu 
hơn chân lành, có 23/32 bệnh nhân chu vi 
vòng đùi bên bệnh nhỏ hơn chu vi vòng 
đùi bên lành, với độ kích thước trung bình 
là 2,3cm, lớn nhất 5cm, nhỏ nhất 1cm. 
Ngoài ra còn có 5BN hạn chế vận động 
khớp, trong đó có 1BN hạn chế gấp 900, 1 
BN hạn chế gấp 300. Như vậy rõ ràng việc 
luyện tập không phù hợp cũng là một yếu 
tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Như vậy, có nhiều yếu tố chủ quan và 
khách quan ảnh hưởng đến kết quả phẫu 
thuật tái tạo DCCS khớp gối, trong đó yếu 
tố chủ quan đóng vai trò quan trọng, các 
phẫu thuật viên cần nắm vững và khắc 
phục các yếu tố chủ quan để hạn chế tối 
thiểu các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến 
kết quả điều trị, nâng cao hiệu quả điều trị 
cho BN.
KẾT LUẬN
Phẫu thuật tái tạo DCCS khớp gối 
bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon qua 
nội soi cho kết quả khả quan, kết quả sau 
mổ có cải thiện rõ rệt so với trước mổ, 
với điểm Lyshom trung bình sau mổ là 
82,68±14,15 điểm (trước mổ 51,20±8,9 
điểm), có 22BN/32BN đạt kết quả rất tốt 
và tốt, 5BN kết quả trung bình, 5BN kết 
quả kém. Theo IKDC có 22/32BN đạt kết 
quả loại A hoặc B (trước mổ 40/40 BN loại 
D hoặc C). 
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết 
quả phẫu thuật, trong đó có 3 yếu tố chính 
đó là: bỏ sót tổn thương khu sau ngoài 
02BN, vị trí đường hầm mâm chày chưa 
chính xác 06BN, luyện tập sau mổ chưa 
đạt yêu cầu ở 23BN. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. David J. D. et al (2003). Endoscopic 
Single-Bundle Posterior Cruciate Ligament 
reconstruction results at minimum 2-year 
follow-up. The Journal of Arthroscopic 
and Related Surgery, Vol 19, No 9, 955-
962. 
2. Frank R. N. et al. (2006). An analysis 
of the causes of failure in 57 consecutive 
posterolateral operative proceduces. Am J 
Sports Med, 34: 1419. 
3. Gregory C. F. et al. (2009). Posterior 
Cruciate Ligament and Posterolateral 
Corner Reconstruction. Knee Arthroscopy 
153-164. Spinger. 
4. Gregory C. F. (2006) Posterior 
Cruciate Ligament Reconstruction. 
Surgery of the knee. Insall and Scott. 
Fourth edition.. Vol 1. Chap 48. pp 746 
5. Jackson W.F.M et al. (2008). 
Endoscopically-assisted single-budle PCL 
reconstruction. Result at minimum ten-
year follow-up. J Bone Joint Surg (Br); 
90-B: 1328-33 
6. Jin-Zhong Zhao, Xiao-qiao Huang-
Fu, Yao-hua He, Xing-guang Yang (2009). 
Single-bundle PCL reconstruction with 
remnant preservation: lateral versus 
medial-sided augmentation technique. 
Orthopeadic surgery , Vol 1, No.1, 66-73. 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
112
7. Jong-Keun Seon, Eun-Kyoo Song 
(2006). Reconstruction of Isolate PCL 
injuries: A clinical comparation of the 
transtibial and tibial inlay techniques. 
The Journal of Arthroscopic and Related 
Surgery. Vol 22. No.1, pp: 27-32. 
8. Jon K. S. et al. (2008). A Clinically 
relevant assessment of PCL and PLC 
injuries. Evaluation of isolated and 
combined deficiency. J Bone Joint Surg 
Am.; 90:1621-1627. 
9. Matthew J. M. et al. (2009).Surgical 
treatment of posterior cruciate ligament 
Tears: An Evolving Technique. J Am Acad 
Orthop Surg. 17: 435-466. 
10. Sommer H. et al. (2010). Outcomes 
of posterior cruciate ligament treatment. 
A review of the evidence. Sports Med 
Arthrosc Rev; 18: 280-291. 
11. Stanislav I. S. et al. (2011). 
Isolated and Combined Grade-III Posterior 
Cruciate Ligament Tears treated with 
Double-bundle reconstruction with use of 
the endoscopically placed femoral tunnel 
graft. J Bone Joint Am: 93: 1773-80. 
12. Stijin H. et al. (2009). Long-term 
Results of Isolated Anterolateral Bundle 
Reconstructions of the Posterior Cruciate 
Ligament A 6 to 12 Year Followup Study. 
Am J Sports Med 37: 1499. 
13. William M. W.(2004). Clinical 
Sports Medicine Update: Evaluation and 
Treatment of Posterior Cruciate Ligament 
Injuries: Revisited. Am J Sports Med 
October 32 1765-1775. 
Han J, Kwon OJ (2004). Does CT of Thy-
mic Epithelial Tumors Enable Us to Dif-
ferentiate Histologic Subtypes and Predict 
Prognosis? AJR Am J Roentgenal 2004; 
183: 283-289
5 Jung KJ, Lee KS, Han J, Kim J, Kim 
TS, Kim EA. Malignant thymic epithelial 
tumors: CT-pathologic correlation. AJR 
Am J Roentgenal 2001; 176: 433-439
6. Marchevsky AM, Kaneko M (1984). 
Tumors of the thymus: thymoma. In: 
Marchevsky AM, Kaneko M, eds, Surgical 
pathology of the mediastinum. New York: 
Raven; 58-116
7. Rosado-de-Christenson ML, Ga-
lobardes J, Moran CA (1992). Thymoma: 
Radiological-Pathological Correlation. Ra-
diographics; 12: 151-198
8. Tomiyama N, Johkoh T, Mihara N, 
et al (2002). Using the World Health Orga-
nization Classification of thymic epithelial 
neoplasms to describe CT findings. AJR 
Am J Roentgenal 2002; 179: 881-886
(Tiếp theo trang 104)
ĐÁNH GIÁ SỰ LIÊN QUAN....

File đính kèm:

  • pdfnhung_yeu_to_chinh_anh_huong_den_ket_qua_phau_thuat_tai_tao.pdf