Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đủ tháng sinh mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: 1) Mô tả một số dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ

sơ sinh đủ tháng sinh mổ mắc nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (NKSSS). 2)

Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan tới trẻ sơ sinh đủ tháng sinh

mổ mắc NKSSS.

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả hàng loạt ca sơ sinh đủ tháng

sinh mổ mắc nhiễm khuẩn sớm (≤72h sau sinh) tại Bv Phụ sản TW từ

tháng 1-tháng 4/2016.

Kết quả: So với trẻ đủ tháng sinh thường, trẻ sinh mổ có tỷ lệ trẻ mắc

NKSSS cao hơn; Tỷ lệ NKSSS là cao nhất ở tuổi thai ≥ 37 – 38 tuần

(50%); Tỷ lệ mắc NKSSS cao hơn ở nhóm chỉ định mổ lấy thai chủ động

(70%) so với nhóm chỉ định mổ lấy thai do bệnh lý mẹ hoặc thai có nguy

cơ (30%); 67,4% trẻ mắc NKSSS có dấu hiệu lâm sàng là suy hô hấp;

59,6% các trường hợp NKSSS xuất hiện triệu chứng trong vòng 12 giờ

đầu sau đẻ; Cấy máu vẫn là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán NKSS nhưng

tỷ lệ (+) thấp (3/47ca); Yếu tố nguy cơ hay gặp là nhiễm khuẩn tiết niệu,

nhiễm khuẩn sinh dục của mẹ trong tháng cuối của thai kỳ và thai chậm

phất triển trong tử cung; Cần thực hiện tốt tư vấn khám thai, kiểm tra theo

dõi xét nghiệm đặc biệt là xét nghiệm nước tiểu, thực hiện khám trong cho

sản phụ để phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn sinh dục mẹ kịp thời, tránh

lây truyền từ mẹ sang thai.

pdf 5 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đủ tháng sinh mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đủ tháng sinh mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đủ tháng sinh mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TRẦN DIỆU LINH, VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN THU YẾN
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
120
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trần Diệu Linh(1), Vũ Bá Quyết(1), Nguyễn Thu Yến(2)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
NHIỄM KHUẨN SƠ SINH SỚM
Ở TRẺ ĐỦ THÁNG SINH MỔ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: 1) Mô tả một số dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ 
sơ sinh đủ tháng sinh mổ mắc nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (NKSSS). 2) 
Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan tới trẻ sơ sinh đủ tháng sinh 
mổ mắc NKSSS.
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả hàng loạt ca sơ sinh đủ tháng 
sinh mổ mắc nhiễm khuẩn sớm (≤72h sau sinh) tại Bv Phụ sản TW từ 
tháng 1-tháng 4/2016.
Kết quả: So với trẻ đủ tháng sinh thường, trẻ sinh mổ có tỷ lệ trẻ mắc 
NKSSS cao hơn; Tỷ lệ NKSSS là cao nhất ở tuổi thai ≥ 37 – 38 tuần 
(50%); Tỷ lệ mắc NKSSS cao hơn ở nhóm chỉ định mổ lấy thai chủ động 
(70%) so với nhóm chỉ định mổ lấy thai do bệnh lý mẹ hoặc thai có nguy 
cơ (30%); 67,4% trẻ mắc NKSSS có dấu hiệu lâm sàng là suy hô hấp; 
59,6% các trường hợp NKSSS xuất hiện triệu chứng trong vòng 12 giờ 
đầu sau đẻ; Cấy máu vẫn là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán NKSS nhưng 
tỷ lệ (+) thấp (3/47ca); Yếu tố nguy cơ hay gặp là nhiễm khuẩn tiết niệu, 
nhiễm khuẩn sinh dục của mẹ trong tháng cuối của thai kỳ và thai chậm 
phất triển trong tử cung; Cần thực hiện tốt tư vấn khám thai, kiểm tra theo 
dõi xét nghiệm đặc biệt là xét nghiệm nước tiểu, thực hiện khám trong cho 
sản phụ để phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn sinh dục mẹ kịp thời, tránh 
lây truyền từ mẹ sang thai.
Từ khóa: nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, đủ tháng, sinh mổ, cấy máu.
Abstract 
EARLY ONSET SEPSIS IN TERM NEWBORNS 
IN CESAREAN SECTION AT THE NATIONAL 
HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNEACOLOGY
Objective: 1/ Describe the clinical, subclinical characteristics of full-
term newborn in C- section with early onset neonatal sepsis. 2/ Learn 
some of the risk factors related to full-term newborn in C- section with 
early onset neonatal sepsis.
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Diệu Linh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Nhiễm khuẩn sơ sinh 
sớm, đủ tháng, sinh mổ, cấy 
máu. 
Keywords: Early onset neonatal 
sepsis (EONS), full-term, blood 
culture, C- Section. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 120 - 124 2016
121
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1/ Mô tả một số dấu hiệu lâm sàng, cận lâm 
sàng của trẻ sơ sinh đủ tháng sinh mổ mắc NKSSS
2/ Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan tới 
trẻ sơ sinh đủ tháng sinh mổ mắc NKSSS
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả trẻ sơ sinh ≥ 37 tuần 
sinh mổ tại Bệnh viện PSTƯ có dấu hiệu lâm sàng 
nghi ngờ nhiễm khuẩn trong 3 ngày đầu sau sinh.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ < 37 tuần, sinh thường, 
sinh mổ có dấu hiệu NK sau 3 ngày,trẻ có dị tật 
bẩm sinh 
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả
- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu thuận tiện
- Các biến số
+ Giới tính, tuổi thai lúc đẻ, , tiền sử sản khoa, 
thời gian xuất hiện bệnh.
+ Triệu chứng lâm sàng
+ Triệu chứng cận lâm sàng
- Xử lý số liệu
- Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án chung
- Xử lý số liệu: Phương pháp thống kê y học
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của nhóm 
nghiên cứu
Trong thời gian đầu năm 2016 chúng tôi 
thu thập được 69 trường hợp trẻ đủ tháng mắc 
1. Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (NKSSS) là một bệnh 
lý thường gặp và là nguyên nhân quan trọng gây tử 
vong ở trẻ sơ sinh [1]. Theo ước tính của Tổ chức Y 
tế thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 
5 triệu trẻ sơ sinh tử vong và 98% trong số này là ở 
các nước đang phát triển. Có 3 nguyên nhân chính 
gây tử vong ở trẻ sơ sinh là nhiễm khuẩn, sang chấn 
khi sinh và đẻ non trong đó nhiễm khuẩn là nguyên 
nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 32%, ngạt và các sang 
chấn khi sinh là 29%, tử vong do đẻ non là 24% [2]. 
NKSSS là tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 
72 giờ đầu sau đẻ và thường liên quan tới nhiễm 
khuẩn của mẹ [3]. Với đặc thù là bệnh viện đầu 
ngành về sản phụ khoa- sơ sinh, tiếp nhận nhiều 
trường hợp đẻ khó nên tỷ lệ mổ đẻ ở bệnh viện tăng 
dần theo các năm. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh 
Hà năm 2003 về NKSSS ở trẻ sơ sinh nói chung 
cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh đủ tháng mắc NKSS sớm 
là 58,89%, trong đó tỷ lệ trẻ sinh mổ bị mắc NKSSS 
là 50,92% [4]. Theo Trần Diệu Linh trong nghiên 
cứu về NKSSS ở trẻ đủ tháng tại Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương trong 2 năm 2013- 2014 cho thấy tỷ lệ 
trẻ sinh mổ mắc NKSSS là 71,2% [5]. Những tháng 
cuối năm 2015 đầu năm 2016, chúng tôi nhận thấy 
nhiều trẻ mắc NKSSS trong số trẻ mổ đẻ chủ động 
(do những bà mẹ bị mổ cũ, tiền sử nhiễm khuẩn của 
mẹ không có hoặc không rõ), để làm rõ hơn vấn đề 
này chúng tôi tiến hành làm đề tài “Nhiễm khuẩn sơ 
sinh sớm ở trẻ đủ tháng sinh mổ tại Bệnh viện Phụ 
Sản Trung ương” nhằm mục tiêu:
Methods: The study was a prospective and series description from from a few months up to April 2016. 
Results: The rate of full-term newborn in C- section with early onset neonatal sepsis (EONS) are 
higher than the normal delivery (1,92% vs 0,8%); 50% full-term newborn with EONS are at 37-38 
GA; The morbidity of EONS in elective C-section is higher than C- section due to illness(70 % vs 
30%; 67.4% of full-term newborn with EONS have symptoms of respiratory failure; 59.6% of cases 
have the clinical signs at the first 12 hours after birth; Blood culture is still gold standard for diagnosis 
EONS but low of the rate of positive (3/47); Common risk factors for EONS is urinary tract infections 
and genital infection of the mother during the last month of pregnancy and fetal growth retardation; 
Need to implement antenatal counseling, monitoring of the test laboratory, especially urine tests, 
carried out examinations for pregnant women in order to detect and treat infections promptly to avoid 
vertical transmission of infection. 
Keywords: Early onset neonatal sepsis (EONS), full-term, blood culture, C- Section.
TRẦN DIỆU LINH, VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN THU YẾN
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
122
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
NKSSS vào điều trị tại Trung tâm Sơ sinh, trong 
đó sinh mổ bị mắc NKSSS là 52 trường hợp trong 
tổng số 2707 ca sinh mổ - chiếm tỷ lệ 1,92%, 17 
trường hợp là sinh thường trong tổng số 2600 ca 
sinh thường- chiếm tỷ lệ 0,6%.
3.1.1. Giới tính
Tỷ lệ trẻ trai mắc NKSS sớm là 65,4% 
3.1.2. Tuổi thai
Tỷ lệ trẻ mắc NKSS sớm chủ yếu có tuổi thai 
37 – 38 tuần. 
3.1.3. Lý do sinh mổ
Tỷ lệ NKSSS ở trẻ sinh mổ chủ động chiếm 
đa số > 70%. 
3.2. Đặc điểm lâm sàng
3.2.1. Các dấu hiệu lâm sàng NKSS sớm
67,4 % trẻ NKSSS có dấu hiệu suy hô hấp
3.2.2. Thời gian xuất hiện dấu hiệu lâm sàng
59,6 % (31 ca) xuất hiện triệu chứng của nhiễm 
khuẩn < 12 giờ sau đẻ, trong đó có 18 ca có biểu 
hiện lâm sàng ngay sau đẻ.
Giới Số ca Tỷ lệ (%)
Trai 34 65,4
Gái 18 34,6
Tổng 51 100
Bảng 1. Đặc điểm giới tính
Dấu hiệu Số ca Tỷ lệ (%)
Hô hấp 35 67,4
Tuần hoàn 4 7,6
Vàng da sớm 4 7,6
Sốt 3 5,8
Tiêu hóa 2 3,8
Xuất huyết 1 1,9
Co giật 1 1,9
Tổng 52 100
Bảng 4. Dấu hiệu lâm sàng
Thời gian Số ca Tỷ lệ (%)
< 12 giờ 31 59,6
12- 24 giờ 7 13,5
> 24 giờ 14 26,9
Tổng 52 100
Bảng 5. Thời gian xuất hiện dấu hiệu lâm sàng
Tuổi thai Số ca Tỷ lệ (%)
≥ 37 – 38 tuần 26 50
> 38 – 39 tuần 19 36,5
> 39 tuần 7 13,5
Tổng 52 100
Bảng 2. Đặc điểm tuổi thai
Lý do mổ đẻ Số ca Tỷ lệ (%)
Mổ cũ, chủ động, thai to 37 71,1
Thai suy 9 17,5
Thai SDD 4 7,6
Bệnh mẹ (ĐTĐ, NK..) 2 3,8
Tổng 52 100
Bảng 3. Lý do sinh mổ
3.2.3 . Xét nghiệm sinh học
Các xét nghiệm sinh học chẩn đoán nhiễm 
khuẩn chủ yếu là tăng PCT và biến đổi CTBC 
3.2.4. Xét nghiệm vi khuẩn
Trong 52 trường hợp NKSSS này, chúng tôi 
cấy máu được 47 trường hợp, trong đó có 3 trường 
hợp cấy máu dương tính, chiếm tỷ lệ 6,4%.
3.3. Yếu tố nguy cơ
Trong số 52 trẻ NKSSS có 8 trẻ(15,4%) không 
tìm thấy yếu tố nguy cơ, 15 trẻ (28,8%) có 1 yếu tố 
nguy cơ, 17 trẻ (32,7%) có 2 yếu tố nguy cơ, 12 trẻ 
(23,1%) có ≥ 3 yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn. Trong 
3 trẻ cấy máu dương tính, có 2 trẻ có 3 yếu tố nguy 
cơ nhiễm khuẩn.
Mẹ nhiễm khuẩn tiết niệu (42,3%), nhiễm khuẩn 
sinh dục (21,1%) và thai chậm phát triển trong tử 
cung (13,4%) là yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ cao 
trong nghiên cứu.
Hình 1. Kết quả xét nghiệm
Stt Cân nặng, tuổi thai Vi khuẩn Yếu tố nguy cơ Dấu hiệu lâm sàng
1 2200g – 37 tuần
Enterobacter 
cloacae complex
- Thai CPTTTC
- Ối xanh bẩn
- BC/máu mẹ > 15000/mm3
-Tím tái sau đẻ 
24 giờ
- Vàng da sớm
2 3100g – 39 tuần
Cupriavidus 
panculus - BC niệu (+++)
- Suy hô hấp sau 
đẻ 10’
3 3600g – 40 tuần
Enterobacter 
Faecalis
- Thời gian chuyển dạ 33 giờ
- BC niệu (++)
- Thăm khám ÂĐ 16 lần
 Tím tái sau đẻ 7 giờ
Bảng 6. Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn sơ sinh sớm
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 120 - 124 2016
123
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Yếu tố nguy cơ Số ca Tỷ lệ
Mẹ sốt 2 3,8
Thời gian vỡ ối > 12 giờ 3 5,8
OVN, OVS 5 9,6
Mẹ NK TN 1 tháng trước đẻ 22 42,3
Mẹ NK SD 1 tháng trước đẻ 11 21,1
BC/máu mẹ tăng > 15.000/mm3 2 3,8
CRP mẹ (+) 3 5,8
Suy thai 5 9,6
Ối xanh bẩn 2 3,8
Thai CPTTTC 7 13,4
Khám ÂĐ > 4 lần 2 3,8
Apgar < 7 điểm phút thứ 5 2 3,8
Không rõ yếu tố nguy cơ 8 15,3
Bảng 7. Phân bố các yếu tố nguy cơ ở các trẻ NKSSS
4. Bàn luận
4.1. Tỷ lệ mắc 
Tỷ lệ trẻ đủ tháng sinh mổ mắc NKSSS là 
1,92%, cao hơn so với trẻ đủ tháng sinh thường 
mắc NKSSS chỉ là 0,6%
4.2. Đặc điểm chung
- Tỷ lệ trẻ trai mắc NKSS sớm là 65.4% , cao hơn 
so với trẻ gái 34,6%, tỷ lệ này cũng tương tự với các 
nghiên cứu của Phạm thị Xuân Tú (70,3% so với 29,7%) 
[6], của Phạm Tuấn Ngọc (62,3% so với 37,7%) [7], 
của Nguyễn Thanh Hà (60,7% so với 39,3%) [4]. 
- Tỷ lệ trẻ mắc NKSSS chủ yếu có tuổi thai 37 – 
38 tuần. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước 
về NKSSS thực hiện trên quần thể trẻ sơ sinh nói 
chung hoặc tập trung vào trẻ sinh non tháng nên 
chúng tôi không có số liệu so sánh. Vấn đề tuổi thai 
này có khả năng liên quan tới chỉ định mổ lấy thai.
- Lý do mổ đẻ liên quan tới bệnh lý mẹ hoặc thai 
có nguy cơ gây NKSSS là xấp xỉ 30%, trong khi đó lý 
do mổ đẻ có tính chủ động chiếm đa số > 70%. Sinh 
mổ bên cạnh một số lợi ích cho trẻ còn có nhiều bất 
lợi khác đặc biệt trẻ dễ bị suy hô hấp và khả năng 
miễn dịch của trẻ kém. Khả năng miễn dịch với bệnh 
của trẻ sinh mổ thường kém hơn so với những trẻ được 
sinh ra bằng phương pháp sinh thường vì trẻ không 
có nhiều cơ hội để tiếp xúc với vi khuẩn có lợi trên cơ 
thể mẹ qua tiếp xúc đường sinh dục của mẹ, tiếp xúc 
da kề da ngay với mẹ trong kỹ thuật chăm sóc trẻ sơ 
sinh sớm ngay sau đẻ. Tuy nhiên để có kết luận liên 
quan giữa NKSSS với phương pháp sinh mổ cần có 
nghiên cứu sâu hơn 
4.3. Đặc điểm lâm sàng
- Thời gian xuất hiện dấu hiệu lâm sàng: NKSSS 
phần lớn có nguồn gốc từ mẹ sang thai. Quá trình 
nhiễm khuẩn thường xảy ra trước đẻ. Kết quả của 
chúng tôi cho thấy 59,6 % (31 ca) xuất hiện triệu 
chứng của nhiễm khuẩn < 12 giờ sau đẻ, trong đó có 
18 ca có biểu hiện lâm sàng ngay sau đẻ. Kết quả này 
tương đương của Phan Thị Huệ [9] là 65,4% trẻ mắc 
NKSSS xuất hiện triệu chứng đầu tiên trong vòng 12 
giờ đầu sau đẻ. 2 trong 3 trường hợp cấy máu dương 
tính có biểu hiện lâm sàng < 12 giờ đầu sau đẻ.
- Số ca xuất hiện dấu hiệu về hô hấp chiếm ưu 
thế (67,4%) , kết quả này tương tự với Nguyễn Tuấn 
Ngọc (98,0%) [7] , Phan Thị Huệ (69,2%) [9] và Trần 
Diệu Linh (73,3%) [5]. Mổ lấy thai đặc biệt là mổ chủ 
động làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh lý về hô hấp sau 
đẻ như chậm hấp thu dịch phế nang tăng, cơn thở 
nhanh thoáng qua [8]. Trẻ sau mổ đẻ mặc dù điểm 
Apgar tốt nhưng khi vào trung tâm Sơ sinh hơn 2/3 số 
ca sinh mổ mắc NKSSS có dấu hiệu lâm sàng là biểu 
hiện về hô hấp như da tím, thở rên, co rút cơ hô hấp 
.., hầu hết được chẩn đoán ban đầu là theo dõi chậm 
tiêu dịch phổi, trẻ được theo dõi sát và chúng tôi nhận 
thấy rất nhiều ca trẻ suy hô hấp tăng dần mặc dù XQ 
phổi sáng nhưng các xét nghiệm máu như CTBC, 
CRP, PCT cho thấy trẻ suy hô hấp do mắc NKSSS. Cả 
3 trường hợp cấy máu dương tính đều có biểu hiện 
bệnh lý về hô hấp.
- Các xét nghiệm chẩn đoán nhiễm khuẩn: PCT 
tăng cao gặp trong 31 trường hợp,biến đổi CTBC ( 
tăng hoặc giảm BC) gặp trong 31 trường hợp, CRP 
chỉ tăng trong 9 trường hợp. Về biến đổi CTBC, kết 
quả cũng tương tư như kêt quả của Trần Diệu Linh 
[5] trong NC về NKSSS trẻ đủ tháng năm 2013-
2014 là 55.5 % các trường hợp NKSS sớm có số 
lượng BC tăng, nghiên cứu của Phan Thị Huệ [9] lại 
cho thấy kết quả xét nghiệm CTBC ở giới hạn bình 
thường, có thể do khác nhau về đối tượng nghiên 
cứu, về thời điểm lấy xét nghiệm vì chúng tôi có 
khoảng 1/3 số ca làm xét nghiệm lần 2 cách lần 
1 sau 6-12 giờ mới thấy biểu hiện biến đối CTBC. 
Xét nghiệm CRP trong những giờ đầu sau sinh hầu 
như không thấy tăng, trong 9 ca CRP tăng thì 5 ca 
phải làm lần 2 mới có kết quả dương tính. PCT là xét 
nghiệm chẩn đoán NKSSS rất có giá trị vì ít bị ảnh 
hưởng của các yếu tố khác [10,11].
4.4. Vi khuẩn gây bệnh
- Tỷ lệ cấy máu (+) là 6,4% , tỷ lệ này tương 
đương với kết quả của Phan Thị Huệ là 5,8% [9], 
TRẦN DIỆU LINH, VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN THU YẾN
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
124
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
thấp hơn kết quả của Nguyễn Thanh Hà 2003 [4] 
tại Bệnh viện PSTƯ .
- Vi khuẩn hay gặp là Gram âm, kết quả này 
cũng tương tự nghiên cứu của Phan thị Huệ [9] là 
E.Coli và của Nguyễn Thanh Hà [4] vi khuẩn gây 
bệnh chủ yếu là Gram âm. Còn theo nghiên cứu 
của Trần Diệu Linh năm 2013 – 2014 vi khuẩn 
gây NKSSS chủ yếu là Liên cầu B (37%)[5]. 
4.5. Yếu tố nguy cơ
- Trẻ NKSSS có 1 hoặc 2 yếu tố nguy cơ chiếm 
51,5%, tỷ lệ trẻ có ≥ 3 yếu tố nguy cơ chiếm 23,1%. 
Tuy nhiên vẫn có 8/52 (15,4%) trẻ NKSSS không tìm 
thấy yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn. Điều này cho thấy ở 
trẻ sơ sinh dù có một hay nhiều yếu tố nguy cơ, ngay 
cả khi không tìm thấy yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn nào 
cũng phải được theo dõi cẩn thận để phát hiện kịp thời 
NKSSS, đặc biệt những trẻ có yếu tố nguy cơ cao.
- Mẹ mắc nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn sinh 
dục là yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ cao trong nghiên 
cứu. Theo phân loại về yếu tố nguy cơ, nhiễm khuẩn 
tiết niệu hoặc nhiễm khuẩn sinh dục của mẹ trong 
vòng 1 tháng trước đẻ thuộc nhóm yếu tố nguy cơ cao 
gây NKSSS [12]. Theo nghiên cứu của Nasrin Khalesi 
và cs tại bệnh viện Ali-e-Asghar ở Tehran của Iran 
vào năm 2011 cho thấy nhiễm khuẩn tiết niệu của bà 
mẹ mang thai là yếu tố nguy cơ gây NKSS sớm ở trẻ 
đủ tháng với tỷ lệ từ 0.1 – 1% và là một biến chứng 
gây tử vong chu sinh, trẻ sơ sinh của những bà mẹ bị 
nhiễm khuẩn tiết niệu có nguy cơ mắc NKSS sớm gấp 
5-9 lần so với trẻ mẹ không bị nhiễm khuẩn tiết niệu 
[13]. Chúng tôi thấy rất nhiều trường hợp kết quả xét 
nghiệm nước tiểu của mẹ BC (+++) , HC (++) nhưng 
sản phụ không được tư vấn và điều trị. Nhiều sản phụ 
viêm nhiễm phụ khoa tự mua thuốc đặt hoặc thuốc 
rửa âm đạo không có sự theo dõi của nhân viên y tế.
- Trong 3 trường hợp nhiễm khuẩn có kết quả 
cấy máu dương tính, 2 trường hợp yếu tố nguy cơ 
mẹ là nhiễm khuẩn tiết niệu, 1 trường hợp là thai 
chậm phát triển trong tử cung
5. Kết luận
- So với sinh thường, sinh mổ có tỷ lệ trẻ mắc 
NKSSS cao hơn
- Tỷ lệ NKSSS là cao nhất ở tuổi thai ≥ 37 – 38 
tuần (50%)
- Tỷ lệ mắc NKSSS cao hơn ở nhóm chỉ định mổ 
lấy thai chủ động (70%)so với nhóm chỉ định mổ lấy 
thai do bệnh lý mẹ hoặc thai có nguy cơ (30% ).
- 67,4% trẻ mắc NKSSS có dấu hiệu lâm sàng 
là suy hô hấp.
- 59,6% các trường hợp NKSSS xuất hiện triệu 
chứng trong vòng 12 giờ đầu sau đẻ
- Cấy máu vẫn là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán 
NKSS nhưng tỷ lệ (+) thấp (3/47ca)
- Yếu tố nguy cơ hay gặp là nhiễm khuẩn tiết niệu, 
nhiễm khuẩn sinh dục của mẹ trong tháng cuối của 
thai kỳ và thai chậm phát triển trong tử cung. 
6. Kiến nghị
Cần thực hiện tốt tư vấn khám thai, kiểm tra theo 
dõi xét nghiệm đặc biệt là xét nghiệm nước tiểu, 
thực hiện khám trong cho sản phụ để phát hiện và 
điều trị nhiễm khuẩn sinh dục kịp thời tránh lây 
truyền nhiễm khuẩn từ mẹ sang thai.
Tài liệu tham khảo
1. Trần Đình Long, Phạm Thị Xuân Tú. Nhiễm khuẩn sơ sinh. Bài giảng Nhi 
khoa. 2009. NXB Y học, tập 1: 178-189.
2. S Vergnano, M Sharland, P Kazembe, C Mwansambo, P T Heath. Neonatal 
sepsis: an international perspective. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005; 
90:F220–F224.
3. Youn-Jeong Shin, Moran Ki, and Betsy Foxman. Epidemiology of neonatal 
sepsis in South Korea, 2009; Pediatr Int. 51(2): 225–232.
4. Nguyễn Thanh Hà, Trần Đình Long .Nghiên cứu lâm sàng nhiễm khuẩn 
sơ sinh sớm và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 
Nhi khoa 2006, 14, tr.42-47.
5. Trần Diệu Linh. Một số nhận xét về tình hình nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở 
trẻ đủ tháng tại trung tâm Chăm sóc và Điều trị Sơ sinh Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương.Tạp chí Phụ sản 2015, tập 13(02), tr 118-121.
6. Phạm Thị Xuân Tú, Phạm Văn Hùng . Đặc điểm lâm sàng, sinh học của 
nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh, Nhi khoa, 10,2001, tr.86-89.
7. Nguyễn Tuấn Ngọc. Nghiên cứu đặc điểm nhiễm khuẩn sơ sinh tại khoa 
Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Y học, 
2009. Trường Đại học Y Dược Đại học Thái Nguyên.
8. Nguy cơ và lợi ích mổ lấy thai . www.tudu.com.vn/attachment.aspx.
9. Phan Thị Huệ . Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của Il-6 
và CRP trong chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, Luận văn Thạc sĩ Y 
học,2005. Trường Đại học Y Hà Nội.
10. H. Altunhan, A. Annagu, R. Ors , I. Mehmetog. Procalcitonin measurement 
at 24 hours of age may be helpful in the prompt diagnosis of early-onset neonatal 
sepsis. International Journal of Infectious Diseases 15 (2011) e854–e858. 
11. Agnieszka Kordek, Stefania Giedrys-Kalemba, Beata Pawlus, Wojciech 
Podraza, Ryszard Czajka. Umbilical Cord Blood Serum Procalcitonin 
Concentration in the Diagnosis of Early Neonatal Infection. Journal of 
Perinatology 2003; 23:148–153. 
12. Jana AK, Sridhar.S. Clinical diagnosis of sepsis. Journal of Neonatology 
2009; 23(1):44-47.
13. Nasrin Khalesi, Nastaran Khosravi, Ali Jalali, Leila Amini. Evaluation 
of Maternal Urinary Tract Infection as a Potential Risk Factor for Neonatal 
Urinary Tract Infection; Journal of Family and Reproductive Health, Vol. 8, 
No. 2, June 2014: 59-62.

File đính kèm:

  • pdfnhiem_khuan_so_sinh_som_o_tre_du_thang_sinh_mo_tai_benh_vien.pdf