Nhận xét về tình hình chẩn đoán và xử trí ở thai phụ có dị dạng tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: nhận xét về chẩn đoán và thái độ xử trí với thai phụ có tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại bệnh viện Phụ sản Trung ương. phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả.

Kết quả: có 43 thai phụ tử cung đôi /125000 trường hợp đẻ, tỷ lệ 1/3000. 81,4% thai phụ được chẩn đoán trước sinh. Dị tật chủ yếu là 2 tử cung với 2 CTC và 1 âm đạo có vách ngăn dọc chiếm 25,6%. 2 tử cung với 1 CTC và 1 âm đạo chiếm 39,5%. Có 17,1% trường hợp được nội soi chẩn đoán trước vì vô sinh. 34,3% chỉ được chẩn đoán khi đã có thai bằng siêu âm. Bệnh nhân TC đôi có tỷ lệ sảy thai, thai lưu: 48,8%, sảy thai liên tiếp 16,3%, đẻ non 13,9%, vô sinh 16,3%. Tỷ lệ đẻ non dưới 37 tuần là 27,8%. 42/ 43 trường hợp là ngôi dọc trong đó có 32,5% là ngôi ngược và 97,6% được mổ đẻ. Tuy nhiên có 67,4 % trẻ sinh ra trọng lượng >2500g và 97,6% trẻ khỏe mạnh.

Kết luận: Dị tật tử cung đôi có thể được chẩn đoán sớm dựa vào tiền sử, thăm khám lâm sàng kết hợp siêu âm để có thái độ xử trí tích cực đối với thai phụ giúp làm giảm nguy cơ đẻ non, tăng khả năng sống của trẻ

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét về tình hình chẩn đoán và xử trí ở thai phụ có dị dạng tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét về tình hình chẩn đoán và xử trí ở thai phụ có dị dạng tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nhận xét về tình hình chẩn đoán và xử trí ở thai phụ có dị dạng tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
nguyễn Thị Thủy, nguyễn QuốC Tuấn, ngô Minh ThắngSẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
34
NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ
Ở THAI PHỤ CÓ DỊ DẠNG TỬ CUNG ĐÔI TỪ TUỔI THAI 22 
TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
nguyễn Thị Thủy(1), nguyễn Quốc Tuấn(2), ngô Minh Thắng(1)
(1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
tóm tắt
mục tiêu: nhận xét về chẩn đoán và thái độ xử trí với 
thai phụ có tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại bệnh viện 
Phụ sản Trung ương. phương pháp nghiên cứu: Hồi 
cứu mô tả. Kết quả: có 43 thai phụ tử cung đôi /125000 
trường hợp đẻ, tỷ lệ 1/3000. 81,4% thai phụ được chẩn 
đoán trước sinh. Dị tật chủ yếu là 2 tử cung với 2 CTC và 
1 âm đạo có vách ngăn dọc chiếm 25,6%. 2 tử cung với 
1 CTC và 1 âm đạo chiếm 39,5%. Có 17,1% trường hợp 
được nội soi chẩn đoán trước vì vô sinh. 34,3% chỉ được 
chẩn đoán khi đã có thai bằng siêu âm. Bệnh nhân TC đôi 
có tỷ lệ sảy thai, thai lưu: 48,8%, sảy thai liên tiếp 16,3%, 
đẻ non 13,9%, vô sinh 16,3%. Tỷ lệ đẻ non dưới 37 tuần là 
27,8%. 42/ 43 trường hợp là ngôi dọc trong đó có 32,5% là 
ngôi ngược và 97,6% được mổ đẻ. Tuy nhiên có 67,4 % trẻ 
sinh ra trọng lượng >2500g và 97,6% trẻ khỏe mạnh. Kết 
luận: Dị tật tử cung đôi có thể được chẩn đoán sớm dựa 
vào tiền sử, thăm khám lâm sàng kết hợp siêu âm để có 
thái độ xử trí tích cực đối với thai phụ giúp làm giảm nguy 
cơ đẻ non, tăng khả năng sống của trẻ
ABStRACt
research on diagnosis and managemenT on 
The Pregnancy WiTh uTerus didelPhys From 22 
WeeKs gesTaTion aT The naTional oF obsTerTric 
and gynecology hosPiTal
Objectives: Research about diagnosis and 
management on the pregnancy with uterus didelphys 
from 22 weeks gestation at the National Hospital of 
OB/GYN. methods: retrospective study. Results: 43 
didelphys/125.000 births (1/3000). 81.4% case was 
diagnosis prenatal. Uterus didelphys with double cervix 
and double vagina: 25.6%. Which with only one cervix 
and one vagina: 39.5%. 17.1% cases were diagnosed by 
endoscopy infertility. 34.2% diagnosed during pregnancy 
by ultrasonography. Pregnancy losses rate in history was 
48.8%. Continuous miscarriage rate was 16.3%, preterm 
delivery history was 13.9%, infertile rate was 16.3%. 
Preterm delivery under 37 weeks was 27.8%. 42/43 cases 
with vertical presentation and 32.5% breech presentation. 
97.6% cesarean section. 67.4% newborn weigh >2500g 
and 97.6% healthy. Conclusion: Didelphys uterine is able 
to be diagnosed early base on history, clinical examination 
and ultrasound in order to active management to the 
patient, reduce preterm birth rate and increase survives 
ability of the newborn. Cesarean section is the first choice.
Keywords: Didelphys uterine, diagnosis, 
malformation, gestation.
1.Đặt vấn Đề 
Tử cung đôi là tình trạng bất thường về giải phẫu 
tại tử cung do không có sự hợp nhất của ống Muller 
từ trong quá trình hình thành bào thai, dẫn đến hai tử 
cung cùng tồn tại song song bên cạnh nhau, nguyên 
nhân chưa biết rõ, nhưng hậu quả thì dẫn đến hình 
thái chung hay gặp nhất là hai thân tử cung riêng biệt 
hai cổ tử cung, mỗi tử cung chỉ có một vòi tử cung và 
một buồng trứng, và thường đi kèm với bất thường 
về âm đạo đó là vách ngăn dọc tạo thành 2 hai âm 
đạo hoặc đôi khi ít gặp hơn đó là cùng chung nhau 
một âm đạo. Trong một số ít trường hợp tử cung đôi 
người ta thấy bên cạnh một tử cung đơn phát triển 
bình thường là một tử cung chột, kém phát triển, cổ 
tử cung đôi khi không quan sát thấy qua đường âm 
đạo, thay vào đó là một lỗ chấm nhỏ đổ vào âm đạo 
hoặc bám vào một bên tử cung đôi bình thường, do 
không thoát được máu kinh nên thường tạo thành 
khối máu tụ (hematomcolpost). Tử cung đôi chiếm tỷ 
lệ ít trong các loại bất thường về tử cung như tử cung 
có vách ngăn, tử cung hai sừng, tỷ lệ này khoảng 0,1-
0,2% tại Mỹ, và nhìn chung là 1/3000 phụ nữ. Tử cung 
đôi là một trong những nguyên nhân gây vô sinh, 
hoặc nếu có thai thì cũng dễ dẫn đến sẩy thai, thai 
chết lưu hoặc muộn hơn là gây đẻ non (21%), ngôi 
thai bất thường mà thường là ngôi ngược (43%), tỷ lệ 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
35
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 34 - 38, 2013
mổ lấy thai cũng rất cao (82%). Do vậy thái độ xử trí 
của các nhà sản khoa là rất có ý nghĩa trong việc quản 
lý thai cũng như khi chuyển dạ để bảo đảm thai sống 
được khi ra ngoài. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu nhằm mục đich : “Nhận xét tình hình 
chẩn đoán và thái độ xử trí đối với những thai phụ có 
dị dạng tử cung đôi có tuổi thai từ 22 tuần tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương từ năm 2008 đến 2012.”
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu 
2.1. Đối Tượng: 
- Các thai phụ có tuổi thai trên 22 tuần được chẩn 
đoán xác định là tử cung đôi trước, trong hoặc sau khi có 
thai, đẻ tại BV Phụ sản Trung ương từ năm 2008 đến 2012.
2.2. Phương PháP nghiên cứu:
Phương pháp hồi cứu mô tả với cỡ mẫu là tất cả số 
thai phụ đạt tiêu chuẩn có đầy đủ hồ sơ bệnh án và 
các thông tin cần thiết trong thời gian từ 2008-2012. 
2.3. Tiêu chuẩn của Tử cung Đôi Trong các loại 
bấT Thường về Tử cung, cổ Tử cung và âm Đạo:
1- Tử cung có vách ngăn một phần với 1 cổ tử cung
2- Tử cung có vách ngăn toàn bộ
3- Tử cung có vách ngăn dọc toàn bộ với 2 cổ tử 
cung và 2 âm đạo: Loại này gần giống với tử cung đôi.
4- Hai Tử cung với 2 cổ tử cung và 2 âm đạo (tử 
cung đôi)
5- Tử cung hai sừng với một cổ tử cung
6- Tử cung hai sừng với vách ngăn 2 cổ tử cung và 
một âm đạo
7- Tử cung hai sừng trong đó một sừng tit và 
không kết nối với bên kia
8- Tử cung một sừng
9- Tử cung đôi nhưng không có âm đạo
10- Tử cung chung vách nhưng có 2 cổ tử cung và 
2 âm đạo 
11- Tử cung hai sừng chung vách giữa nhưng 2 cổ tử 
cung với 1 âm đạo thông bình thường và 1 âm đạo tịt
12- Tử cung hai sừng chung vách giữa có 2 cổ tử 
cung với 2 âm đạo
13- Tử cung hai sừng chung vách giữa có 2 cổ tử 
cung và 1 âm đạo
14- Tử cung mất đoạn cổ tử cung 
Trong nghiên cứu này chỉ chọn những thai phụ có 
dị dạng tử cung đôi tức thuộc nhóm 3 và 4 vì nhóm 
9 cũng là tử cung đôi nhưng không có âm đạo nên 
không thể có thai được.
3. Kết quả nghiên Cứu:
Trong 5 năm (từ 1/2008 đến 12/2012) có 43 thai 
phụ được chẩn đoán tử cung đôi với tuổi thai từ 22 
tuần vào đẻ tại BVPSTW. 
Tỷ lệ tử cung đôi là: 43/125.000 tổng số đẻ 5 năm 
tương đương tỷ lệ 1/3000
3.1. Tiền sử Thai nghén:
Biểu đồ 1. Tiền sử thai nghén
3.2. Đặc Điểm Thai nghén hiện Tại
Bảng 1. Đặc điểm thai nghén hiện tại
3.3. Khám và quản lý Thai nghén Trong chẩn 
Đoán Tử cung Đôi Trước sinh
- Các thai phụ có tuổi thai trên 22 tuần được chẩn đoán xác định là tử cung đôi 
trước, trong hoặc sau khi có thai, đẻ tại BV Phụ sản Trung ương từ năm 2008 đến 
2012. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
Phương pháp hồi cứu mô tả với cỡ mẫu là tất cả số thai phụ đạt tiêu chuẩn có 
đầy đủ hồ sơ bệnh án và các thông tin cần thiết trong thời gian từ 2008-2012. 
2.3. Tiêu chuẩn của tử cung đôi trong các loại bất thường về tử cung, cổ tử cung 
và âm đạo: 
1- Tử cung có vách ngăn một phần với 1 cổ tử cung 
2- Tử cung có vách ngăn toàn bộ 
3- Tử cung có vách ngăn dọc toàn bộ với 2 cổ tử cung và 2 âm đạo: Loại này 
gần giống với tử cung đôi. 
4- Hai Tử cung với 2 cổ tử cung và 2 âm đạo (tử cung đôi) 
5- Tử cung hai sừng với một cổ tử cung 
6- Tử cung hai sừng với vách găn 2 cổ tử cung và một âm đạo 
7- Tử cung hai sừng trong đó một sừng tit và không kết nối với bên kia 
8- Tử cung một sừng 
9- Tử cung đôi nhưng không có âm đạo 
10- Tử cung chung vách nhưng có 2 cổ tử cung và 2 âm đạo 
11- Tử cung hai sừng chung vách giữa nhưng 2 cổ tử cung với 1 âm đạo thông 
bình thường và 1 âm đạo tịt 
12- Tử cung hai sừng chung vách giữa có 2 cổ tử cung với 2 âm đạo 
13- Tử cung hai sừng chung vách giữa có 2 cổ tử cung và 1 â đạo 
14- Tử cung mất đoạn cổ tử cung 
Trong nghiên cứu này chỉ chọn những thai phụ có dị dạng tử cung đôi tức thuộc 
nhóm 3 và 4 vì nhóm 9 cũng là tử cung đôi nhưng không có âm đạo nên không thể 
có thai được. 
3. Kết quả ng iê cứu: 
Trong 5 năm (từ 1/2008 đến 12/2012) có 43 thai phụ được chẩn đoán tử cung 
đôi với tuổi thai từ 22 tuần vào đẻ tại BVPSTW. 
Tỷ lệ tử cung đôi là: 43/125.000 tổng số đẻ 5 năm tương đương tỷ lệ 1/3000 
3.1. Tiền sử thai nghén: 
Biểu đồ 1. Tiền sử thai nghén 
Đặc điểm n %
Tuổi thai
22-34 tuần 7 16,2
35 ≤ tuổi thai <37 tuần 5 11,6
≥37 tuần 31 72,2
ngôi thai
Đầu 28 65,1
ngược 14 32,5
ngang 1 2,3
Trọng lượng thai
< 2500g 14 32,5
2500-3000g 16 37,2
> 3000g 13 30,2
Chỉ số apgar sau 5 phút
< 7 điểm 1 2,3
≥ 7 điểm 42 97,7
nguyễn Thị Thủy, nguyễn QuốC Tuấn, ngô Minh ThắngSẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
36
Bảng 2. Mối liên quan giữa khám thai và phát hiện sớm dị dạng tử cung trước sinh
P = 0.046. Việc phát hiện TC đôi trước sinh có sự 
khác biệt giữa nhóm có khám thai và không khám thai. 
3.4. các dấu hiệu chẩn Đoán Tử cung Đôi Trước sinh
Bảng 3. Các yếu tố chẩn đoán TC đôi
3.5. Đặc Điểm Từng loại dị TậT
Bảng 4. Đặc điểm từng loại dị tật 
3.6. các dị TậT KếT hợP:
Bảng 5. Các dị tật kết hợp
Chẩn đoán trước sinh Không chẩn đoán trước sinh Tổng
Khám thai 30 (88,2%) 4 (11,8%) 34 (100%)
Không khám thai 5 (55,6%) 4 (44,4%) 9 (100%)
Tổng 35 (81,4%) 8 (18,6%) 43 (100%)
n %
nội soi vô sinh 6 17,1
Mổ đẻ trước đó 11 31,4
hút thai lưu trước đó 3 8,6
phẫu thuật ổ bụng khác 3 8,6
Chỉ siêu âm thai kỳ 12 34,4
Tổng 35 100
Đặc điểm n %
TC đôi với 2 TC bình thường + hai CTC + Âm đạo có vách ngăn 11 25,6
TC đôi với 2 TC bình thường + 1 CTC + 1 Âm đạo 17 39,5
TC đôi với 1 TC chột + 1 CTC + 1 Âm đạo 3 7,0
Không đánh giá được 12 27,9
Loại dị tật n %
Âm đạo
Âm đạo có vách ngăn dọc 18 41,9
Âm đạo bình thường 17 16,2
Không đánh giá 18 41,9
Cổ tử cung
1 CTC 17 16,2
2 CTC 11 25,6
Không đánh giá 15 34,9
Tử cung
2 tử cung bình thường 25 58,1
2 TC, 1 tử cung nhỏ hơn 3 7,0
2 TC, 1 tử cung chột 3 7,0
Không đánh giá TC còn lại 12 27,9
TC có thai
Bên phải 15 34,9
Bên trái 24 55,8
Không mô tả 4 9,3
Bất thường thận 
kèm theo
Chỉ có 1 thận 1 2,3
2 thận bình thường 3 7,0
Không đánh giá thận 39 90,7
3.7. Thái Độ xử Trí:
Tất cả các trường hợp này đều mổ lấy thai theo 
phương pháp thông thường là rạch ngang đoạn 
dưới tử cung lấy thai. Trong đó mổ lấy thai chủ 
động: 17 (39,5%). Triệt sản: 8 trường hợp, 2 trường 
hợp phải dùng thêm thuốc tăng co, kiểm tra nối 
thông của tử cung còn lại với TC có thai: 5 trường 
hợp, kiểm tra thận ngay trong mổ 3 trường hợp. 1 
trường hợp đẻ thường thai non tháng đẻ nhanh.
3.8. hậu Phẫu
Số ngày hậu phẫu: Trung bình 5,37 ± 1.7 ngày, 
thấp nhất 2 ngày, cao nhất 13 ngày
Sốt sau mổ: 2 bệnh nhân
Không có bệnh nhân nào tai biến chảy máu hay 
phải điều trị them thuốc tăng co tử cung
4. Bàn luận
4.1. Tiền sử Thai nghén nặng nề:
Tỷ lệ tử cung đôi có thai từ 22 tuần trở lên tại 
BV Phụ sản trung ương:1/3000 ca đẻ tương đương 
với một số báo cáo của thế giới [1].
Bất thường tử cung là 1 trong những nguyên 
nhân thường dẫn đến vô sinh ở phụ nữ, chiếm 
khoảng 10% các trường hợp, trong đó tử cung 
dạng hình tim chiếm 57,8%, tiếp theo là tử cung 
có vách ngăn với 18,2%, tử cung hai sừng và một 
cổ tử cung chiếm 10,6%, tử cung hai buồng và 2 
cổ tử cung chiếm 3%, tử cung có vách ngăn toàn 
bộ chiếm 6%, tử cung một sừng và một cổ tử cung 
chiếm 3%, còn lại là tử cung một sừng và 2 âm 
đạo [2]. Mặc dù có một tỷ lệ cao như vậy nhưng 
do các dị dạng này thường không gây ra các triệu 
chứng lâm sàng nghi ngờ nào nếu như người phụ 
nữ đó chưa có nhu cầu có con, trừ một số trường 
hợp dị dạng gây đau do bế máu kinh ở tử cung 
chột. Việc chẩn đoán loại tử cung bất thường chỉ 
được chẩn đoán khi bệnh nhân vô sinh hoặc có 
tiền sử sẩy thai, thai lưu, đẻ non. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi gặp tỷ lệ rất cao bệnh nhân có 
tiền sử thai nghén nặng nề, 48.8% có tiền sử sảy 
thai hoặc thai lưu, 16.3% tiền sử sảy thai liên tiếp, 
13.9% tiền sử đẻ non. Lần có thai này cũng nhiều 
bệnh nhân phải điều trị vô sinh, chiếm 16.3%, giữ 
thai khó khăn (điều trị dọa sảy thai: 13.9%; điều trị 
dọa đẻ non: 18.6%). 
4.2. chẩn Đoán Tử cung Đôi 
Có nhiều kỹ thuật cả xâm nhập và không xâm 
nhập để chẩn đoán dị dạng tử cung. Nhiều tác 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
37
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 34 - 38, 2013
giả cho rằng nội soi ổ bụng kết hợp soi buồng tử 
cung chẩn đoán hầu hết các trường hợp dị tật tử 
cung. Chụp buồng tử cung có thưốc cản quang 
kết hợp với soi ổ bụng sẽ giúp cho việc phân loại 
dị dạng như tử cung đôi, tử cung hai sừng có vách 
ngăn (loại 3 và 4).Với kỹ thuật không xâm nhập 
thì MRI được coi chẩn đoán bất thường vùng tiểu 
khung có độ nhạy đến 100%, đặc hiệu 67%. 
Tuy nhiên chẩn đoán bất thường tử cung 
trong thời kỳ có thai thường dựa vào siêu âm 
2-D và trong một số trường hợp có thể sử dụng 
kỹ thuật 3D. 12 nghiên cứu được công bố trên 
PubMed đánh giá vai trò của kỹ thuật siêu âm 
đầu dò âm đạo 3D chẩn đoán dị dạng tử cung có 
thể chính xác tới 100% [3]. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi số bệnh nhân được chẩn đoán tử cung 
đôi trước sinh khá cao 88,2% liên quan với việc 
khám thai đầy đủ. Các bệnh nhân này được chẩn 
đoán dựa vào tiền sử có phẫu thuật ổ bụng trước 
đó (nội soi vô sinh: 17,1%; mổ đẻ : 31,4%; hút thai 
lưu: 8,6%; phẫu thuật GEU, bóc U xơ tử cung, viêm 
ruột thừa), chỉ dựa vào siêu âm thai kỳ có 34,3% 
phát hiện thai trên bệnh nhân tử cung đôi. 
Điều đó cho thấy rằng thực tế siêu âm là 
phương pháp chẩn đoán nhanh chóng chính xác, 
rẻ tiền chẩn đoán sớm dị dạng tử cung. Đặc biệt 
nếu có siêu âm 3 D. Việc chẩn đoán sẽ chính xác 
hơn nếu thai nghén trong quý đầu khi ta có thể 
quan sát cả 2 tử cung đồng thời. 
Chẩn đoán phân loại dị tật kết hợp (dị tật âm 
đạo, cổ tử cung) chủ yếu dựa vào thăm khám lâm 
sàng, đánh giá vách ngăn dọc âm đạo, đánh giá 
CTC, đánh giá sự nối thông âm đạo, cổ tử cung 
với buồng tử cung. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, âm đạo có vách ngăn dọc chiếm 41,9%, 2 CTC 
chiếm 25,6%, có tỷ lệ khá cao không đánh giá âm 
đạo, cổ tử cung qua thăm khám có thể do bác sỹ đã 
bỏ qua thao tác quan trọng này hoặc không được 
ghi chép đầy đủ trong hồ sơ. Đây là 1 trong những 
hạn chế thường gặp của nghiên cứu hồi cứu.
Dị tật tử cung được đánh giá ngay trong mổ 
lấy thai. Thai nằm ở tử cung bên trái chiếm 55.8 %, 
tử cung phải chiếm 34,9%, 9,3% không mô tả. Kết 
quả của chúng tôi khác với Heinonen P.K nghiên 
cứu 26 trường hợp tử cung đôi thấy tỷ lệ cao thai 
thường ở tử cung bên phải, chính tác giả cũng 
không giải thích được đặc điểm này. Tử cung còn 
lại thường là có hình thái bình thường với 1 vòi 
tử cung và 1 buồng trứng riêng biệt.Theo Brody 
(1954) cả 2 tử cung trong tử cung đôi thường 
được phát triển tốt và đồng thời có thể mang 
thai ở cả 2 buồng tử cung. Trên thế giới đã từng 
gặp chửa 2 thai và 3 thai trên đồng thời cả 2 tử 
cung [4]. Trong nghiên cứu của chúng tôi 58,1% 
tử cung còn lại bình thường, chỉ có 3 trường hợp 
(7%) TC còn lại được mô tả nhỏ hơn bình thường 
và 3 trường hợp (7%) tử cung chột. trong đó có 2 
trường hợp tử cung chột đã được phẫu thậu cắt 
bỏ vì ứ máu kinh gây đau trước khi mang thai. 
Tử cung đôi thường bị nhầm lẫn với một vách 
ngăn tử cung hoàn toàn. Do dó cần thiết kết hợp 
thêm kỹ thuật khác để chẩn đoán chính xác dị 
tật. Chẩn đoán là rất quan trọng vì điều trị cho 
hai loại dị tật này là khác nhau. Có khuyến cáo có 
thể loại bỏ vách ngăn tử cung nhưng không nên 
phẫu thuật tử cung đôi. [5]
Dị tật tử cung đôi được khuyến cáo có lên 
quan đến hệ thống thận và xương. Bệnh nhân có 
thể có 1 thận duy nhất, bất sản thận cùng bên. 
Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 
4 trường hợp: đánh giá trước mổ (1 trường hợp) 
có 1 thận, đánh giá trong lúc mổ (3 trường hợp) là 
2 thận bình thường. Như vậy rõ ràng thái độ của 
bác sỹ trước 1 tử cung dị dạng thường bỏ qua 1 
thao tác quan trọng là đánh giá hình thái và chức 
năng thận.
Việc chẩn đoán sớm sẽ giúp bác sỹ có thái độ 
tích cực trong theo dõi và điều trị thai phụ có dị 
dạng tử cung.
4.3. Đặc Điểm lâm sàng của Thai nghén ở bệnh 
nhân Tử cung Đôi
Ở bệnh nhân tử cung đôi, do buồng tử cung 
hẹp, sự thay đổi về giải phẫu và sinh lý làm thai 
khó làm tổ, dễ sảy thai, lưu thai, đẻ non, ngôi thế 
bất thường. Sau đẻ thường có nguy cơ chảy máu, 
nhiễm trùng nhiều hơn so với nhóm thai nghén ở 
tử cung bình thường [1]. 
Đẻ non xảy ra trong 90% trường hợp tử cung 
đôi, ngôi mông
phổ biến (43%) [1]. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi, 27,9% trường hợp thai non tháng 
(dưới 37 tuần tuổi), trong đó rất non chiếm 
16,3%. Ngôi thai bất thường chiếm 34,9 % (ngôi 
ngược 32,6%, ngang: 2,3%). 32,6% trọng lượng 
dưới 2500g và có 30,2% thai >3000g. Có 5 trường 
hợp em bé suy dinh dưỡng, ối giảm. 1 cháu tử 
vong do non tháng tuổi thai 22 tuần. Còn lại tất 
cả các cháu đều ổn định và ra viện (kể cả các cháu 
non tháng). Điều này có thể là do thai nghén 
nguyễn Thị Thủy, nguyễn QuốC Tuấn, ngô Minh ThắngSẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
38
được theo dõi, điều trị thuốc trưởng thành phổi 
trước sinh.
 Đánh giá nguy cơ chảy máu nhiễm trùng sau 
đẻ, chúng tôi thấy tất cả các trường hợp đều hậu 
phẫu ổn định ra viện. Thời gian nằm viện trung 
bình là 5,37 ± 1,7 ngày, không có gì khác biệt so 
với các bệnh nhân khác.
4.4. Thái Độ xử Trí
Trong thời kỳ mang thai các trường hợp thai 
nghén đươc chẩn đoán tử cung đôi đều được 
theo dõi và điều trị tích cực để giảm nguy cơ đẻ 
non. Điều trị thuốc giảm co, thuốc trưởng thành 
phổi cho em bé. Đo chiều dài CTC phát hiện sớm 
dọa đẻ non
Mổ lấy thai là phương pháp được lựa chọn khi 
thai đủ tháng. Mổ lấy thai được thực hiện ở 82% 
bệnh nhân được báo cáo bởi Heinonen [1]. Trong 
nghiên cứu tỷ lệ mổ lấy thai là 97,6%, mổ lấy thai 
chủ động chiếm 39,5%, mổ lấy thai khi có dấu 
hiệu chuyển dạ chiếm 58,1%. Đẻ thường chỉ có 
1 trường hợp do đẻ nhanh, thai nhỏ. Cách thức 
phẫu thuật theo phương pháp thông thường 
rạch ngang đoạn dưới tử cung lấy thai. Triệt sản 
nếu bệnh nhân có đủ con.
5. Kết luận
Chẩn đoán dị dạng tử cung đôi có thể chẩn 
đoán sớm, chính xác. Chẩn đoán sớm tử cung đôi 
có thể đơn giản dựa vào khám thai, khai thác tiền 
sử thai nghén, thăm khám lâm sàng kết hợp siêu 
âm 2D, 3D. Việc chẩn đoán sớm giúp việc theo 
dõi và điều trị thành công giảm tỷ lệ đẻ non, tăng 
khả năng sống của trẻ. Mổ lấy thai thường là lựa 
chọn hàng đầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Heinonen P.K. Uterus didelphys: a report of 26 
cases. European Journal of Obstetrics & Gynecology 
and Reproductive Biology, 1984 17 (5): 345–50. 
2. Musich J.R, Behrman S.J. Obstetric outcome 
before and after metroplasty in women with uterine 
anomalies. Obstet and Gynec, 1978, 52, 63-66. 
3. Canzone. G. 2D-3D ultrasound in diagnosis of 
Uterine malformation. Donald school of Ultrasound 
in Obstetrics and Gynecology, July – Sep, 2007, 1 (3), 
77-79.
4. Madureira A. J, Mariz. C. M, Bernardes J. C, Ramos 
I. M,. Case 94: Uterus Didelphys with Obstructing 
Hemivaginal Septum and Ipsilateral Renal Agenesis. 
Radiology , 2006, 239 (2): 602–6. 
5. Pui. M. Imaging diagnosis of congenital uterine 
malformation. Computerized Medical Imaging and 
Graphics, 2004, 28 (7): 425–33.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ve_tinh_hinh_chan_doan_va_xu_tri_o_thai_phu_co_di_d.pdf