Nhận xét về chẩn đoán và xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Mục tiêu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử trí rau cài

răng lược tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017.

Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu mô tả trên 84 bệnh nhân rau cài

răng lược được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện phụ sản trung ương

năm 2017. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định là giải phẫu bệnh tử cung:

có hình ảnh rau cài răng lược.

Kết quả: Tỷ lệ rau cài răng lược là0,39% so với tổng số đẻ năm 2017

RCRL gặp ở 91,7% thai phụ có sẹo mổ lấy thai cũ. Số thai phụ được

chẩn đoán trước sinh bằng siêu âm là 64,3%. Xử trí rau cài răng lược là

mổ lấy thai tiếp theo chủ động cắt tử cung cầm máu 100%. Biến chứng

của cuộc mổ gặp chủ yếu là tổn thương cơ quan tiết niệu 6%

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét về chẩn đoán và xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét về chẩn đoán và xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Nhận xét về chẩn đoán và xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 87 - 91, 2018
87
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Nguyễn Liên Phương(1), Trần Danh Cường(2), Vũ Bá Quyết(1) 
(1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Đại học Y Hà Nội
NHẬN XÉT VỀ CHẨN ĐOÁN
VÀ XỬ TRÍ RAU CÀI RĂNG LƯỢC
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Liên Phương, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: rau cài răng lược 
(RCRL), phẫu thuật cắt tử cung 
cầm máu.
Keywords: accrete, 
hysterectomy actively bleeding.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử trí rau cài 
răng lược tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017. 
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu mô tả trên 84 bệnh nhân rau cài 
răng lược được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện phụ sản trung ương 
năm 2017. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định là giải phẫu bệnh tử cung: 
có hình ảnh rau cài răng lược. 
Kết quả: Tỷ lệ rau cài răng lược là0,39% so với tổng số đẻ năm 2017 
RCRL gặp ở 91,7% thai phụ có sẹo mổ lấy thai cũ. Số thai phụ được 
chẩn đoán trước sinh bằng siêu âm là 64,3%. Xử trí rau cài răng lược là 
mổ lấy thai tiếp theo chủ động cắt tử cung cầm máu 100%. Biến chứng 
của cuộc mổ gặp chủ yếu là tổn thương cơ quan tiết niệu 6%
Từ khóa: rau cài răng lược (RCRL), phẫu thuật cắt tử cung cầm máu.
Abstract 
 COMMENTING ON DIAGNOSIS AND TREATMENT 
OF ACCRETA IN NATIONAL HOSPITAL OF 
OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 2017 
Objectives: Describe the clinical characteristic, preclinical and 
treatments accrete in The National Hospital of Obstetrics and 
Gynecology. 
Methods: Retrospective descriptive on 84 patients ‘accrete who 
are diagnosed and treatments. Diagnosis criteria identified as uterine 
pathology: have picture accrete. 
Results: Rate accrete 0.39% as the total number of delivery. Accreta 
appear in 91.7% pregnant with a previous caesarean. The numbers 
of pregnants are diagnosed before birth by ultrasound was 64.3%. 
Management accrete is caesarean, after that hysterectomy actively 
bleeding 100%. Mainly complications of surgery are urinary organ 
damage 6%.
Key words: accrete, hysterectomy actively bleeding.
NGUYỄN LIÊN PHƯƠNG, TRẦN DANH CƯỜNG, VŨ BÁ QUYẾT
88
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
1. Đặt vấn đề
Rau cài răng lược (RCRL) là bệnh lý do các gai 
rau bám bất thường đến lớp cơ tử cung hoặc đâm 
xuyên qua thành tử cung tới lớp thanh mạc, đôi 
khi còn lan đến cơ quan lân cận như bàng quang 
(BQ). RCRL là biến chứng hiếm gặp, tuy nhiên 
trong những năm gần đây số sản phụmắc bệnh 
lý này ngày càng gia tăng. RCRL có mối liên quan 
mật thiết với rau tiền đạo trên thai phụ có sẹo mổ 
lấy thai ở tử cung. Mổ đẻ càng nhiều lần mà có rau 
tiền đạo thì nguy cơ rau cài răng lược càng tăng. 
Tỷ lệ RCRL tăng lên theo tỷ lệ mổ lấy thai, vì thế 
trong những năm gần đây tỷ lệ mổ lấy thai ngày 
càng tăng thì xu hướng RCRL cũng tăng dần. Bệnh 
lý này nếu không được chẩn đoán và xử trí đúng 
đắn trong cuộc mổ sẽ có nguy cơ đe dọa tính mạng 
sản phụ, là nguyên nhân gây tử vong mẹ trong và 
sau mổ liên quan đến tình trạng mất máu cấp tính.
Hiện nay việc chẩn đoán RCRL nhờ trợ giúp của 
siêu âm có thể thực hiện được sớm với độ chính 
xác khá cao giúp thày thuốc chủ động xử trí trong 
phẫu thuật tránh các biến chứng mà nặng nề nhất 
là tử vong mẹ. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này 
nhằm mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, 
cận lâm sàng và thái độ xử trí rau cài răng lược.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Các bệnh nhân được chẩn đoán RCRL trên siêu 
âm và có kết quảgiải phẫu bệnh tử cung khẳng 
định chẩn đoán tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
năm 2017 (từ 1/1/2017đến 31/12/2017).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả.
Thời gian nghiên cứu: từ 1/1/2017 đến 
31/12/2017.
Cỡ mẫu nghiên cứu: chọn cỡ mẫu không xác 
xuất, lấy tất cả bệnh án được chẩn đoán xác định 
RCRL tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017. 
Qua thu thập số liệu lấy được 84 bệnh án đủ tiêu 
chuẩn chọn vào nghiên cứu.
Cách tiến hành thu thập và xử lý số liệu
Phân tích và xử lý số liệu: số liệu được nhập và xử 
lý phân tích trên phần mềm thống kê y học SPSS 16.0
3. Kết quả nghiên cứu 
3.1. Tỷ lệ rau cài răng lược 
Có 84 trường hợp RCRL trong nghiên cứu này 
trên tổng số 21722 ca đẻ trong năm 2017 chiếm 
tỷ lệ 0,39%. 
3.2. Nhóm tuổi mẹ
Nhóm sản phụ dưới 25 tuổi gặp 3 trường hợp 
chiếm 3,6%. Nhóm tuổi gặp nhiều nhất là trên 30 
tuổi, chiếm 83,3% .
3.3. Số lần mổ lấy thai
Tỷ lệ sản phụ có ít nhất 1 lần mổ đẻ là 91,7%. 
Có 35 sản phụ đã mổ 1 lần chiếm 41,7%. Số sản 
phụ đã mổ 2 lần chiếm 46,4%.
3.4. Tỷ lệ chẩn đoán trên siêu âm
Có 54 sản phụ có hình ảnh RCRL trên siêu âm 
chiếm 64,3%. Có 30 trường hợp không rõ hình ảnh 
RCRL trên siêu âm chiếm 35,7%.
3.5. Thời điểm phát hiện trên siêu âm
Nhóm tuổi mẹ Số lượng Tỷ lệ %
≤24 3 3,6
25-29 11 13,1
30-34 37 44
≥ 35 33 39,3
Tổng 84 100
Bảng 1. Tuổi của mẹ
Số lần mổ lấy thai Số lượng Tỷ lệ %
Chưa mổ lần nào 7 8,3
Đã mổ 1 lần 35 41,7
Đã mổ 2 lần 39 46,4
Đã mổ 3 lần 3 3,6
Tổng 84 100
Bảng 2. Số lần mổ lấy thai
Số lượng Tỷ lệ %
Có hình ảnh RCRL trên SA 54 64,3
Không có hình ảnh trên SA 30 35,7
Tổng 84 100
Bảng 3. Chẩn đoán trên siêu âm
Thời điểm phát hiện Số lượng Tỷ lệ %
Trước 28 tuần 8 14,8
28-32 tuần 15 27,8
33-36 tuần 16 29,6
Sau 36 tuần 15 27,8
Tổng 54 100
Bảng 4. Thời điểm phát hiện trên siêu âm
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 87 - 91, 2018
89
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Có 54 sản phụ được chẩn đoán RCRL trên siêu 
âm. Siêu âm phát hiện rất sớm ở tuổi thai trước 28 
tuần, có 8 ca chiếm 14,8%. Số sản phụ được phát 
hiện ở tuổi thai từ 28-36 tuần chiếm 57,4%.
3.6. Thời điểm phẫu thuật
Có tới 52 sản phụ được phẫu thuật khi thai 
đủ tháng chiếm 61,9%. Còn lại là mổ cấp cứu 
chiếm 38,1%.
3.7. Lượng máu và chế phẩm máu 
phải truyền trong và sau mổ
Tỷ lệ sản phụ phải truyền máu là 100% các 
trường hợp mổ RCRL. Trung bình mỗi sản phụ phải 
truyền 4,8 đơn vị máu và chế phẩm máu. Tỷ lệ sản 
phụ truyền từ 1-4 đơn vị máu chiếm 72,6%.
3.8. Tỷ lệ tổn thương bàng quang
Có 5 trường hợp tổn thương bàng quang 
(BQ) chiếm 6%. Còn lại 94% sản phụ không tổn 
thương BQ.
4. Bàn luận
4.1. Tỷ lệ rau cài răng lược
Tỷ lệ RCRL năm 2017 tại Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương (BVPSTW) là 0,39%. So với tỷ lệ RCRL 
giai đoạn từ 2010-2011 tại BVPSTW là 0,11% thì 
bệnh lý này đã tăng hơn 3 lần [1]. Còn so với tỷ 
Thời điểm PT Số lượng Tỷ lệ %
≤ 28 tuần 4 4,8
29-32 5 5,9
33-37 23 27,4
≥38 52 61,9
Tổng 84 100
Bảng 5. Thời điểm phẫu thuật
Máu và chế phẩm máu (đơn vị) Số lượng Tỷ lệ %
1-4 61 72,6
5-7 8 9,5
8-10 7 8,3
11-13 3 3,6
14-16 1 1,2
>16 4 4,8
Tổng 84 100
Bảng 6. Lượng máu và chế phẩm máu phải truyền
Tổn thương bàng quang Số lượng Tỷ lệ %
Có 5 6
Không 79 94
Tổng 84 100
Bảng 7. Tổn thương bàng quang
lệ RCRL năm 2015 là 0,29% thì đã tăng 0,1% [2]. 
Điều này phù hợp với xu hướng tỷ lệ mổ lấy thai 
ngày càng tăng trong những năm gần đây vì RCRL 
có mối liên quan mật thiết đến sẹo mổ lấy thai cũ. 
Tỷ lệ mổ lấy thai tại BVPSTW năm 2017 là 51,4% 
tương ứng với 11167 ca mổ đẻ, tỷ lệ này cũng cao 
hơn tỷ lệ mổ lấy thai năm 2015 là 49,7% [2]. 
Tỷ lệ RCRL trong nghiên cứu này cao hơn nhiều 
so với nghiên cứu của Miller năm 1997 tại Mỹ 
là 0,08% [3], và cũng cao hơn trong nghiên cứu 
của Sentilhen tại Pháp năm 2011 là 0,1% [4]. Tuy 
nhiên các tác giả cũng nhận thấy tỷ lệ gặp RCRL 
ngày càng gia tăng trong những năm gần đây liên 
quan với việc tăng tỷ lệ mổ lấy thai [5]
4.2. Nhóm tuổi mẹ
Nhóm tuổi gặp nhiều nhất trong nghiên cứu 
này là trên 30 tuổi chiếm 83,3%. Kết quả này phù 
hợp với nghiên cứu của Lê Hoài Chương, độ tuổi 
mắc nhiều nhất từ 30-39 chiếm 71,8% [1], và cũng 
cùng xu hướng so với nghiên cứu RCRL năm 2015 
tại BVPSTW (nhóm tuổi trên 30 chiếm 88%) [2]. 
Nghiên cứu chẩn đoán RCRL trên siêu âm Doppler 
của Trần Danh Cường cho thấy tỷ lệ mắc bệnh này 
ở nhóm tuổi trên 35 là 40,7% [6]. 
Trong nghiên cứu này có 3 sản phụ dưới 25 tuổi 
chiếm 3,6% đều có ít nhất một lần mổ lấy thai, sản 
phụ trẻ tuổi nhất là 19 tuổi. Điều này cho thấy đây 
là luôn là bệnh lý vô cùng nặng nề vì không thể 
bảo tồn tử cung ngay cả khi sản phụ còn quá trẻ.
Chúng tôi nhận thấy RCRL không gặp ở trường 
hợp nào có thai lần 1 hoặc đẻ con so mà phải có 
ít nhất 1 lần thai nghén kết thúc bằng mổ lấy thai 
hoặc chưa mổ đẻ lần nào nhưng đã đẻ và mang 
thai nhiều lần, vì vậy bệnh lý này ít gặp ở các sản 
phụ trẻ tuổi.
4.3. Số lần mổ lấy thai
Theo các nghiên cứu của tác giả nước ngoài 
thì khi đã có 1 lần mổ lấy thai, nguy cơ bị RCRL 
là 0,24%. Tỷ lệ này tăng lên là 0,31% với người 
đã mổ lấy thai 2 lần và với người đã có 3 lần mổ 
lấy thai thì nguy cơ này lên tới 0,57% [5]. Trong 
nghiên cứu này có 91,7% sản phụ đã có ít nhất 1 
lần mổ lấy thai. Chỉ có 7 sản phụ (chiếm 3,8%) là 
chưa có tiền sử mổ lấy thai lần nào nhưng đều đã 
đẻ và mang thai từ 4-6 lần.
Chúng tôi nhận thấy 100% các trường hợp 
RCRL trong nghiên cứu có hình ảnh rau tiền đạo 
NGUYỄN LIÊN PHƯƠNG, TRẦN DANH CƯỜNG, VŨ BÁ QUYẾT
90
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
kèm theo ở các mức độ từ rau bám mép đến rau 
tiền đạo trung tâm hoàn toàn. Vì thế trên siêu âm 
khi thai phụ có tiền sử mổ lấy thai kèm theo rau tiền 
đạo cần phải tìm các dấu hiệu trên siêu âm của 
RCRL nhất là khi bánh rau bám mặt trước. Điều này 
cũng đã được các tác giả nước ngoài [5] cũng như 
trong nước khuyến cáo [7], [8].
4.4. Tỷ lệ chẩn đoán trên siêu âm 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ phát 
hiện RCRL trên siêu âm là 64,3%. Kết quả này cao 
hơn so với nghiên cứu của Lê Hoài Chương chỉ có 
47,8% [1], tuy nhiên tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với 
nghiên cứu năm 2015 tại BVPSTW là 91,4% [2]. 
Nghiên cứu của Miller [3] cho thấy độ nhạy của 
siêu âm lên tới 90%. Trong nghiên cứu của Trần 
Danh Cường tỷ lệ này là 55,6% [6]. Điều này có 
thể giải thích là trong nghiên cứu này có 7 trường 
hợp chưa mổ đẻ lần nào nhưng đã đẻ và mang thai 
từ 4-6 lần nên hình ảnh RCRL trên siêu âm không 
điển hình làm độ nhạy giảm xuống.
Tuy nhiên có 2/3 các trường hợp rau cài răng 
lược được chẩn đoán trên siêu âm trước mổ cũng 
đủ nói lên tầm quan trọng của chẩn đoán trước 
sinh các ca bệnh này để có chiến lược điều trị 
phù hợp (dự trù máu trước mổ, cần bố trí phẫu 
thuật viên có kinh nghiệm mổ chủ động khi thai đủ 
tháng) và thái độ xử trí đúng đắn trong cuộc mổ 
(mổ dọc thân tử cung lấy thai, chủ động cắt tử cung 
cầm máu ngay mà không bóc rau).
Trong 84 trường hợp chẩn đoán RCRL trên SA 
không có một trường hợp nào dương tính giả có 
nghĩa là siêu âm có hình ảnh RCRL mà mổ ra không 
phải. Điều này cho thấy siêu âm đóng vai trò vô cùng 
quan trọng trong chẩn đoán nhờ vào kinh nghiệm 
của các bác sĩ siêu âm ở các sản phụ có yếu tố nguy 
cơ (mổ lấy thai cũ kèm theo rau tiền đạo [9], [10].
Tiêu chuẩn chẩn đoán RCRL trên siêu âm [6], 
[9]: Có ít nhất 2 triệu chứng. Vùng khuyết trong 
bánh rau và phổ doppler có dòng chảy xoáy. Cơ 
tử cung mỏng, mất đường tăng âm giữa thanh mạc 
tử cung và bàng quang. Mất khoảng sáng sau rau, 
mất viền giảm âm giữa bánh rau và cơ tử cung. 
Có hình ảnh giả u (bánh rau lồi vào trong bàng 
quang). Tăng sinh mạch máu tiếp giáp giữa thanh 
mạc tử cung và bàng quang
4.5. Thời điểm phát hiện trên siêu âm
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 8 trường 
hợp được phát hiện RCRL trước 28 tuần. Trong số 
54 sản phụ có hình ảnh RCRL trên siêu âm thì đã 
có 23 trường hợp phát hiện trước 32 tuần chiếm 
42,6%. Việc chẩn đoán sớm giúp cho tư vấn sản 
phụ nên đến các cơ sở có khả năng phẫu thuật ca 
bệnh phức tạp này, tránh tai biến cho người mẹ mà 
nặng nề nhất là tử vong mẹ do mất máu cấp.
Tỷ lệ phát hiện được RCRL trên siêu âm trong 
qua trình khám thai theo nghiên cứu của Lê Hoài 
Chương chỉ là 7,7% [1]. Điều này cho thấy tiến bộ 
rất lớn của siêu âm trong những năm trở lại đây. 
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy có 
thể phát hiện được RCRL trên siêu âm từ tuần thai 
thứ 15[9]. Trong nghiên cứu này của chúng tôi có 
1 trường hợp phát hiện sớm nhất lúc thai 19 tuần.
4.6. Thời điểm phẫu thuật
Trong nghiên cứu này có 38,1% sản phụ mổ 
cấp cứu. Tỷ lệ mổ cấp cứu này cũng tương tự như 
trong nghiên cứu của Lê Hoài Chương là 41% [1]. 
Có tới 52 sản phụ được phẫu thuật khi thai đủ 
tháng chiếm 61,9%. Nếu so với năm 2015 thì tỷ lệ 
này thấp hơn (74,1%)[2]. Tuy nhiên tỷ lệ này cao 
hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Bạch Cẩm An 
là 25%[7].
Chúng tôi nhận thấy càng chủ động thời điểm 
phẫu thuật bao nhiêu thì kết quả cuộc mổ càng tốt 
bấy nhiêu, chuẩn bị được nguồn nhân lực là các 
phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm, chuẩn bị được 
máu truyền trong và sau mổ cũng như ekip gây mê 
hồi sức thành thục góp phần giảm tai biến cho mẹ. 
Đây là kết quả khả quan cho thấy việc chẩn đoán 
sớm rất quan trọng giúp cho bệnh nhân nhập viện 
theo dõi và xử trí kịp thời, chủ động.
Tỷ lệ cắt tử cung trong khi mổ lấy thai là 100% 
các trường hợp trong nghiên cứu này. Không có 
trường hợp nào bảo tồn được tử cung. Nghiên cứu 
của Bạch cẩm An cũng cho thấy tỷ lệ cắt tử cung 
cũng là 100%.[7]. Chúng tôi thấy PTV đã chủ động 
cắt tử cung ngay sau lấy thai để giảm nguy cơ tử 
vong mẹ do mất máu và giảm bớt lượng máu và 
chế phẩm máu phải truyền trong và sau mổ. Chính 
vì vậy trong nghiên cứu của chúng tôi không có 
trường hợp nào tử vong mẹ. Đây là tiến bộ đáng 
kể trong công tác điều trị tại bệnh viện bởi ngay 
cả những nước có nền y học tiên tiến hàng đầu thế 
giới như Pháp thì tỷ lệ tử vong mẹ vẫn là 7% do mất 
máu nặng [10].
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 87 - 91, 2018
91
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
4.7. Lượng máu và chế phẩm máu 
truyền trong và sau mổ
Tỷ lệ sản phụ phải truyền máu là 100% các 
trường hợp mổ RCRL. Trung bình mỗi sản phụ phải 
truyền 4,8 đơn vị máu và chế phẩm máu. Điều này 
cho thấy đây là bệnh lý vô cùng nặng nề cho sản 
phụ khi mắc phải, chảy máu nhiều trong cuộc mổ 
là khó tránh khỏi dù PTV có nhiều kinh nghiệm.
Có 61 sản phụ chỉ cần truyền từ 1- 4 đơn vị máu 
và chế phẩm máu chiếm 72,6% cho thấy kỹ thuật mổ 
và kinh nghiệm lâm sàng của PTVđã được cải thiện rất 
nhiều. Tỷ lệ này cao hơn nhiều trong nghiên cứu của Lê 
Hoài Chương số sản phụ phải truyền từ 2 đơn vị máu 
trở lên là 38,5% [1] và cũng cao hơn nghiên cứu năm 
2015 là 53,4% [2]. So với nghiên cứu năm 2015 thì 
lượng máu trung bình truyền cho một bệnh nhân trong 
nghiên cứu này đã giảm đáng kể ( 4,8 so với 5,5 đơn 
vị năm 2015) [2]. Cá biệt có 1 sản phụ phải truyền từ 
14-16 đơn vị chiếm 1,2% và 4 sản phụ truyền trên 16 
đơn vị. Sản phụ phải truyền lượng máu lớn nhất lên 
đến 25 đơn vị. Riêng 5 sản phụ này đã truyền tổng 
khối lượng máu và chế phẩm máu là 94 đơn vị.
Chúng tôi nhận thấy có một số trường hợp phải 
truyền rất nhiều máu và chế phẩm máu do PTV rạch 
ngang đoạn dưới lấy thai sau đó bóc rau càng làm 
tăng nguy cơ chảy máu và gây rối loạn đông máu. 
Ngoài ra có 2 trường hợp trong 5 trường hợp này 
phải truyền nhiều máu do tai biến phẫu thuật chảy 
máu sau mổ nên phải phẫu thuật lại. Vì vậy khi đã 
có chẩn đoán RCRL thì khuyến cáo chủ động rạch 
dọc thân tử cung lấy thai sau đó cắt TC ngay cầm 
máu mà không bóc rau. Điều này giúp hạn chế 
lượng máu mất trong cuộc mổ và tránh nguy cơ rối 
loạn đông máu. Vì vậy trước khi phẫu thuật RCRL 
cần chuẩn bị ekip mổ có kinh nghiệm, ekip gây mê 
hồi sức, máu và chế phẩm máu cũng như công 
tác tư vấn cho sản phụ và gia đình.
4.8. Tỷ lệ tổn thương bàng quang
Chỉ có 5 trường hợp tổn thương BQ chiếm 6%. 
Còn lại 94% sản phụ không bị tổn thương BQ. So 
sánh với tỷ lệ tổn thương BQ trong nghiên cứu của 
Lê Hoài Chương là 23,1% [1] thì tỷ lệ này cao hơn 
nhiều trong nghiên cứu của chúng tôi. So với nghiên 
cứu năm 2015 thì tỷ lệ này cũng giảm đi đáng kể 
(17,2%) [2]. Điều này có thể do chúng tôi ít gặp hơn 
các trường hợp rau cài răng lược thể đâm xuyên, mặt 
khác còn do kinh nghiệm của các phẫu thuật viên 
được cải thiện theothời gian. Tỷ lệ tổn thương BQ 
trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu 
của các tác giả nước ngoài là từ 17-33% [11], [12].
5. Kết luận
Tỷ lệ RCRL tại BVPSTW năm 2015 là 0,39%. RCRL 
có liên quan mật thiết với rau tiền đạo trên thai phụ 
có sẹo mổ lấy thai ở tử cung. Rau cài răng lược hoàn 
toàn có thể chẩn đoán được trước sinh trên siêu âm 
với độ chính xác là 64,3%. Xử trí rau cài răng lược là 
mổ lấy thai sau đó chủ động cắt tử cung cầm máu. 
Tổn thương cơ quan tiết niệu là biến chứng gặp chủ 
yếu của phẫu thuật (6%). Có 2 trường hợp biến chứng 
chảy máu sau mổ phải mổ lại chiếm 2,4%.
Tài liệu tham khảo
1. Lê Hoài Chương. Nghiên cứu xử trí rau cài răng lược tại bệnh viện 
phụ sản trung ương trong 2 năm 2010-2011. Tạp chí y học thực hành. 
2012. Số 848-số 11/2012 tr 32-35.
2. Nguyễn Liên Phương. Nhận xét về chẩn đoán và xử trí rau cài răng 
lược tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2015. Tạp chí phụ sản. 
2016. Tập 14(01), 05/2016 tr 68-72.
3. Miller DA, Chollet JA, Goodwin TM. Clinical risk factor of previa 
placenta accreta. Am.J.Obstet and Gynecol. 1997, Jul, 177(1) P 210.
4. L.Sentilhes, Ph. Gillard, L. Catala, Fl. Biquard, S. Madzou, F. Boussion, 
Ph. Descamps. Rau cài răng lược. Hội nghị sản phụ khoa Việt- Pháp 
Hà nội 4/2011. 2011.
5. Silver RM, Landon MB, Rouse DJ, Leveno KJ, Spong CY, Thom EA, et 
al. Maternal morbidity associated with multiple repeat cesarean deliveries. 
National Institute of Child Health and Human Development Maternal-Fetal 
Medicine Units Network. Obstet Gynecol. 2006;107:1226-32.
6. Trần Danh Cường. Chẩn đoán rau cài răng lược bằng siêu âm 
dopller màu- tạp chí sản phụ khoa 4/2011.2011.tr 119-124.
7. Bạch Cẩm An. Nhận xét một số trường hợp rau cài răng lược xâm lấn 
bàng quang trên vết mổ cũ. Tạp chí sản phụ khoa 4/2011.2011.tr 195-201.
8. Nguyễn Đức Hinh. So sánh mổ lấy thai vì rau tiền đạo hai giai đoạn 
1989-1990 và 1993-1994 tại viện BVBMTSS. Tạp chí thông tin y dược 
12/1999.1999 tr 107-111
9. Comstock CH, Love JJ Jr, Bronsteen RA, Lee W, Vettraino IM, Huang 
RR, et al. Sonographic detection of placenta accreta in the second and 
third trimesters of pregnancy. Am J Obstet Gynecol 2004;190:1135-40.
10. Xavier Deffieux. Điều trị bảo tồn rau cài răng lược và rau cài răng 
lược đâm xuyên. Hội nghị sản phụ khoa Viêt-Pháp Hà nội 5/2013.
11. Hudon L, Belfort MA, Broome DR. Diagnosis and management of 
placenta percreta: a review. Obstet Gynecol Surv 1998;53:509-17. 
12. O’Brien JM, Barton JR, Donaldson ES. The management of placenta percreta: 
conservative and operative strategies. Am J Obstet Gynecol 1996;175:1632-8.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ve_chan_doan_va_xu_tri_rau_cai_rang_luoc_tai_benh_v.pdf