Nhận xét về chẩn đoán chửa trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ chửa trứng điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản

Trung ương; Nhận xét vai trò của siêu âm, beta hCG huyết thanh trong

chẩn đoán chửa trứng.

Phương pháp: mô tả cắt ngang.

Đối tượng: các trường hợp chửa trứng được điều trị và theo dõi tại

Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong năm 2017.

Kết quả: Tỷ lệ chửa trứng chiếm tỷ lệ 1,1% số bà mẹ mang thai đến

điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2017. Tỷ lệ chửa

trứng toàn phần chiếm tỷ lệ 64,8%; tỷ lệ chửa trứng bán phần là 35,2%

tổng số ca chửa trứng. Siêu âm có khả năng sàng lọc chửa trứng với độ

nhạy là 95%; độ đặc hiệu 14%. Ngưỡng xét nghiệm βhCG huyết thanh là

200000IU/L với độ đặc hiệu là 99% sau khi siêu âm chẩn đoán chửa trứng.

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét về chẩn đoán chửa trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét về chẩn đoán chửa trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Nhận xét về chẩn đoán chửa trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 127 - 131, 2018
127
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Mai Trọng Dũng, Vũ Bá Quyết, Phạm Huy Hiền Hào 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
NHẬN XÉT VỀ CHẨN ĐOÁN CHỬA TRỨNG
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Mai Trọng Dũng, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: chửa trứng.
Keywords: hydatidiform.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ chửa trứng điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương; Nhận xét vai trò của siêu âm, beta hCG huyết thanh trong 
chẩn đoán chửa trứng. 
Phương pháp: mô tả cắt ngang. 
Đối tượng: các trường hợp chửa trứng được điều trị và theo dõi tại 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong năm 2017. 
Kết quả: Tỷ lệ chửa trứng chiếm tỷ lệ 1,1% số bà mẹ mang thai đến 
điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2017. Tỷ lệ chửa 
trứng toàn phần chiếm tỷ lệ 64,8%; tỷ lệ chửa trứng bán phần là 35,2% 
tổng số ca chửa trứng. Siêu âm có khả năng sàng lọc chửa trứng với độ 
nhạy là 95%; độ đặc hiệu 14%. Ngưỡng xét nghiệm βhCG huyết thanh là 
200000IU/L với độ đặc hiệu là 99% sau khi siêu âm chẩn đoán chửa trứng.
Từ khóa: chửa trứng.
Abstract 
COMMENT ABOUT THE ROLE OF ULTRASOUND 
AND BETA HCG SERUM TO DIAGNOSIS 
HYDATIDIFORM IN THE NATIONAL HOSPITAL OF 
OBSTETRIC AND GYNECOLOGY 
Objectives: determine the rate of hydatidiform in pregnacies; comment 
about the role of ultrasound, and beta hCG of serum to diagnosis hydatidiform. 
Methods: cross study. Subjects: all patient’hydatidiform treated at the 
National Hospital of Obstetric and Gyneology in 2017. 
Results: the rate of hydatidiform in pregnacies was 1,1%. Complete 
hydatidiform mole were 64.8%; partial hydatidiform mole were 35.2% 
of the total number of hydatidiform moles. Sensitivity of ultrasound to 
diagnosis hydatidiform was 95%; specificity was 14%. After ultrasound 
screenning, the threshold for β-hCG for serum testing is 200000 IU/L 
with a specificity of 99%.
Key word: hydatidiform.
MAI TRỌNG DŨNG, VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM HUY HIỀN HÀO
128
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
1. Đặt vấn đề
Chửa trứng là hình thái thai nghén bất thường, 
ít gặp và có nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh 
hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người 
bệnh. Chẩn đoán chửa trứng cần sự kết hợp của 
lâm sàng, siêu âm và xét nghiệm nồng độ beta 
hCG huyết thanh. Trong nhiều trường hợp chẩn 
đoán chửa trứng trở nên khó khăn khi không có 
sự tương đồng của các yếu tố này dẫn đến việc 
chẩn đoán không phải khi nào cũng chính xác. 
Việc đánh giá lại các yếu tố chẩn đoán nhằm rút 
ra các kinh nghiệm và đưa ra các khuyến cáo là 
việc làm rất cần thiết để giúp chúng ta đưa ra các 
phương pháp điều trị hợp lý. Trên cơ sở đó chúng 
tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ chửa trứng điều trị tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương.
2. Nhận xét vai trò của siêu âm, beta hCG 
huyết thanh trong chẩn đoán chửa trứng.
2. Đối tượng và phương pháp
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các trường hợp chửa 
trứng được điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương trong năm 2017.
- Điều trị bằng phương pháp hút thai trứng.
- Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật cắt 
tử cung.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, dữ 
liệu nghiên cứu được lấy từ kho hồ sơ bệnh án. Kết 
quả nghiên cứu được thống kê tính toán trên phần 
mềm SPSS 16.0
3. Kết quả nghiên cứu 
3.1. Một số đặc điểm chung của nhóm 
nghiên cứu 
Độ tuổi trung bình (năm): 29,5 + 9
Chưa mang thai lần nào: 36,3% (86 cas)
Tiền sử chửa trứng: 0,84% (2 cas)
3.2. Tỷ lệ chửa trứng
3.2.1. Về tỷ lệ chửa trứng
Trong năm 2017 có 237 trường hợp được chẩn 
đoán là chửa trứng hoàn toàn hoặc chửa trứng bán 
phần được hút hoặc phẫu thuật cắt tử cung tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương. Tỷ lệ chửa trứng năm 
2017 chiếm 1,1% trong tổng số 21722 ca đẻ tại 
bệnh viện. 
3.2.2. Phân loại chửa trứng
3.3. Chẩn đoán chửa trứng
3.3.1. Kết quả chẩn đoán chửa trứng qua 
siêu âm
Dấu hiệu đặc trưng là các hình ảnh của thai 
trứng như hình ảnh tổ ong hay ruột bánh mỳ. 
Chúng tôi đối chiếu tất cả các trường hợp được 
chẩn đoán chửa trứng sau khi hút, phẫu thuật 
với kết quả giải phẫu bệnh. Trong năm 2017 có 
309 trường hợp siêu âm có hình ảnh đặc trưng 
của chửa trứng, đối chiếu với kết quả giải phẫu 
bệnh có 151 ca là chửa trứng toàn phần, 73 
ca là chửa trứng bán phần, các trường hợp còn 
lại đều cho kết quả là gai rau thoái hóa, màng 
rụng, ... tỷ lệ chẩn đoán chính xác của siêu âm 
là 69,2%. Trong số 26 trường hợp chẩn đoán 
chửa trứng có hình ảnh siêu âm không điển hình 
(chẩn đoán vì có nồng độ beta hCG huyết thanh 
cao) có 5 ca là chửa trứng toàn phần, 8 ca là 
chửa trứng bán phần, các trường hợp còn lại đều 
là thai lưu, tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu âm là 
50%. Không có trường hợp nào siêu âm chẩn 
đoán chửa trứng mà kết quả kết quả giải phẫu 
bệnh là thai thường. 
Kết quả từ bảng trên, nếu tính chửa trứng nói 
chung (gồm cả chửa trứng toàn phần và chửa 
trứng bán phần) cho thấy siêu âm có độ nhạy 
bằng 224/237 = 0,95; độ đặc hiệu của siêu âm 
bằng 13/98 = 0,14.
Tỷ lệ
Phân lọaị chửa trứng Số ca Tỷ lệ
Chửa trứng toàn phần 156 65,8%
Chửa trứng bán phần 81 34,2%
Tổng số 237 100%
Bảng 1. Phân loại chửa trứng dựa vào kết quả giải phẫu bệnh
Kết quả giải
phẫu bệnh
Kết quả siêu âm
Chửa trứng
 toàn phần
Chửa trứng
 bán phần Khác Tổng số
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Có dấu hiệu đặc trưng 151 96,7 73 90,1 85 86,7 309 92,2
Không có dấu hiệu đặc trưng 5 3,3 8 9,9 13 13,3 26 7,8
Tổng số 156 100 81 100 98 100 335 100
Bảng 2. So sánh giữa siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 127 - 131, 2018
129
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
3.3.2. Kết quả beta hCG huyết thanh trong 
chẩn đoán chửa trứng
Từ bảng trên, dựa vào các phép tính thống kê 
cho kết quả như sau:
- Tính chửa trứng nói chung (gồm cả chửa 
trứng toàn phần và chửa trứng bán phần), nếu lấy 
mốc chẩn đoán với ngưỡng là 100000IU/L thì xét 
nghiệm nồng độ βhCG huyết thanh có độ nhạy là 
0,66; độ đặc hiệu là 0,88. 
- Nếu lấy mốc chẩn đoán với ngưỡng là 
200000IU/L thì xét nghiệm nồng độ βhCG huyết 
thanh có độ nhạy là 0,33 ; độ đặc hiệu là 0,99.
- Nếu lấy mốc chẩn đoán với ngưỡng là 
500000IU/L thì xét nghiệm nồng độ βhCG huyết 
thanh có độ nhạy là 0,08 ; độ đặc hiệu là 1.
3.3.3. Kết quả giải phẫu bệnh sau hút thai trứng
- Đối với các trường hợp khi vào viện được chẩn 
đoán là chửa trứng toàn phần:
+ Chẩn đoán chính xác tuyệt đối (kết quả giải 
phẫu bệnh là chửa trứng toàn phần) là 151 ca, 
chiếm tỷ lệ 54,7%.
+ Chẩn đoán chính xác tương đối (kết quả giải 
phẫu bệnh là chửa trứng bán phần) là 57 ca, 
chiếm tỷ lệ 20,7%.
- Đối với các trường hợp khi vào viện được chẩn 
đoán là chửa trứng bán phần:
+ Chẩn đoán chính xác tuyệt đối (kết quả giải 
phẫu bệnh là chửa trứng bán phần) là 24 ca, chiếm 
tỷ lệ 41,8%.
Kết quả giải
phẫu bệnh
Nồng độ βhCG (IU/L)
Chửa trứng
 toàn phần
Chửa trứng
 bán phần Khác Tổng số
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
Số 
lượng
Tỷ lệ 
(%)
< 100 000 28 18,1 52 64,2 86 87,7 166 49,6
100 000 - 200 000 55 35,2 23 28,4 12 14,8 90 26,8
200 000 - 500 000 54 34,5 6 7,4 1 0 60 17,9
500 000 - 1 000 000 15 9,6 0 0 0 0 15 4,5
> 1 000 000 4 2,6 0 0 0 0 4 1,2
Tổng số 156 100 81 100 98 100 335 100
Bảng 3. So sánh giữa nồng độ beta hCG huyết thanh trước khi loại bỏ thai trứng và kết 
quả giải phẫu bệnh
Kết quả giải phẫu bệnh lý
Chẩn đoán trước khi hút/mổ
Chửa trứng
 toàn phần
Chửa trứng
 bán phần Khác
n % n % n %
Chửa trứng toàn phần 151 54,7 57 20,7 68 24,6
Chửa trứng bán phần (59 ca) 5 8,5 24 41,8 30 50,7
Tổng số 156 81 98
Bảng 4. So sánh giữa chẩn đoán khi vào viện và kết quả giải phẫu bệnh 
+ Chẩn đoán chính xác tương đối (kết quả giải 
phẫu bệnh là chửa trứng toàn phần) là 5 ca, chiếm 
tỷ lệ 8,5%.
- Tính chung cho cho chửa trứng toàn phần và 
chửa trứng bán phần: tỷ lệ chẩn đoán chính xác khi 
so với kết quả giải phẫu bệnh là 70,7%.
4. Bàn luận
4.1. Về tỷ lệ chửa trứng
- Tỷ lệ chửa trứng trong nghiên cứu của chúng 
tôi chiếm tỷ lệ 1,1% thấp hơn so với nghiên cứu 
của Nguyễn Cận là 1,67% [1], cao hơn so với 
nghiên cứu của Tô Thiên Lý là 0,88 [2]; tương tự 
như nghiên cứu của Loukovaara là 0,98 [3]. Chúng 
tôi cho rằng sở dĩ tỷ lệ chửa trứng có sự khác nhau 
như vậy chủ yếu là do phương pháp tính tỷ lệ. 
- Về phân loại chửa trứng: kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi cho tỷ lệ chửa trứng toàn phần 
và chửa trứng bán phần lần lượt là 64,8% và 
35,2% tương tự như các nghiên cứu khác với đặc 
điểm là tỷ lệ chửa trứng toàn phần nhiều hơn 
nhiều so với chửa trứng bán phần như nghiên 
cứu của Nguyễn Mỹ Hương là 79,1% và 20, 
9% [4]; nghiên cứu của Tô Thiên Lý là 60,8% và 
39,2% [1]. Tuy nhiên so với các nghiên cứu nước 
ngoài thì có phần ngược lại: trong nghiên cứu 
của Melisa tỷ lệ chửa trứng toàn phần là 6%, tỷ 
lệ chửa trứng bán phần là 93,5% [5]; nghiên cứu 
của Lindholm cũng cho tỷ lệ chửa trứng bán phần 
cao hơn chửa trứng toàn phần [6]. Điều này có lẽ 
là do yếu tố địa dư, ngoài ra chúng tôi còn cho 
rằng trong nhiều trường hợp chúng ta đã không 
làm xét nghiệm mô bệnh học với các trường hợp 
sẩy thai, thai lưu,  mà có hình thái đại thể 
không rõ trứng. Các nghiên cứu này cũng chỉ rõ 
phần lớn chửa trứng bán phần có hình thái lâm 
sàng là sẩy thai, thai lưu; việc chẩn đoán chính 
xác trước khi hút là vô cùng khó khăn và có tỷ lệ 
chẩn đoán đúng rất thấp.
4.2. Về giá trị của các phương pháp 
chẩn đoán
4.2.1. Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán 
chửa trứng
Hiện nay, siêu âm là phương pháp chẩn đoán 
tương đối phổ biến, dễ thực hiện trong thực hành 
khám bệnh, chữa bệnh. Trong nghiên cứu của 
MAI TRỌNG DŨNG, VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM HUY HIỀN HÀO
130
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
chúng tôi, với độ nhạy 95% thì siêu âm rất có giá 
trị trong sàng lọc, phân loại ban đầu, định hướng 
chẩn đoán tỷ lệ chẩn đoán đúng qua siêu âm 
Tuy nhiên với độ đặc hiệu 14% thì siêu âm 
ít có giá trị trong khẳng định chẩn đoán. Trong 
thực tế chẩn đoán chửa trứng qua siêu âm dễ 
nhầm lẫn với các bệnh lý khác của thai nghén 
trong quý đầu, đặc biệt là các trường hợp thai 
lưu. Ngoài ra siêu âm chẩn đoán chửa trứng 
cũng dễ nhầm lẫn với các trường hợp khác như 
nhầm giữa chửa trứng bán phần với các trường 
hợp dọa sẩy thai, sẩy thai dở dang, giữa chửa 
trứng toàn phần với sót rau....
So sánh với các nghiên cứu trước đây như 
nghiên cứu của Tô Thiên Lý có tỷ lệ chẩn đoán 
đúng là chửa trứng trên siêu âm là 98,8% đối với 
chửa trứng toàn phần và 99,4% đối với chửa trứng 
bán phần [2] hay nghiên cứu Nguyễn Mỹ Hương 
98,6% đối với chửa trứng toàn phần và 93,6% đối 
với chửa trứng bán phần [4] thì thấy hoàn toàn có 
sự khác biệt. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt này 
do cách chọn mẫu. Mặt khác ngày nay người ta 
thường có xu hướng đi siêu âm sớm và ít khi để 
tình trạng chửa trứng quá to mới đến bệnh viện 
như trước đây nên nên việc chẩn đoán chửa trứng 
dễ nhầm lẫn với các hình thái thai nghén khác, 
đặc biệt là các trường hợp thai lưu.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cũng có ít khác 
biệt so với nghiên cứu của Fowler trên 1053 trường 
hợp chửa trứng. Với nhiều hình thái khác nhau của 
chửa trứng nghiên cứu của Fowler cho độ nhạy, độ 
đặc hiệu lần lượt là 44%, 74%. Trong nghiên cứu 
của Lindholm, tỷ lệ chẩn đoán đúng đối với chửa 
trứng toàn phần trên siêu âm là 80% và chỉ có 30% 
đối với chửa trứng bán phần [6]. Chúng tôi cho 
rằng sự khác biệt này cũng chủ yếu do chọn mẫu 
và tình trạng bệnh nhân khi đến bệnh viện. Khi 
người bệnh đến càng sớm thì việc chẩn đoán qua 
siêu âm càng khó khăn và thật khó để khẳng định 
khi không được siêu âm bởi cùng một người ở các 
thời điểm khác nhau. 
4.2.2. Vai trò của xét nghiệm beta hCG huyết 
thanh trong chẩn đoán chửa trứng
Xét nghiệm định lượng βhCG huyết thanh 
ngày nay thực sự có vai trò rất quan trọng trong 
chẩn đoán thai nghén 3 tháng đầu và dần trở 
nên thường quy trong các trường hợp thai nghén 
có nguy cơ. Trong nghiên cứu của chúng tôi tất 
cả các trường hợp chẩn đoán chửa trứng đều 
được siêu âm và xét nghiệm βhCG huyết thanh 
(nghiên cứu của Tô Thiên Lý năm 2006 chỉ có 
34,1% được xét nghiệm định lượng, còn lại chủ 
yếu định tính). Với ngưỡng βhCG huyết thanh 
500000IU/L sau khi đã được siêu âm sàng lọc 
thì tỷ lệ chẩn đoán đúng chửa trứng là 100%; 
với ngưỡng βhCG huyết thanh 200000IU/L sau 
khi đã được siêu âm sàng lọc thì tỷ lệ chẩn đoán 
đúng chửa trứng là 99%.
Về tỷ lệ chửa trứng ở các ngưỡng βhCG huyết 
thanh nghiên cứu của chúng tôi cũng gần tương 
tự như các nghiên cứu trước đây và có xu hướng 
thấp hơn. Có 80/237 ca chửa trứng ở ngưỡng 
βhCG huyết thanh dưới 100000IU/L chiếm tỷ lệ 
là 33,7% (18,1% đối với chửa trứng toàn phần và 
64,2% đối với chửa trứng bán phần); có 138/237 
ca chửa trứng ở ngưỡng βhCG huyết thanh từ 
100000 - 500000IU/l chiếm tỷ lệ 58,2% (69,7% 
đối với chửa trứng toàn phần và 27,8% đối với 
chửa trứng bán phần); có 19/237 ca chửa trứng 
ở ngưỡng βhCG huyết thanh trên 500000 chiếm 
tỷ lệ 8%. Kết quả này cũng tương tự như nghiên 
cứu của Tô Thiên Lý với các tỷ lệ lần lượt là 30,3%; 
59,9%; 9,8% [2]. 
4.2.3. Bàn luận về chẩn đoán chửa trứng khi 
vào viện và kết quả giải phẫu bệnh sau khi hút/
phẫu thuật
Chưa có nghiên cứu nào trước đây so sánh kết 
quả chẩn đoán trước nạo hút trứng với kết quả giải 
phẫu bệnh tại Việt Nam
So sánh với nghiên cứu của quốc tế chúng 
tôi thấy rằng kết quả trong của chúng tôi khá 
cao. Trong nghiên cứu của Melisa năm 2017, 
tỷ lệ chẩn đoán đúng đối với chửa trứng toàn 
phần là 75% tương tự như kết quả của chúng tôi 
là 75,4% [5]. Tuy nhiên đối với chửa trứng bán 
phần, tỷ lệ chẩn đoán đúng của chúng tôi cao 
hơn với kết quả là 49,3% so với 9% trong nghiên 
cứu của Melisa, chúng tôi cho rằng sự khác biệt 
này chủ có lẽ là do chúng ta đã không thực 
hiện các làm mô bệnh học đối với các trường 
hợp chửa trứng không điển hình có hình thái lâm 
sàng tương tự như các trường hợp sẩy thai, thai 
lưu. So sánh với nghiên cứu khác, trong nghiên 
cứu của Sebire tỷ lệ chẩn đoán đúng khi so sánh 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 127 - 131, 2018
131
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
chẩn đoán lâm sàng với kết quả giải phẫu bệnh 
là 84% [7] cao hơn so với kết quả của chúng tôi 
là 70,7%, kết quả khác biệt này có lẽ là do cách 
chọn mẫu. Trong nghiên cứu của Sebire tuổi thai 
khi kết luận chửa trứng là khá cao (không có 
trường hợp nào chẩn đoán chửa trứng trước 10 
tuần) do vậy mà tỷ lệ sai ít đi
5. Kết luận 
5.1. Tỷ lệ chửa trứng chiếm tỷ lệ 1,1% số ca đẻ 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2017. 
Tỷ lệ chửa trứng toàn phần chiếm đa số với tỷ lệ 
64,8%; tỷ lệ chửa trứng bán phần là 35,2% tổng 
số ca chửa trứng.
5.2. Siêu âm có khả năng sàng lọc chửa trứng 
rất cao với độ nhạy là 95%; tuy nhiên với độ đặc 
hiệu 14% thì siêu âm không có giá trị khẳng định 
chẩn đoán
Sau khi có sự sàng lọc của siêu âm, ngưỡng 
chẩn đoán chửa trứng khi xét nghiệm βhCG huyết 
thanh là 200000IU/L với độ đặc hiệu là 99%.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Cận. Điều tra bệnh chửa trứng ở Việt nam.Thông tin sản 
phụ khoa. Số 1.1986.
2. Tô Thiên Lý. Nhận xét tình hình điều trị chửa trứng tại bệnh viện 
phụ sản trung ương từ tháng 01/2003 đến tháng 6/2001. Luận văn tốt 
nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II. Đại học Y Hà Nội. 2006.
3. Loukovaara M, Pukkala E., Lehtovirta P et al. Epidemiology of hydatidiform 
mole in Finland, 1975 to 2001. Eur. J. Gynaecol. Oncol.2005; 26(2), p. 207- 208.
4. Nguyễn Mỹ Hương. Nghiên cứu một số đặc điểm và sự tiến triển 
của các hình thái chửa trứng điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương từ năm 1998 đến năm 2002. Luận văn Thạc sĩ Y học. Đại học 
Y Hà Nội. 2003
5. Melisa Lelic, Ermina Iljazovic, Sergije Markovic et all. Challenges in the 
Routine Praxis Diagnosis of Hydatidiform Mole: a Tertiary Health Center 
Experience. Med Arch. 2017; 71(4): 256–260.
6. Lindholm H1, Flam F. The diagnosis of molar pregnancy by sonography 
and gross morphology. Acta Obstet Gynecol Scand. 1999; 78(1):6-9.
7. Sebire NJ1, Rees H, Paradinas F et all. The diagnostic implications 
of routine ultrasound examination in histologically confirmed early molar 
pregnancies. Ultrasound Obstet Gynecol. 2001; 18(6):662-5.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ve_chan_doan_chua_trung_tai_benh_vien_phu_san_trung.pdf