Nhận xét tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 3 tháng đầu của thai kỳ

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong

3 tháng đầu thai kỳ và tìm hiểm các yếu tố liên quan.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 156 thai

phụ mang thai 3 tháng đầu tại khoa Nội tiết – ĐTĐ- Bệnh viện Bạch

Mai và phòng khám Theo yêu cầu - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, từ

tháng 11 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015. Các tiêu chuẩn đánh giá theo

khuyến cáo của Hội Tuyến Giáp Hoa kỳ năm 2011.

Kết quả: Tỷ lệ RLCNTG nói chung: 38,5%. Trong đó, cường giáp

16,7%, suy giáp 10,9%, tình trạng giảm hormon FT4 10,9%. Suy giáp

trong thời kỳ mang thai liên quan với: tiền sử mắc bệnh tuyến giáp và

anti-TPO dương tính. Thai phụ có tiền sử mắc bệnh tuyến giáp có nguy cơ

bị suy giáp gấp 20,36 lần so với thai phụ không có tiền sử bệnh lý tuyến

giáp. Thai phụ có anti-TPO (+) có nguy cơ bị suy giáp gấp 4,22 lần thai

phụ có anti-TPO (-). Chưa tìm thấy mối liên quan giữa cường giáp, tình

trạng giảm hormon FT4 với các yếu tố liên quan.

Kết luận: Rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 3 tháng đầu

thai kỳ là khá phổ biến. Suy giáp trong thai kỳ có liên quan đến tiền sử

mắc bệnh tuyến giáp và tình trạng Anti- TPO dương tính

pdf 7 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 3 tháng đầu của thai kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 3 tháng đầu của thai kỳ

Nhận xét tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 3 tháng đầu của thai kỳ
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 51 - 57, 2017
51
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Đỗ Thị Tuyết Nhung(1), Đinh Bích Thủy(2), Nguyễn Khoa Diệu Vân(3) 
(1) Bệnh viện 19.8, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (3) Trường Đại học Y Hà Nội
NHẬN XÉT TÌNH TRẠNG
RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP 
Ở PHỤ NỮ TRONG 3 THÁNG ĐẦU CỦA THAI KỲ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Khoa Diệu Vân, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: Rối loạn chức năng 
tuyến giáp, mang thai 3 tháng 
đầu, suy giáp, cường giáp.
Keywords: Thyroid dysfunction, 
pregnant women in the first 
trimester, hypothyroidism, 
hyperthyroidism.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 
3 tháng đầu thai kỳ và tìm hiểm các yếu tố liên quan. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 156 thai 
phụ mang thai 3 tháng đầu tại khoa Nội tiết – ĐTĐ- Bệnh viện Bạch 
Mai và phòng khám Theo yêu cầu - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, từ 
tháng 11 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015. Các tiêu chuẩn đánh giá theo 
khuyến cáo của Hội Tuyến Giáp Hoa kỳ năm 2011. 
Kết quả: Tỷ lệ RLCNTG nói chung: 38,5%. Trong đó, cường giáp 
16,7%, suy giáp 10,9%, tình trạng giảm hormon FT4 10,9%. Suy giáp 
trong thời kỳ mang thai liên quan với: tiền sử mắc bệnh tuyến giáp và 
anti-TPO dương tính. Thai phụ có tiền sử mắc bệnh tuyến giáp có nguy cơ 
bị suy giáp gấp 20,36 lần so với thai phụ không có tiền sử bệnh lý tuyến 
giáp. Thai phụ có anti-TPO (+) có nguy cơ bị suy giáp gấp 4,22 lần thai 
phụ có anti-TPO (-). Chưa tìm thấy mối liên quan giữa cường giáp, tình 
trạng giảm hormon FT4 với các yếu tố liên quan. 
Kết luận: Rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ nữ trong 3 tháng đầu 
thai kỳ là khá phổ biến. Suy giáp trong thai kỳ có liên quan đến tiền sử 
mắc bệnh tuyến giáp và tình trạng Anti- TPO dương tính.
Từ khóa: Rối loạn chức năng tuyến giáp, mang thai 3 tháng đầu, suy 
giáp, cường giáp.
Abstract 
SOME CHARACTERISTICS OF THE THYROID 
DYSFUNCTION IN PREGNANT WOMEN IN THE 
FIRST TRIMESTER 
 Objectives: To identify the prevalence of characteristics of the thyroid 
dysfunction in pregnant women in the first trimester and its some risk factors. 
The material and methods: across – sectional study in 156 women at 
the first trimester at Bach Mai hospital ; National hospital of Obstetrics 
and genecology from 11/2014 to 7/2015 base on ATA’s reference (2011) 
ĐỖ THỊ TUYẾT NHUNG, ĐINH BÍCH THỦY, NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN
52
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
1. Đặt vấn đề
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất, giữ vai 
trò then chốt trong điều hòa chuyển hóa và phát 
triển thần kinh của cơ thể. Trong thời kỳ mang thai, 
tuyến giáp thay đổi rõ rệt. Những sự thay đổi này 
đôi khi là sinh lý, nhưng đôi khi xuất hiện hoặc làm 
thúc đẩy những rối loạn chức năng tuyến giáp, để 
lại những hậu quả nặng nề cho cả mẹ và thai nhi 
nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời .
Đặc biệt trong 3 tháng đầu, thai nhi chưa tự 
sản xuất được hormon tuyến giáp nên phụ thuộc 
hoàn toàn vào lượng hormon của mẹ qua rau 
thai. Do đó, nếu suy giáp xảy ra trong giai đoạn 
sớm của thai kỳ có thể gây hại cho sự phát triển 
não bộ thai nhi, dẫn đến chậm phát triển trí tuệ 
của đứa trẻ về sau [1]. Vì vậy, việc phát hiện sớm 
các rối loạn chức năng tuyến giáp (RLCNTG) ở 
phụ nữ mang thai 3 tháng đầu là cần thiết. Những 
rối loạn trong thời kỳ này thường rất kín đáo do 
triệu chứng lâm sàng bị che lấp bởi các triệu 
chứng của thai nghén nên cần được chẩn đoán 
bằng các biện pháp cận lâm sàng [2]. Để tránh 
sai sót trong chẩn đoán, cần đối chiếu nồng độ 
hormon với các khoảng tham chiếu khuyến cáo 
dành cho đối tượng mang thai, theo từng giai 
đoạn của thai kỳ.
Bên cạnh việc thay đổi các hormon tuyến giáp, 
tình trạng tự kháng thể kháng giáp dương tính gặp 
khá phổ biến, khoảng 10 - 20% phụ nữ mang thai 
ở 3 tháng đầu. Mặc dù chức năng tuyến giáp vẫn 
bình thường, tình trạng này vẫn độc lập làm tăng 
nguy cơ sảy thai lên gấp 3,73 lần, làm tăng tỷ lệ 
nạo phá thai, vô sinh, sinh non và kém đáp ứng thụ 
tinh trong ống nghiệm [3], [4]
Trong những năm gần đây, nhiều công trình 
nghiên cứu được thực hiện khắp nơi trên thế giới 
nhằm tầm soát sớm bệnh lý tuyến giáp trong thời 
kỳ mang thai và có các biện pháp can thiệp nhằm 
làm giảm thiểu các biến chứng trong thai kỳ. Tại Việt 
Nam hiện có ít các nghiên cứu về vấn đề này, chính 
vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: 
Xác định tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp và một 
số yếu tố liên quan ở đối tượng nghiên cứu.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ mang thai đến 
Results: The overall incidence of thyroid dysfuntion was 38.5% including hyperthyroidism (16.7%), 
hypothyroidism (10.9%), hypothyroxinemia (10.9%). Two independent risk factors for hypothyroidism 
were prehistorical thyroid deseases and anti-TPO (+).Woman with prehistorical thyroid deseases 
has 20.36 higher incidence of hypothyroidism than normal. One with anti-TPO (+) has 4,22 higher 
incidence of hypothyroidism compared to anti-TPO (-). The relationship between hyperthyroidism, 
hypothyroxinemia and the high risk factors has not been noted. 
Conclusion: the prevalence of characteristics of the thyroid dysfunction in pregnant women in 
the first trimester are common . Two independent risk factors for hypothyroidism were prehistorical 
thyroid deseases and anti-TPO (+)
Key words: Thyroid dysfunction, pregnant women in the first trimester, hypothyroidism, hyperthyroidism.SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 51 - 57, 2017
53
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
khám tại phòng tái khám khoa Nội tiết – ĐTĐ- Bệnh 
viện Bạch Mai và phòng khám Theo yêu cầu - Bệnh 
viện Phụ Sản Trung ương, từ tháng 11 năm 2014 
đến tháng 7 năm 2015. 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
+ Phụ nữ mang đơn thai, thụ thai tự nhiên, thai 
sống, tuổi thai từ 7 đến hết 13 tuần;
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
+ Thụ thai nhờ các biện pháp hỗ trợ sinh sản: 
IUI, IVF.
+ Đang sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến kết 
quả xét nghiệm như: hormon tuyến giáp, kháng 
giáp trạng, amiodarone, lithium, các chế phẩm 
corticoid, hormon sinh dục (estrogen).
+ Đang mắc các bệnh cấp tính: nhiễm khuẩn, 
lao phổi, suy gan, suy thận.
+ Các thai phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang
Tiến hành nghiên cứu 
- Thu thập số liệu 
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được khám, 
lấy máu xét nghiệm nồng độ FT4, TSH, anti- TPO 
tại khoa Hoá sinh BV Bạch Mai, siêu âm tuyến giáp 
tại khoa Nội tiết- ĐTĐ, BV Bạch Mai
Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm và siêu âm 
tuyến giáp được thu thập, xử lý và đánh giá theo 
các chỉ tiêu (theo mẫu nghiên cứu chung).
- Đánh giá và so sánh: 
Theo tiêu chuẩn của ATA 2011 [1], vì đây là 
tiêu chuẩn mới và rõ ràng nhất về hướng dẫn chẩn 
đoán các RLCNTG dành riêng cho phụ nữ trong 
thời kỳ mang thai và sau sinh. Hiệp hội bao gồm 
các chuyên gia đại diện từ các hiệp hội khắp các 
châu lục (ATA, AOTA, LATS, ACOG). Đồng thời 
hướng dẫn của ATA cũng được đồng thuận AACE, 
AES trong các hướng dẫn lâm sàng.
• Chẩn đoán suy giáp:
- Suy giáp lâm sàng được xác định trong 2 
trường hợp sau:
+ Nồng độ TSH ≥10 mIU /l.
+ 2,5 mIU/l < TSH < 10 mIU/l và nồng độ FT4 
< 12 pmol/l
- Suy giáp dưới lâm sàng được xác định khi 
TSH từ 2,5- 10 mIU/l và nồng độ FT4 trong giới 
hạn bình thường. 
• Chẩn đoán cường giáp: 
- Cường giáp lâm sàng được xác định khi định 
lượng nồng độ TSH < 0,1 mIU/l và nồng độ FT4 
cao (> 23,34 pmol/l).
- Cường giáp dưới lâm sàng được xác định khi 
nồng độ TSH < 0,1 mIU/l và nồng độ FT4 trong 
giới hạn bình thường (từ 12,0-23,34 mIU/l).
• Chẩn đoán tình trạng giảm hormon FT4 khi 
TSH bình thường (từ 0,1-2,5 mIU/l) và nồng độ FT4 
giảm (< 12,0 pmol/l). 
• Rối loạn chức năng tuyến giáp thai kỳ:
Thai phụ được xác định là có RLCNTG khi được 
chẩn đoán 1 trong 3 rối loạn sau: suy giáp, cường 
giáp, tình trạng giảm FT4.
Chúng tôi khảo sát 10/15 yếu tố theo hướng 
dẫn của ATA 2011, trong đó không khảo sát các 
yếu tố: vô sinh, điều trị amiodarone hoặc lithium, 
triệu chứng gợi ý và phơi nhiễm phóng xạ vì các 
yếu tố này thuộc tiêu chuẩn loại trừ hoặc khó đánh 
giá. Các yếu tố bao gồm:
- Tiền sử mắc bệnh tuyến giáp (suy giáp, cường 
giáp, viêm tuyến giáp sau sinh, đã phẫu thuật 
tuyến giáp)
- Tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp
- Mắc ĐTĐ typ 1
- Có mắc bệnh tự miễn khác: lupus, viêm khớp 
tự miễn.
- Phụ nữ có bướu cổ
- Anti-TPO (+)
- Tiền sử sảy thai, thai lưu hoặc sinh non
- Tiền sử xạ trị vùng cổ hoặc tuyến giáp
- Béo phì bệnh lý (BMI ≥ 40 kg/m2)
- Tuổi trên 30
2.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu với phần mềm SPSS 16.0.
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Nhận xét: Các đối tượng trong nghiên cứu của 
chúng tôi trung bình 28,45 với tuần thai trung 
bình 11 tuần. Không có thai phụ nào có BMI ≥ 40 
kg/m2. 
Đặc điểm TB± SD Min Max
Tuổi 28,45 ± 4,22 19 43
Tuần thai (tuần) 11,42 ± 1,97 6 13
BMI (kg/m2) 20,45 ± 2,26 15,82 28,72
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
ĐỖ THỊ TUYẾT NHUNG, ĐINH BÍCH THỦY, NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN
54
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
3.2. Các rối loạn chức năng tuyến giáp 
- Tỷ lệ các rối loạn chức năng tuyến giáp.
+ Tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp
Nhận xét: Có 38,5% số thai phụ trong nghiên 
cứu bị các RLCNTG. Tỷ lệ các thai phụ không bị 
RLCNTG là 61,5%.
+ Phân loại các rối loạn chức năng tuyến giáp.
Nhận xét: Các rối loạn chức năng tuyến giáp 
ở các thai phụ trong nghiên cứu bao gồm: 17 
người bị suy giáp (10,9%), 26 người bị cường 
giáp (16,7%) và 17 người (10,9%) có tình trạng 
tình trạng giảm hormon FT4. Trong nhóm nghiên 
cứu có 96 thai phụ có chức năng tuyến giáp bình 
thường, chiếm 61,5%.
3.3. Mối liên quan giữa TSH và FT4; hình 
ảnh tự miễn trên SATG với anti-TPO
- Rối loạn chức năng tuyến giáp với một số yếu 
tố liên quan.
• Suy giáp với tiền sử bệnh lý tuyến giáp.
Nhận xét: Tỷ lệ suy giáp ở nhóm có tiền sử mắc 
bệnh lý tuyến giáp là 75% lớn hơn ở nhóm không có 
tiền sử mắc bệnh tuyến giáp (12,8%), có ý nghĩa thống 
kê với p < 0,05. Như vậy nếu thai phụ có tiền sử mắc 
bệnh tuyến giáp sẽ nguy cơ bị suy giáp gấp 20,36 lần 
thai phụ không có tiền sử bệnh lý tuyến giáp.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ các rối loạn chức năng tuyến giáp
Các rối loạn Số lượng Tỷ lệ (%)
Suy giáp
Lâm sàng 3
17 10,9
Dưới lâm sàng 14
Cường giáp
Lâm sàng 4
26 16,7
Dưới lâm sàng 22
Tình trạng giảm hormon FT4 17 10,9
Bình giáp 96 61,5
Tổng 156 100
Bảng 2. Các rối loạn chức năng tuyến giáp
Có tiền sử Không có tiền sử P OR 95%CI
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Suy giáp 3 75,0 14 12,8
0,01 20,36 1,98 - 209,58Bình giáp 1 25,0 95 87,2
Tổng 4 100 109 100
Bảng 3. Suy giáp với tiền sử bệnh lý tuyến giáp
• Suy giáp với anti-TPO dương tính
Nhận xét: Tỷ lệ suy giáp ở nhóm có anti-TPO 
(+) là 35,3% lớn hơn ở nhóm có anti-TPO âm tính 
(11,5%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 
0,05. Và nếu thai phụ có anti-TPO (+) sẽ có nguy 
cơ bị suy giáp gấp 4,22 lần thai phụ anti-TPO (-). 
Chúng tôi không tìm thấy mối liên quan nào giữa 
cường giáp và tình trạng giảm hormon FT4 với các 
yếu tố liên quan
- Anti-TPO với yếu tố liên quan
• Anti-TPO với tiền sử sảy thai, thai lưu hoặc 
đẻ non.
Nhận xét: Tỷ lệ anti-TPO (+) ở nhóm có tiền 
sử sảy thai, thai lưu, hoặc đẻ non là 25,0% lớn 
hơn ở nhóm không có tiền sử (10,7%), sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Và nếu 
thai phụ có tiền sử sảy thai, thai lưu, hoặc đẻ 
non sẽ có nguy cơ có anti-TPO (+) gấp 2,78 lần 
thai phụ không có tiền sử sảy thai, thai lưu hoặc 
đẻ non.
• Anti-TPO với mắc bệnh ĐTĐ typ 1
Nhận xét: Tỷ lệ anti-TPO (+) ở nhóm mắc ĐTĐ 
typ 1 là 60,0% lớn hơn ở nhóm không mắc ĐTĐ typ 
1 (13,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 
< 0,05. Như vậy nếu thai phụ có mắc ĐTĐ typ 1 
sẽ nguy cơ có anti-TPO (+) gấp 9,825 lần thai phụ 
không mắc ĐTĐ typ 1.
• Anti-TPO với tuổi trên 30, tiền sử bệnh lý 
tuyến giáp và bướu cổ
Anti-TPO (+) Anti-TPO (-) P OR 95%CI
n % n %
Suy giáp 6 35,3 11 11,5
0,02 4,22 1,30 - 13,67Bình giáp 11 64,7 85 88,5
Tổng 17 100% 96 100
Bảng 4: Suy giáp với anti-TPO dương tính
Có tiền sử Không có tiền sử P OR 95%CI
n % n %
Anti-TPO (+) 11 25,0 12 10,7
0,02 2,78 1,121-6,886Anti-TPO (-) 33 75,0 100 89,3
Tổng 44 100 112 100
Bảng 5. Anti-TPO với tiền sử sảy thai, thai lưu hoặc đẻ non
Có mắc ĐTĐ typ 1 Không mắc ĐTĐ typ 1 P OR 95%CI
n % n %
Anti-TPO (+) 3 60,0 20 13,2
0,004 9,825 1,545-62,487Anti-TPO (-) 2 40,0 131 86,8
Tổng 5 100 151 100
Bảng 6. Anti-TPO với mắc bệnh ĐTĐ typ 1
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 51 - 57, 2017
55
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Nhận xét: Không có sự khác biệt về tỷ lệ anti-
TPO (+) ở nhóm tuổi trên 30 và nhóm dưới 30 tuổi. 
- Tỷ lệ anti-TPO dương tính ở nhóm có tiền sử và 
nhóm không có tiền sử bệnh lý tuyến giáp ko có sự 
khác biệt có ý nghĩa với p > 0,05. 
- Tỷ lệ anti-TPO dương tính ở nhóm có bướu cổ 
từ độ II trở lên cao hơn ở nhóm độ bướu cổ độ I và 
độ 0, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa 
thống kê với p > 0,05. 
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 
Theo ATA 2011 thì trên 30 tuổi sẽ làm tăng 
nguy cơ mắc các RLCNTG. Nhóm trên 30 tuổi có 
40 thai phụ, chiếm 25,6%. Tỷ lệ gặp nhóm tuổi này 
của tác giả Nguyễn Thị Tường Vân là 43,3%.
Khái niệm béo phì bệnh lý (morbidly obese) 
được tìm thấy trong các tài liệu của Hoa Kỳ. Ở Châu 
Á, mức BMI nào để xác định béo phì bệnh lý vẫn 
chưa rõ ràng. Vì thể trạng người Châu Á, đặc biệt 
là Đông Nam Á có những đặc điểm riêng, vì vậy 
cần có những nghiên cứu sâu hơn để xác định mức 
BMI làm tăng tỷ lệ mắc bệnh suy giáp trong thai kỳ.. 
BMI trung bình trước khi mang thai của các thai phụ 
trong nghiên cứu của chúng tôi là 20,45 ± 2,26 kg/
m2, thấp nhất là 15,82 kg/m2 và cao nhất là 28,72 
kg/m2. Tỷ lệ thai phụ có thể trạng bình thường (BMI 
từ 18,5 - 22,9 kg/m2) chiếm chủ yếu (65,4%). Tỷ lệ 
thừa cân và béo phì chiếm 16%. Chúng tôi không 
gặp thai phụ có BMI ≥ 40 kg/m2.
Theo phân loại ICD-10 của WHO 3 tháng đầu 
thai kỳ bao gồm tuần thai trước 14 tuần. Ba tháng 
đầu thai kỳ là giai đoạn có nhiều biến đổi các chỉ số 
nội tiết. Hai hormon hCG và estrogen là hai hormon 
biến động nhiều nhất và tác động mạnh mẽ lên chức 
năng tuyến giáp. Sự tác động này là sinh lý, nhưng 
cũng có thể làm thúc đẩy, xuất hiện các rối loạn chức 
năng tuyến giáp. Bên cạnh đó giai đoạn này đặc 
biệt quan trọng vì sự phát triển hệ thần kinh của thai 
Yếu tố n
Anti-TPO (+) P
n %
Trên 30 tuổi
Có 40 5 12,5
0,79
Không 116 18 15,5
TS bệnh lý tuyến giáp
Có 4 2 50,0
0,10
Không 152 21 13,8
Bướu giáp từ độ II trở lên
Có 22 16 27,3
0,78
Không 134 7 12,7
Bảng 7. Anti-TPO với tuổi trên 30, tiền sử bệnh lý tuyến giáp và bướu cổ nhi phụ thuộc hoàn toàn vào lượng hormon tuyến 
giáp của mẹ. Nếu sự thiếu hụt xảy ra trong giai đoạn 
này, có thể gây chậm phát triển tâm thần và giảm chỉ 
số thông minh của trẻ sau này. Chính vì vậy đây là 
nhóm đối tượng cần quan tâm và tầm soát để kịp thời 
phát hiện các rối loạn chức năng tuyến giáp.
Các thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi có 
tuần thai trung bình là 11,42 ± 1,97 tuần. Trong 
đó tuần thai nhỏ nhất là 6 tuần và tuần thai lớn 
nhất là 13 tuần. Nhóm tuần thai từ 11 - 13 có 125 
thai phụ chiếm 80,1%.
4.2. Rối loạn chức năng tuyến giáp
Tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp ở phụ 
nữ mang thai là khá phổ biến. Tỷ lệ này khác nhau 
giữa các quốc gia, phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn 
đoán, đặc điểm dân cư, dinh dưỡng và chế độ 
chăm sóc y tế [1].
Nghiên cứu thấy có 38,5% số thai phụ bị 
các RLCNTG bao gồm: 17 thai phụ bị suy giáp 
(10,9%), 26 thai phụ bị cường giáp (16,7%) và 17 
(10,9%) thai phụ có tình trạng giảm hormon FT4. 
Trong nhóm nghiên cứu có 96 thai phụ có chức 
năng tuyến giáp bình thường, chiếm 61,5%.
Tác giả chưa thấy có tác giả nào trong nước 
thống kê và phân loại từng RLCNTG. So sánh với 
nghiên cứu trong khu vực Châu Á, chúng tôi thấy 
kết quả cũng phù hợp với nghiên cứu của tác giả 
Wang [5], với RLCNTG gặp ở 10,2% số thai phụ 
(cường giáp gặp 1,8%, suy giáp gặp 7,5% và tình 
trạng giảm hormon FT4 là 0,9%). 
4.3. Suy giáp
Suy giáp là bệnh lý hay gặp thứ hai trong thời 
kỳ mang thai, chỉ sau ĐTĐ thai kỳ. Suy giáp dù là 
suy giáp lâm sàng hay dưới lâm sàng đều có bằng 
chứng gây ra các kết cục không tốt cho mẹ và thai 
nhi [3]. Việc điều trị suy giáp có thể cải thiện các 
kết cục này, và giúp cho các bà mẹ có một thai kỳ 
bình thường và hạnh phúc hơn nữa là có những 
đứa con khỏe mạnh.
Theo tiêu chuẩn của ATA 2011, trong nghiên 
cứu có 17 thai phụ (chiếm 10,9%) được chẩn đoán 
là suy giáp; trong đó có 4 thai phụ chẩn đoán suy 
giáp lâm sàng (2,6%) và 13 thai phụ được chẩn 
đoán suy giáp dưới lâm sàng (8,3%). 
Cho đến nay, ở Việt Nam chúng tôi chưa thấy 
nghiên cứu nào báo cáo tỷ lệ suy giáp trong thai kì 
theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ATA 2011. Trên thế 
ĐỖ THỊ TUYẾT NHUNG, ĐINH BÍCH THỦY, NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN
56
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
giới, tỷ lệ này cũng chênh lệch khá nhiều giữa các 
nghiên cứu của các tác giả khác nhau, tùy thuộc 
vào cách áp dụng khoảng tham chiếu của TSH. Ở 
Trung Quốc, nghiên cứu của Yang [6] lấy giới hạn 
trên của TSH là 3,47 mIU/l thì tỷ lệ suy giáp gặp 
4,4% . Còn tỷ lệ này trong nghiên cứu của Wang là 
7,5% [5]. Tác giả Li nghiên cứu 4800 phụ nữ Trung 
Quốc mang thai kỳ đầu thấy tỷ lệ suy giáp dưới 
lâm sàng khá cao (27,8%) nếu sử dụng tiêu chuẩn 
chẩn đoán của ATA 2011.
Tỷ lệ suy giáp của chúng tôi khá lớn, tương tự 
các tác giả trên thế giới. So với báo cáo trước đây 
khi áp dụng tiêu chuẩn cũ cho người không mang 
thai thì tỷ lệ thai phụ được xếp vào nhóm suy giáp 
ở nghiên cứu của chúng tôi tăng lên nhiều. Do đó, 
một số lượng lớn hơn các thai phụ sẽ được chẩn 
đoán sớm và được hưởng chế độ chăm sóc thai sản 
chu đáo hơn. Qua đó góp phần giảm bớt các tai 
biến không mong muốn trong thai kỳ. 
4.4. Cường giáp 
Cường giáp trong thời kỳ mang thai hay gặp 
trong 3 tháng đầu thai kỳ. Có 2 nguyên nhân hay 
gặp nhất là cường giáp thoáng qua do thai nghén 
và cường giáp do bệnh Basedow.
Nghiên cứu của chúng tôi có 26/156 thai phụ 
bị cường giáp, chiếm 16,7%, trong đó chủ yếu là 
cường giáp dưới lâm sàng (13,46%), cường giáp 
lâm sàng 3,2%. Tỷ lệ này rất cao so với các báo 
cáo trên thế giới.
Ở Việt Nam, hiện có rất ít các nghiên cứu báo 
cáo tỷ lệ cường giáp trong thời kỳ mang thai. Tác 
giả Nguyễn Hải Thủy gặp từ 0,1 đến 1,0% cường 
giáp do bệnh Basedow và 1 - 3% cường giáp do 
thai nghén. Tác giả Trương Đình Tá [7] không gặp 
thai phụ nào trong 3 tháng đầu có TSH < 0,1 mIU/l 
trong tổng số 30 thai phụ nghiên cứu. Tác giả Lê 
Thị Mai Dung báo cáo có 6,76% trường hợp TSH 
< 0,1 mIU/l (n = 133).
Ở Trung Quốc, tác giả Wang gặp 1,8% số thai 
phụ trong thời kì mang thai 3 tháng đầu có TSH < 
0,13 mIU/l được chẩn đoán là cường giáp (lâm 
sàng và dưới lâm sàng), tác giả Yang có 1,0% TSH 
< 0,09 mIU/l được chẩn đoán là cường giáp trong 
thời kỳ mang thai 3 tháng đầu (0,5% cường giáp 
lâm sàng và 0,5% cường giáp dưới lâm sàng). 
Như vậy, tỷ lệ cường giáp của chúng tôi khác với 
các tác giả khác chủ yếu là ở nhóm cường giáp dưới 
lâm sàng. Tỷ lệ này ở nghiên cứu của chúng tôi khá 
cao. Tuy nhiên, nhiều tác giả nhận định cường giáp 
dưới lâm sàng không liên quan đến các biến cố thai 
sản mà chủ yếu liên quan đến cường giáp thai nghén 
thoáng qua. Để có thể chẩn đoán rõ ràng hơn chúng 
tôi cần có các xét nghiện sâu hơn như TRAb, β-hCG 
mới có thể nhận định được [8]. Bên cạnh đó, do địa 
điểm lấy mẫu nghiên cứu tại các phòng khám Nội tiết 
và Sản khoa. Tỷ lệ này ở cộng đồng sẽ lớn hơn nhiều 
do tâm lý thai phụ chỉ đi khám khi bản thân họ có 
bệnh lý tuyến giáp từ trước, triệu chứng lâm sàng khó 
chịu hoặc có yếu tố nguy cơ nào đó. Như chúng tôi 
thống kê ở trên, tỷ lệ thai phụ có các yếu tố nguy cơ là 
khá cao. Do đó, tỷ lệ bệnh lý mà chúng tôi thu được 
chỉ đại diện cho quần thể thai phụ đến khám bệnh. 
Tỷ lệ này sẽ cao hơn nếu ở cộng đồng. Để có cái nhìn 
tổng quan về rối loạn chức năng tuyến giáp thai kỳ ở 
Việt Nam, cần tiến hành các nghiên cứu lớn hơn và 
rộng khắp tại cộng đồng.
4.5. Siêu âm tuyến giáp
Đây là tình trạng thiếu hormon tuyến giáp thường 
liên quan đến iod. Một vài nghiên cứu cho rằng tình 
trạng giảm hormon FT4 ít có liên quan đến các kết 
cục bất lợi trong thai kỳ. Tuy nhiên tình trạng này 
ảnh hưởng đến sự hình thành hệ thần kinh của thai 
nhi và phát triển tâm thần kinh của trẻ về sau [9].
Trong 156 thai phụ tham gia nghiên cứu, chúng 
tôi thấy có 17 thai phụ (chiếm 10,9%) có mức FT4 
dưới 12,0 pmol/l đồng thời mức TSH trong giới 
hạn bình thường, được chẩn đoán là có tình trạng 
giảm hormon FT4. Trong số đó mức FT4 thấp nhất 
là 10,1 pmol/l. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của 
Wang là 1,3% và của Yang là 0,9%. 
4.6. Tình trạng giảm FT4
Các hiệp hội ES 2007, ATA 2011, AACE, ES 
2012 cho rằng việc tầm soát rối loạn chức năng 
tuyến giáp nên dựa trên nhóm nguy cơ. Năm 
2007, Hội nội tiết ES đưa ra khuyến cáo tầm soát 
rối loạn chức năng tuyến giáp trên những yếu tố 
gồm: thai phụ có triệu chứng; thai phụ có tiền sử 
bệnh tuyến giáp; và thai phụ mắc bệnh liên quan 
đến tuyến giáp như ĐTĐ typ1. 
Tuy nhiên, tác giả Vaidya cho rằng nếu tầm 
soát trên các đối tượng nguy cơ theo hướng dẫn của 
ES 2007 thì sẽ bỏ lỡ 1/3 thai phụ bị suy giáp. Tác 
giả Wang cũng có kết luận tương tự nhau rằng việc 
áp dụng tầm soát đối với những phụ nữ có nguy cơ 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 51 - 57, 2017
57
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
sẽ bỏ sót gần 1/3 số người bị suy giáp trong giai 
đoạn sớm thai kỳ. Do đó, Wang ủng hộ việc áp 
dụng tầm soát rộng rãi trong giai đoạn sớm của thai 
kỳ để phát hiện những bất thường của tuyến giáp.
Mặc dù vậy các hiệp hội trên cũng cho rằng không 
có bằng chứng ủng hộ cho tầm soát trên tất cả các phụ 
nữ mang thai. Năm 2011, ATA đã đưa ra khuyến cáo 
tầm soát chức năng tuyến giáp trên đối tượng nguy cơ 
được mở rộng hơn, gồm 15 yếu tố [10].
Trong nghiên cứu của chúng tôi yếu tố hay gặp 
nhất trên thai phụ là có tiền sử sảy thai, thai lưu; 
tuổi lớn hơn 30; bướu cổ và tình trạng anti-TPO 
dương tính. Nghiên cứu của Wang và Yang cũng 
thấy tần số các yếu tố hay gặp tương tự như nghiên 
cứu của chúng tôi.
Nghiên cứu của chúng tôi, không gặp thai phụ 
nào có tiền sử gia đình bị bệnh lý tuyến giáp. Trong 
khi tác giả Wang và Yang gặp 0,5% và 6,2%. Điều 
này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ hơn nhiều 
so với cỡ mẫu của 2 ông. Có thể cần khảo sát ở cỡ 
mẫu lớn hơn mới nhận định được điều này.
Chúng tôi không gặp thai phụ nào có BMI ≥ 
40 kg/m2 hay có tiền sử chiếu xạ. Điều này cũng 
tương tự 2 tác giả Wang và Yang, mặc dù có mẫu 
nghiên cứu lớn. Cũng có thể đây là 2 yếu tố hiếm 
gặp ở dân cư Châu Á.
4.7. Rối loạn chức năng tuyến giáp và 
một số yếu tố liên quan
Hai yếu tố nguy cơ độc lập với suy giáp trong 
thời kỳ mang thai là: tiền sử mắc bệnh tuyến giáp 
và anti-TPO dương tính. 
+ Thai phụ có tiền sử mắc bệnh tuyến giáp có 
nguy cơ bị suy giáp gấp 20,36 lần so với thai phụ 
không có tiền sử bệnh lý tuyến giáp.
 + Thai phụ có anti-TPO (+) có nguy cơ bị suy 
giáp gấp 4,22 lần thai phụ có anti-TPO (-). 
Chúng tôi chưa tìm thấy mối liên quan giữa 
cường giáp, tình trạng giảm hormon FT4 với các 
yếu tố liên quan.
Anti-TPO (+) có liên quan với 2 yếu tố: tiền sử 
sảy thai, thai lưu hoặc đẻ non và mắc ĐTĐ typ 1. Kết 
luận này tương tự như các tác giả Wang và Yang. 
5. Kết luận
Tỷ lệ RLCNTG nói chung: 38,5%. Trong đó, 
cường giáp 16,7%, suy giáp 10,9%, tình trạng giảm 
hormon FT4 10,9%. Suy giáp trong thời kỳ mang 
thai liên quan với: tiền sử mắc bệnh tuyến giáp và 
anti-TPO dương tính. Thai phụ có tiền sử mắc bệnh 
tuyến giáp có nguy cơ bị suy giáp gấp 20,36 lần 
so với thai phụ không có tiền sử bệnh lý tuyến giáp. 
Thai phụ có anti-TPO (+) có nguy cơ bị suy giáp gấp 
4,22 lần thai phụ có anti-TPO (-). Chưa tìm thấy mối 
liên quan giữa cường giáp, tình trạng giảm hormon 
FT4 với các yếu tố liên quan. Tỷ lệ rối loạn chức 
năng tuyến giáp ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai là 
khá lớn. Cần tầm soát để kịp thời phát hiện và điều 
trị nhằm giảm thiểu các biến chứng cho mẹ và con. 
Tài liệu tham khảo
1. Stagnaro-Green A và Abalovich M, Alexander E. Guidelines of the 
American Thyroid Association for the Diagnosis and Management of 
Thyroid Disease During Pregnancy and Postpartum: Thyroid; 2011.
2. Đỗ Thị Thu Thủy và Vũ Văn Tâm, Lưu vũ Dũng. Nghiên cứu ảnh 
hưởng của suy giáp thai kỳ đến mẹ và thai nhi tại Bệnh viện phụ sản 
Hải Phòng. In: Tạp chí phụ sản, 12(02); 2014.tr. 120-122.
3. A Stagnaro-Green. Thyroid antibodies and miscarriage: where are we 
at a generation later?: J Thyroid Res, 841949(10); 2011 pp. 12.
4. Negro R và Schwartz A, Gismondi R. Increased pregnancy loss rate in 
thyroid antibody negative women with TSH levels between 2.5 and 5.0 in 
the first trimester of pregnancy. In: J Clin Endocrinol Metab, vol 95;2010. 
pp. 44-48.
5. Wang W và Teng W, shan Z, Hong Wang. The prevalence of thyroid 
disorders during early pregnancy in China: the benefits of universal 
screening in the first trimester of pregnancy. In: Eur J Endocrinol, vol 
164(2); 2011. pp. 263-8.
6. Yang H và Minglong Shao, Lechu Yu. Screening Strategies for thyroid 
disorder in the first and second trimester of pregnancy in China: Plos One; 
2014. 12(9(6).
7. Trương Đình Tá. Nghiên cứu tỷ lệ bất thường nồng độ TSH và 
TPO-ab trên phụ nữ mang thai. 2009: Luận văn tốt nghiệp Cử nhân kỹ 
thuật y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
8. Glinoer D. Management of hypo- and hyperthyroidism during 
pregnancy. In: Growth horm IGF Res, vol 13A; 2013. pp. 45-54.
9. Vejbjerg P và Knudsen N, Perild H. The association between 
hypoechogenicity or irregular echo pattern at thyroid ultrasonography and 
thyroid function in the general population: Eur J Endocrinol, vol 155(4); 
2006. pp. 547-52.
10. Negro R và Stagnaro-Green A. Thyroid autoantibodies, preterm birth, 
and miscarriage, BMJ; 2011.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_tinh_trang_roi_loan_chuc_nang_tuyen_giap_o_phu_nu_t.pdf