Nhận xét tình hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong sáu tháng cuối năm 2015

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung

ương (BVPSTƯ) trong sáu tháng cuối năm 2015. Nhận xét đặc điểm,

thái độ xử trí và kết quả đẻ song thai trong giai đoạn trên.

Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các sản phụ chửa song thai, có tuổi thai

từ 23 tuần trở lên, sinh tại BVPSTƯ từ 01/07/2015 đến 31/12/2015.

Phương pháp: Mô tả cắt ngang bằng phương pháp hồi cứu.

Kết quả: Tỷ lệ đẻ song thai: 5,7%. Tỷ lệ mổ lấy thai: 81,6%. Đẻ song

thai gặp nhiều nhất ở tuổi mẹ 25– 34 tuổi, có thai lần đầu, tuổi thai 33

– 37 tuần, ngôi thai đầu – đầu và đầu – mông. Có 42,7% trường hợp

mổ lấy thai trong song thai là do thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON),

23,8% do ối vỡ non - ối vỡ sớm, 19,2% do bệnh lý của mẹ. Không

có tai biến nghiêm trọng cho mẹ. Trọng lượng thai 2000 - <>

33,9%, 2500 - <3000g: 28,9%.="" trẻ="" tử="" vong:="">

Kết luận: Tỷ lệ đẻ song thai cao, gặp nhiều ở song thai non tháng.

Tỷ lệ mổ lấy thai cao, chỉ định nhiều nhất là thai TTTON. Trẻ tử vong

chiếm tỷ lệ cao, không có tai biến nghiêm trọng cho mẹ.

pdf 6 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét tình hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong sáu tháng cuối năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét tình hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong sáu tháng cuối năm 2015

Nhận xét tình hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong sáu tháng cuối năm 2015
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG, NGUYỄN THANH PHONG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
80
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Thị Lan Hương(1), Nguyễn Thanh Phong(2)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội
NHẬN XÉT TÌNH HÌNH ĐẺ SONG THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG 
TRONG SÁU THÁNG CUỐI NĂM 2015
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương (BVPSTƯ) trong sáu tháng cuối năm 2015. Nhận xét đặc điểm, 
thái độ xử trí và kết quả đẻ song thai trong giai đoạn trên. 
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các sản phụ chửa song thai, có tuổi thai 
từ 23 tuần trở lên, sinh tại BVPSTƯ từ 01/07/2015 đến 31/12/2015. 
Phương pháp: Mô tả cắt ngang bằng phương pháp hồi cứu.
Kết quả: Tỷ lệ đẻ song thai: 5,7%. Tỷ lệ mổ lấy thai: 81,6%. Đẻ song 
thai gặp nhiều nhất ở tuổi mẹ 25– 34 tuổi, có thai lần đầu, tuổi thai 33 
– 37 tuần, ngôi thai đầu – đầu và đầu – mông. Có 42,7% trường hợp 
mổ lấy thai trong song thai là do thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), 
23,8% do ối vỡ non - ối vỡ sớm, 19,2% do bệnh lý của mẹ. Không 
có tai biến nghiêm trọng cho mẹ. Trọng lượng thai 2000 - < 2500g: 
33,9%, 2500 - <3000g: 28,9%. Trẻ tử vong: 8,9%. 
Kết luận: Tỷ lệ đẻ song thai cao, gặp nhiều ở song thai non tháng. 
Tỷ lệ mổ lấy thai cao, chỉ định nhiều nhất là thai TTTON. Trẻ tử vong 
chiếm tỷ lệ cao, không có tai biến nghiêm trọng cho mẹ. 
Từ khóa: Song thai.
Abstract 
RREVIEWS THE TWINS BIRTH SITUATION AT 
NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND 
GYNECOLOGY IN THE LAST 6 MONTHS OF 2015
Objective: Identify the twins birth rate in the National Hospital of 
Obstetrics and Gynecology in the last six months of 2015. Comment 
characteristics, attitude and results twins birth in this time. 
Study subjects: All twins pregnant women, from 23 weeks pregnant 
or more, born in National Hospital of Obstetrics and Gynecology from 
07/01/2015 to 31/12/2015.
Research methods: cross-sectional descriptive, retrospective method.
Results: The twins birth rate was 5.7%. The rate of caesarean in 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Lan Hương, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Song thai
Keywords: twins
- Các sản phụ chửa song thai, có tuổi thai từ 23 
tuần trở lên, sinh tại BVPSTƯ từ 01/07/2015 đến 
31/12/2015.
- Hồ sơ bệnh án phải đảm bảo có đủ các thông 
tin cần thiết của sản phụ và trẻ sơ sinh theo yêu cầu 
của nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Thiếu các dữ liệu cơ bản trong hồ sơ nghiên cứu.
- Sản phụ sinh tại nơi khác, chuyển đến bệnh 
viện trong cùng khoảng thời gian nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng phương 
pháp hồi cứu số liệu trên hồ sơ bệnh án đã có.
2.2.2. Cách chọn mẫu
Lấy toàn bộ bệnh án của các sản phụ đẻ song 
thai tại BVPSTƯ, tuổi thai từ 23 tuần trở lên, điều trị 
tại khoa Sản I, Sản II, Sản III và Điều trị theo yêu 
cầu, từ ngày 01/07/2015 đến 31/12/2015. Vì 
vậy không áp dụng công thức tính cỡ mẫu. 
Tổng số: 618 trường hợp.
2.2.3. Phân tích và xử lý số liệu
- Tất cả các số liệu được tổng hợp và quản lý 
bằng chương trình Excel – Office.
- Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm 
SPSS 16.0.
3. Kết quả
3.1. Tỷ lệ đẻ song thai
Trong 6 tháng cuối năm 2015 có 618 trường 
hợp đẻ song thai tại BVPSTƯ thoả mãn các tiêu 
chuẩn nghiên cứu, trong đó có 504 trường hợp mổ 
lấy thai, 114 trường hợp đẻ đường âm đạo.
Tỷ lệ đẻ song thai là 5,7%. Đẻ song thai bằng 
phương pháp mổ chiếm tỷ lệ 8,5% trên tổng số mổ 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 80 - 85, 2016
81
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Song thai là trường hợp đặc biệt của thai nghén 
và được cho rằng đó là thai nghén có nguy cơ cao vì 
thường gây những hậu quả xấu cho mẹ và thai, nhất 
là sinh non - nguyên nhân hàng đầu gây bệnh lý và 
tử vong ở trẻ sơ sinh [1-2]. Cùng với sự phát triển của 
y học hiện đại áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản 
tiên tiến, tỷ lệ đa thai mà chủ yếu là song thai đã tăng 
lên một cách đáng kể trong một thập kỷ qua. Các thai 
phụ chửa song thai đối mặt với nguy cơ cao mắc một 
số bệnh lý đặc biệt như: tiền sản giật, đẻ non, đái 
tháo đường thai nghén, băng huyết sau sinh... Thống 
kê cho thấy tỷ lệ đẻ non trong song thai có thể chiếm 
trên 50% các trường hợp, trong đó gần 20% đẻ non 
trước 28 tuần [3]. Bên cạnh nguy cơ tử vong cao cho 
trẻ sơ sinh, đẻ non còn thường để lại các di chứng 
lâu dài cho sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ, 
tăng thêm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Việc xử 
trí đẻ song thai cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm 
khác nhau. Tỷ lệ mổ lấy thai trong đẻ song thai ngày 
càng cao do lý do sản khoa cũng như lý do xã hội. 
Để góp phần nghiên cứu một cách toàn diện về 
mang thai và đẻ song thai trong thời gian gần đây, 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nhận xét 
tình hình đẻ song thai tại BVPSTƯ trong sáu tháng 
cuối năm 2015” với mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương trong sáu tháng cuối năm 2015.
2. Nhận xét một số đặc điểm, thái độ xử trí và 
kết quả đẻ song thai trong giai đoạn trên.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
twins birth was 81.6%. Twins birth were most frequently the mothers aged from 25 to 34 years old, 
first pregnancy, 33-37 weeks pregnant, head - head and head – buttock fetal. 42.7% of cesarean 
indications were in vitro fertilization, 23.8% were premature rupture of membranes, 19.2% were 
maternal diseases. There were not serious complications for the mothers. Foetus weight of 2000 - 
<2500 gram were 33.9%, 2500 - <3000g were 28.9%. The child mortality rate was 8.9%. 
Conclusion: The twins birth rate was high, occured more frequently in preterm twins. The rate of 
caesarean was high, the most indications were in vi tro fertilization pregnancy. Child mortality was 
high, there were not serious complications for the mother. 
Keywords: twins.
(34,5% và 34,3%), khác biệt có ý nghĩa thống kê 
với các ngôi còn lại (p< 0,05).
3.5. Các chỉ định mổ lấy thai trong đẻ 
song thai
*CTC: cổ tử cung
*IUI: Intra-Uterine Insemination (Bơm tinh trùng 
vào buồng tử cung)
*OVS, OVN: ối vỡ sớm, ối vỡ non
Chỉ định mổ lấy thai do nguyên nhân TTTON 
(42,7%), ối vỡ sớm - ối vỡ non (23,8%) và bệnh lý 
của mẹ (19,2%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 
các chỉ định mổ lấy thai còn lại (p< 0,05).
3.6. Cách dự phòng và xử trí biến 
chứng chảy máu sau đẻ, mổ lấy thai
P < 0.05
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG, NGUYỄN THANH PHONG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
82
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
lấy thai. Đẻ song thai bằng đường âm đạo chiếm tỷ 
lệ 2,3% trên tổng số đẻ đường âm đạo.
3.2. Một số đặc điểm của đối tượng 
nghiên cứu
Đẻ song thai gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 25 – 29 
và 30 – 34, các sản phụ làm nghề tự do và có thai 
lần đầu. Số lượng các sản phụ sống tại Hà Nội và 
các tỉnh khác là tương đương . Tuổi thai đẻ song 
thai hay gặp nhất là 33 – 37 tuần (47,2%) .
3.3. Phân bố cách đẻ song thai
Tỷ lệ mổ lấy thai (81,6%) cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nhóm đẻ thường (18,4%) với p< 0,05.
3.4. Tỷ lệ các ngôi thai trong đẻ 
song thai
Tỷ lệ ngôi đầu – đầu và đầu - mông là cao nhất 
Đặc điểm Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ đẻ song thai/ Tổng số đẻ (Tổng số đẻ 6 tháng cuối năm:10839) 5,7
Tỷ lệ đẻ song thai bằng phương pháp mổ/ Tổng số mổ lấy thai 
(Tổng số mổ lấy thai 6 tháng cuối năm: 5931) 8,5
Tỷ lệ đẻ song thai bằng đường âm đạo/ Tổng số đẻ đường âm đạo 
(Tổng số đẻ đường âm đạo 6 tháng cuối năm: 4908) 2,3
Bảng 1. Tỷ lệ đẻ song thai
TT Đặc điểm Số lượng (n= 618) Tỷ lệ (%)
1 Tuổi sản phụ (tuổi)
< 20 10 1,6
20- 24 86 13,9
25- 29 220 35,6
30- 34 209 33,8
>= 35 93 15,0
2 Nơi ở
Hà Nội 310 50,2
Tỉnh khác 308 49,8
3 Nghề nghiệp
Nông dân 46 7,4
Công nhân 63 10,2
Cán bộ công chức 193 31,2
Tự do 316 51,1
4 Số lần đẻ
0 375 60,7
1 196 31,7
≥ 2 47 7,6
5 Tuổi thai (tuần)
23- 27 54 8,7
28- 32 65 10,5
33- 37 292 47,2
> 37 207 33,5
Bảng 2. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Cách đẻ
Thai thứ 1 (n= 618) Thai thứ 2 (n= 618)
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Đẻ thường 113 18,2 114 18,4
Đẻ Foocxep 01 0,2 0 0
Mổ lấy thai 504 81,6 504 81,6
Tổng số 618 100 618 100
Bảng 3. Phân bố cách đẻ song thai
Ngôi thai Số lượng (n= 618) Tỷ lệ (%)
Đầu- Đầu 213 34,5
Đầu- Mông 212 34,3
Đầu- Vai 83 13,4
Mông- Mông 42 6,8
Mông- Đầu 26 4,2
Mông- Vai 24 3,9
Vai- Mông 12 1,9
Vai- Đầu 1 0,2
Vai- Vai 5 0,8
Tổng số 618 100
Bảng 4. Tỷ lệ các ngôi thai trong đẻ song thai
TT Chỉ định mổ lấy thai Số lượng (n= 504) Tỷ lệ (%)
1 Chỉ định do mẹ
Bệnh lý của mẹ 97 19,2
Sẹo mổ cũ 74 14,7
TTTON 215 42,7
*CTC không tiến triển 02 0,4
Khung chậu hẹp 01 0,2
Vô sinh + lý do khác 30 5,9
*IUI 46 9,1
Mẹ lớn tuổi 05 0,9
2 Chỉ định do thai
Ngôi bất thường 44 8,7
Thai to 11 2,3
Thai suy 09 1,8
Đầu không lọt 01 0,2
Hội chứng truyền máu 10 1,9
Thai kém phát triển 04 0,8
3
Chỉ định do 
phần phụ của 
thai
*OVS, OVN 120 23,8
Thiểu ối 01 0,2
Rau tiền đạo 04 0,8
Rau bong non 02 0,4
Sa dây rau 03 0,6
4
Chỉ định do 
nguyên nhân 
xã hội
Xin mổ 02 0,4
Mổ lấy thai + Triệt sản 05 0,9
Tiền sử sản khoa nặng nề 02 0,4
Bảng 5. Các chỉ định mổ lấy thai trong đẻ song thai
*KSTC: Kiểm soát tử cung
*Cắt TCBP: Cắt tử cung bán phần
*Thắt ĐMTC: Thắt động mạch tử cung
Trong nhóm đẻ đường âm đạo, KSTC chiếm tỷ lệ 
rất cao (91,2%). Có 1 trường hợp phải cắt TCBP (1%).
Trong nhóm mổ lấy thai, tỷ lệ thắt ĐMTC 
chiếm 3,2%.
3.7. Trọng lượng thai trong đẻ song thai
Tỷ lệ thai có trọng lượng từ 2000 - <3000g là 
cao nhất, khác biệt có ý nghĩa thống kê với các 
nhóm còn lại (p< 0,05).
3.8. Tỷ lệ tử vong sơ sinh
- Trong 618 thai phụ đẻ song thai có 14 
trường hợp song thai một thai lưu, còn lại 1222 
trẻ sơ sinh.
- Trong số 1222 trẻ sơ sinh có 109 trẻ tử vong, 
chiếm tỷ lệ 8,9%.
Tỷ lệ tử vong sơ sinh cao nhất ở tuổi thai 23 – 
27 tuần (71,3%) và thấp nhất ở nhóm tuổi thai > 
37 tuần (0,5%), khác biệt có ý nghĩa thống kê so 
với các nhóm còn lại (p < 0,05).
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 80 - 85, 2016
83
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trọng lượng
(Gram)
Thai 1 (n= 618) Thai 2 (n= 618) Tổng số (1236)
n % n % n %
< 1000 52 8,4 54 8,7 104 8,4
1000- < 1500 46 7,4 53 8,6 99 8,0
1500- < 2000 97 15,7 104 16,8 201 16,3
2000- < 2500 215 34,8 204 33,0 419 33,9
2500- < 3000 179 29,0 179 29,0 358 28,9
>= 3000 29 4,7 24 3,9 53 4,3
Trung bình (gram) 2099 ± 649,8 2074 ± 655,4 2086 ± 652,5
Bảng 7. Trọng lượng thai trong đẻ song thai
Cách dự phòng và xử trí Số lượng Tỷ lệ (%)
Đẻ đường ÂĐ
(n= 114)
*KSTC 104 91,2
Bóc rau + KSTC 3 2,6
*Cắt TCBP 1 1,0
Mổ lấy thai 
(n= 504)
*Thắt ĐMTC 16 3,2
Khấu mũi B-Lynch 1 0,2
Cắt TC 0 0,0
Bảng 6. Cách dự phòng và xử trí biến chứng chảy máu sau đẻ, mổ lấy thai
Tuổi thai Số trẻ sơ sinh
Số trẻ sơ sinh tử vong
n %
23- 27 108 77 71,3
28- 32 129 14 10,6
33- 37 574 16 2,8
> 37 411 2 0,5
Tổng số 1222 109 8,9
Bảng 8. Liên quan giữa tuổi thai và tử vong sơ sinh
4. Bàn luận
Trong một thập kỷ gần đây, ở nhiều nước trên 
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, tỷ lệ 
đẻ song thai ngày càng tăng cao. Theo bảng 1, 
tỷ lệ đẻ song thai trong 6 tháng cuối năm 2015 
là 5,7%, cao hơn rất nhiều so với các nghiên 
cứu trong nước trước đây. Các nghiên cứu này 
báo cáo tỷ lệ đẻ song thai vào khoảng 1% - 2% 
(N.M.Nguyệt: 1,27% và 1,87% [4]; N.T.B. Vân: 
1,19% [5]; N.T.Hạnh: 1,79% [6]; N.T.K.Oanh: 
1,88% [7]). Trong số 618 trường hợp đẻ song 
thai, tỷ lệ mổ lấy thai là 81,6%, chỉ có 14,8% đẻ 
đường âm đạo, trong đó duy nhất có một trường 
hợp đẻ foocxep cho thai thứ nhất do mẹ rặn yếu 
(Bảng 3). Tỷ lệ mổ lấy thai 81,6% cao hơn so với 
nhiều nghiên cứu trước đây: N.M.Nguyệt: 35,4% 
và 67,7% [4]; N.T.Hạnh: thai 1: 47,3%, thai 2: 
47,9%[6]; N.T.K.Oanh: thai 1: 46,8%, thai 2: 
47% [7]; Yalcin và cs: 52,8% [8]. Trong số các 
bệnh nhân mổ đẻ, tỷ lệ mổ đẻ song thai là 8,5%. 
Trong số các bệnh nhân đẻ đường âm đạo, tỷ lệ 
song thai đẻ đường âm đạo là 2,3 % (Bảng 1). 
Với một số lượng đáng kể phụ nữ có thai do 
thành công của điều trị vô sinh dẫn đến tỷ lệ 
đa thai ngày một gia tăng và tuổi của các thai 
phụ đẻ song thai thường lớn hơn so với các thai 
phụ đẻ một thai. Trong nghiên cứu, tỷ lệ đẻ song 
thai cao nhất và tương đương nhau ở nhóm tuổi 
25 - <30 và 30 - <35 tuổi. Số lượng các sản phụ 
sống tại Hà Nội và các tỉnh khác là tương đương. 
Tuổi thai đẻ song thai hay gặp nhất là 33 – 37 
tuần (47,2%) (Bảng 2), phù hợp với nghiên cứu 
của N.M.Nguyệt năm 2008, cho thấy tỷ lệ đẻ 
song thai ở tuổi thai này cũng cao nhất (47,9% 
giai đoạn 1996 – 1997 và 43,1% giai đoạn 
2006 -2007) [4]. Tỷ lệ sản phụ song thai đẻ sau 
37 tuần là 33,5%, như vậy tỷ lệ đẻ non rất cao, 
chiếm 66,5% (Bảng 2). Martin và cộng sự năm 
2011 cũng đã đánh giá tỷ lệ đẻ non ở sản phụ 
song thai ước tính khoảng 57,3% trước 37 tuần, 
tăng gấp 5,7 lần so với đơn thai [9]. Như vậy 
việc dự đoán nguy cơ đẻ non ở bà mẹ song thai 
là một vấn đề hết sức quan trọng để có thể tìm 
ra phương pháp điều trị thích hợp, giảm bớt các 
mối đe doạ cho sản phụ và thai nhi.
Nhận xét về phân bố các cặp ngôi thai, ngôi 
đầu - đầu và đầu - mông có tỷ lệ cao nhất và 
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG, NGUYỄN THANH PHONG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
84
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
tương đương nhau (34,5% và 34,3%), ngôi vai 
- đầu và vai - vai chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,2% 
và 0,8%) (Bảng 4). Có sự khác biệt giữa kết quả 
này với nghiên cứu của N.M.Nguyệt, N.T.B.Vân 
, N.T.Hạnh đều chứng minh tỷ lệ ngôi đầu - đầu 
là cao nhất và cao hơn rõ rệt so với các ngôi còn 
lại (47,9%; 47,2%; 53,1%), ngôi đầu - mông chỉ 
đứng tỷ lệ thứ hai (30,1%; 31,2%; 15,0%) [4-6]. 
Các chỉ định mổ lấy thai chia làm 4 nhóm 
nguyên nhân chính: nguyên nhân do mẹ, do 
thai, do phần phụ của thai và do các nguyên 
nhân xã hội. Chỉ định mổ hay gặp nhất là 
TTTON (42,7%), ối vỡ sớm - ối vỡ non (23,8%), 
bệnh lý của mẹ: tiền sản giật, đái tháo đường 
thai nghén, bệnh tim...(19,2%) (Bảng 5). Kết quả 
này khác với những nghiên cứu trong nước thời 
điểm gần 10 năm trước đây đã nhận xét chỉ định 
mổ lấy thai thường gặp nhất do bệnh lý của mẹ 
(N.M.Nguyệt: 19%[4]; N.T.Hạnh: 24,6% [6]; 
N.T.K.Oanh: 21,6% [7]). Chúng tôi nhận thấy 
đối với các trường hợp TTTON thì chỉ định mổ lấy 
thai chủ động là chủ yếu, rất ít trường hợp mổ 
lấy thai khi chuyển dạ. Qua sự so sánh này, có 
thể thấy rằng trong một thập kỷ qua số trẻ ra đời 
nhờ phương pháp TTTON đã tăng lên một cách 
đáng kể mà nguyên nhân là do sự tiến bộ vượt 
bậc của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. 
Các biến chứng về phía mẹ trong nghiên cứu 
thường ở mức độ nhẹ và không nguy hiểm đến 
tính mạng. Trong cuộc đẻ song thai, đờ tử cung 
và băng huyết sau đẻ là biến chứng thường gặp 
do tử cung căng quá mức, diện rau bám rộng, 
co hồi tử cung sau đẻ kém. Trong đẻ đường âm 
đạo, KSTC chiếm tỷ lệ rất cao (91,2%). Có 1 
trường hợp phải mổ cắt TCBP sau đẻ do rau cài 
răng lược (1%) (Bảng 6). Nghiên cứu của các 
tác giả khác cũng đều tìm thấy tỷ lệ KSTC rất 
cao, trên 85% các trường hợp [4],[6],[7]. Trên 
thực tế không phải tất cả các trường hợp KSTC 
đều do biến chứng chảy máu hoặc sót rau mà 
nhiều khi còn mang tính chất dự phòng trong đẻ 
song thai. Tuy nhiên điều đó sẽ làm tăng nguy 
cơ nhiễm trùng và gây đau đớn cho sản phụ, vì 
vậy chúng ta cần cân nhắc để có chỉ định KSTC 
thật sự hợp lý. Trong số 504 trường hợp mổ lấy 
thai có 16 trường hợp phải thắt ĐMTC (3,2%), 
1 trường hợp khâu mũi B-Lynch (1%), không có 
trường hợp nào phải cắt tử cung hoặc can thiệp 
sâu hơn. Tỷ lệ thắt ĐMTC của nghiên cứu tương 
đương kết quả nghiên cứu của N.T.Hạnh (3,3%) 
[6], cao hơn so với nghiên cứu của N.M.Nguyệt 
(0%) [4], N.T.K.Oanh (2,2%) [7].
Trọng lượng trung bình của thai là 2086 ± 
652,5g, trong đó thai có trọng lượng từ 2000 
- < 2500g chiếm tỷ lệ cao nhất (33,9%), 2500 
- < 3000g chiếm tỷ lệ cao thứ 2 (28,9%). Thai 
có trọng lượng >= 3000g chiếm tỷ lệ thấp nhất 
(4,3%) (Bảng 7). Như vậy tỷ lệ thai có trọng 
lượng < 2500g là 66,8%. Tỷ lệ này tương đương 
với kết quả nghiên cứu của N.T.K.Oanh (66,2%) 
[7], Yalcin (69%) [8]. Trong 618 thai phụ đẻ 
song thai có 14 trường hợp song thai một thai 
lưu, còn lại 1222 trẻ sơ sinh, trong đó có 109 
trẻ tử vong, chiếm tỷ lệ 8,9% (Bảng 8). Tỷ lệ tử 
vong sơ sinh trong đẻ song thai luôn cao hơn so 
với trong đẻ một thai do tỷ lệ đẻ non cao hơn, 
trọng lượng thai thấp hơn, tỷ lệ thai bệnh lý cao 
hơn. Cùng với sự tiến bộ của chăm sóc và điều 
trị sơ sinh, tỷ lệ tử vong sơ sinh đã được cải thiện 
một cách đáng kể. Tỷ lệ tử vong sơ sinh trong 
nghiên cứu là 8,9% thấp hơn so với kết quả của 
N.T.K.Oanh năm 2006 (15,5%) [7]. Theo bảng 
8, tỷ lệ tử vong sơ sinh cao nhất ở tuổi thai 23 
– 27 tuần (71,3%), điều này hoàn toàn phù hợp 
do tuổi thai quá non, khả năng sống của trẻ là 
rất thấp. Tỷ lệ tử vong sơ sinh ở tuổi thai 28 – 
32 tuần là 10,6%, thấp hơn rõ rệt so với kết quả 
của N.M.Nguyệt (năm 1996-1997: 50%, năm 
2006 – 2007: 24,4%) [4] và N.T.K.Oanh (năm 
2006: 46,2%) [7]. Sự so sánh này có ý nghĩa rất 
quan trọng, đã khẳng định sự tiến bộ vượt bậc 
của y học hiện đại nói chung và chuyên ngành 
sơ sinh nói riêng, mang đến cơ hội sống cho rất 
nhiều trẻ sơ sinh song thai non tháng, đem lại 
niềm hạnh phúc to lớn cho nhiều gia đình và 
toàn xã hội. 
5. Kết luận
- Tỷ lệ đẻ song thai cao, gặp nhiều ở song thai 
non tháng. 
- Tỷ lệ mổ lấy thai cao, chỉ định nhiều nhất ở 
thai TTTON.
- Trẻ tử vong chiếm tỷ lệ cao, không có tai biến 
nghiêm trọng cho mẹ.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 80 - 85, 2016
85
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Viết Tiến. Đa thai. Bài giảng Sản Phụ khoa, tập II, Nhà xuất 
bản Y học, 2004; tr. 87-96.
2. Nguyễn Khánh Linh. Sinh non do song thai: có hay không phương 
pháp dự phòng? Tạp chí Y học Sinh sản. 2016; 37: 35-38.
3. Shaaf JM, Mol BW, Abu-Hanna A and Ravelli AC. Trends in preterm 
birth: singleton and multiple pregnancies in the Netherlands, 2000 - 2007. 
In J Obstet Gynecol. 2011; Vol. 118, No.10, 1196-1204.
4. Nguyễn Minh Nguyệt. Nghiên cứu tỷ lệ, các phương pháp xử 
trí và kết quả đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
trong hai giai đoạn năm 1996 – 1997 và năm 2006 – 2007. Luận 
văn tốt nghiệp Bác sỹ Chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà 
Nội. 2008.
5. Nguyễn Thị Bích Vân. Nghiên cứu về thái độ xử trí đối với sinh đôi 
khi chuyển dạ. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Nội trú, Trường Đại học 
Y Hà Nội. 1999.
6. Nguyễn Thị Hạnh. Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của đẻ non 
trong song thai và cách xử trí song thai khi chuyển dạ tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương từ 1/2003 – 6/2004. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ 
Chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội. 2004.
7. Nguyễn Thị Kiều Oanh. Tình hình song thai tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương từ tháng 7/2004 đến tháng 6/2006. Luận văn Thạc sỹ Y 
học, Trường Đại học Y Hà Nội. 2006.
8. Yalcin H.R, Zorlu C.G., Lembet A. et al. The significance of birth 
weight difference in discordan twins: a level to standardize ?. Acta Obstet 
Gynecol Scand. 1998; 77(1): 28 – 31.
9. Martin JA, Hamilton BE, Ventura SJ, Osterman MJ, Mathews TJ. 
Births: final data for 2011. Natl Vital Stat Rep. 2013; 62 (1): 69 -72.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_tinh_hinh_de_song_thai_tai_benh_vien_phu_san_trung.pdf