Nhận xét thực trạng mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện phụ sản
trung ương năm 2017; Phân tích các yếu tố liên quan đến chỉ định phẫu
thuật lấy thai.
Phương pháp: mô tả hồi cứu.
Kết quả: Tỷ lệ phẫu thuật lấy thai 54,4%; phẫu thuật chủ động
55,45%; phẫu thuật khi chuyển dạ 44,55%. Có 51,3% số ca phẫu thuật
lấy thai khi tuổi thai ≥ 39 tuần; 34,2% khi tuổi thai 38 tuần và 14,5% khi
tuổi thai ≤ 37 tuần. Phẫu thuật lấy thai chủ động và tuổi thai khi mổ có
mối liên quan đến tiền sử phẫu thuật lấy thai, phẫu thuật lần đầu, điều
trị hỗ trợ sinh sản và song thai với p<>
Kết luận: Tỷ lệ mổ đẻ tại bệnh viện Phụ sản trung ương còn cao
hơn so với thế giới; các yếu tố làm tăng tỉ lệ mổ đẻ cũ, hỗ trợ sinh sản, song thai.
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét thực trạng mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét thực trạng mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
LÊ HOÀI CHƯƠNG, MAI TRỌNG DŨNG, NGUYỄN ĐỨC THẮNG, ĐOÀN THỊ THU TRANG 92 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 Lê Hoài Chương, Mai Trọng Dũng, Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Thị Thu Trang Bệnh viện Phụ Sản Trung ương NHẬN XÉT THỰC TRẠNG MỔ LẤY THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017 Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Đức Thắng, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: phẫu thuật lấy thai. Keywords: cesarean delivery. TỔ N G Q U A N Tóm tắt Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2017; Phân tích các yếu tố liên quan đến chỉ định phẫu thuật lấy thai. Phương pháp: mô tả hồi cứu. Kết quả: Tỷ lệ phẫu thuật lấy thai 54,4%; phẫu thuật chủ động 55,45%; phẫu thuật khi chuyển dạ 44,55%. Có 51,3% số ca phẫu thuật lấy thai khi tuổi thai ≥ 39 tuần; 34,2% khi tuổi thai 38 tuần và 14,5% khi tuổi thai ≤ 37 tuần. Phẫu thuật lấy thai chủ động và tuổi thai khi mổ có mối liên quan đến tiền sử phẫu thuật lấy thai, phẫu thuật lần đầu, điều trị hỗ trợ sinh sản và song thai với p<0,001. Kết luận: Tỷ lệ mổ đẻ tại bệnh viện Phụ sản trung ương còn cao hơn so với thế giới; các yếu tố làm tăng tỉ lệ mổ đẻ cũ, hỗ trợ sinh sản, song thai. Từ khóa: phẫu thuật lấy thai. Abstract COMMENT ABOUT CESAREAN DILIVERY AT THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNEOLOGY IN 2017 Objective: dermine the rate of cesarean delivery in National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2017; analyse relative factors to cesarean delivery. Methods: retrospective cohort study. Results: the rate of cesarean delivery was 54.4%; initiative cesarean delivery was 55.45%; cesarean delivery on labor was 44.55%. Cesarean sections at gestational age ≥ 39 weeks were 51.3%; 34.2% at gestational age of 38 weeks and 14.5% at gestational age ≤ 37 week. Cesarean delivery and gestational age of sections were relative with history of cesarean delivery, first-line cesarean delivery, support fertility and twin pregnancies with p<0.001. SẢ N K H O A – S Ơ S IN H TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 92 - 96, 2018 93 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Conclusion:The rate of caesarean section in the National Hospital Obstetrics and Gynecology is higher than others in the world; factors that increase the rate of caesarean section were history of cesarean delivery, fertility, twin pregnancy. Keywords: cesarean delivery. 1. Đặt vấn đề Phẫu thuật lấy thai (PTLT) là kỹ thuật can thiệp ngoại khoa được thực hiện khi có bất thường trong cuộc đẻ hay trong các trường hợp mà người thầy thuốc nhận định cuộc đẻ có thể nguy hiểm cho người mẹ, thai nhi. Theo một số nghiên cứu trong vòng 20 năm trở lại đây tỷ lệ PTLT ở nhiều nước trên thế giới tăng nhanh đặc biệt là khi các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phát triển (IVF, IUI). Tại Việt Nam, tỷ lệ PTLT tăng nhanh theo nghiên cứu của Vương Tiến Hòa năm 2004 là 36,9% [1], nghiên cứu của Ninh Văn Minh năm 2012 là 23,1% [2]. Trên thế giới tỷ lệ PTLT tăng từ 5-7% trong những năm 70 lên 25-30% vào thời điểm hiện nay [3],[4]. Theo một số nghiên cứu mới đây tỉ lệ tai biến do PTLT có giảm bớt nhờ sự tiến bộ không ngừng của kỹ thuật PTLT với các trang thiết bị tiên tiến, thuốc tốt cùng các kỹ thuật giảm đau và gây mê hồi sức. Tuy nhiên việc mở rộng quá mức các chỉ định phẫu thuật lấy thai cũng có những bất lợi nhất định, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh như chảy máu, nhiễm khuẩn vết mổ... hay các nguy cơ có thể gặp về sau như rau cài răng lược, chửa sẹo vết mổ... hay các tai biến cho sơ sinh như suy hô hấp sau mổ. Để nhìn nhận lại các chỉ định PTLT giúp duy trì các chỉ định PTLT một cách hợp lý chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: (1) Xác định tỉ lệ phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017. (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến chỉ định phẫu thuật lấy thai. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là tất cả các sản phụ đến phẫu thuật mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong năm 2017. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp hồi cứu mô tả, dữ liệu nghiên cứu được lấy tại kho hồ sơ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Dữ liệu nghiên cứu được thống kê tính toán trên phần mềm SPSS 16.0 3. Kết quả nghiên cứu Tổng số ca đẻ năm 2017 là 21722, trong đó PTLT có 11166 ca, chiếm 54,40%. Trong nghiên cứu của chúng tôi Có 1037 thai phụ có biện pháp hỗ trợ sinh sản, trong đó PTLT chủ động 278 ca chiếm tỷ lệ 26,81%; có 759 ca PTLT có chuyển dạ chiếm tỷ lệ 73,19%. Có 1101 ca song thai được PTLT trong đó PTLT chủ động có 691 ca chiếm tỷ lệ 62,67%; có 410 ca PTLT khi chuyển dạ chiếm tỷ lệ 37,24%. Tỷ lệ PTLT khi đã chuyển dạ ở nhóm hỗ trợ sinh sản chiếm cao nhất với 73,19%, thấp nhất Biểu đồ 1. Tỷ lệ PTLT tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017 4 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là tất cả các sản phụ đến phẫu thuật mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong năm 2017. 2.2. Phương pháp ng iên cứu Phương pháp hồi cứu mô tả, dữ liệu nghiên cứu được lấy tại kho hồ sơ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Dữ liệu nghiên cứu được thống kê tính toán trên phần mềm SPSS 16.0 3. Kết quả nghiên cứu Đẻ thường: 45,6% Mổ lấy thai: 54,4% Đẻ thường Mổ lấy thai Biểu đồ 1. Tỷ lệ PTLT tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017 Tổng số ca đẻ năm 2017 là 21722, trong đó PTLT có 11166 ca, chiếm 54,40%. Bảng 1. PTLT chủ động và PTLT có chuyển dạ theo tiền sử PTLT Đặc điểm Chuyển dạ Chủ động Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% Có tiền sử PTLT 1983 35,44 3613 64.56 5596 PTLT lần đầu 2991 53,69 2579 46,31 5570 Tổng 4974 44,55 6192 55,45 11166 c2= 686,46, p<0,001 Đặc điểm Chuyển dạ Chủ động Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% Có tiền sử PTLT 1983 35,44 3613 64.56 5596 PTLT lần đầu 2991 53,69 2579 46,31 5570 Tổng 4974 44,55 6192 55,45 11166 X2= 686,46, p<0,001 Bảng 1. PTLT chủ động và PTLT có chuyển dạ theo tiền sử PTLT LÊ HOÀI CHƯƠNG, MAI TRỌNG DŨNG, NGUYỄN ĐỨC THẮNG, ĐOÀN THỊ THU TRANG 94 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N là nhóm có tiền sử PTLT với 32,23%. Ngược lại PTLT do chủ động có tỷ lệ cao nhất ở nhóm có tiền sử PTLT với 66,67% và thấp nhất nhóm hỗ trợ sinh sản với 26,81%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Kết quả cho thấy tỷ lệ PTLT ở tuần ≥39 chiếm hơn 1 nửa số bệnh nhân, tiếp đó là tuần thứ 38 với hơn 1/3 bệnh nhân, tuần ≤ 37 ít nhất với 14,5%. Tỷ lệ PTLT nhóm có thai tự nhiên thấp nhất ở thời điểm ≤ 37 tuần với 69,36% và tăng dần đến thời điểm ≥39 tuần là 84,87%. Tỷ lệ PTLT nhóm hỗ trợ sinh sản thì ngược lại cao nhất thời điểm ≤ 37 tuần với 30,64% và thấp nhất thời điểm ≥ 39 tuần với 15,88%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Bệnh nhân có tiền sử PTLT, PTLT do chuyển dạ chiếm tỷ lệ cao nhất ở thời điểm 38 tuần với 49,88% và thấp nhất ở thời điểm ≥ 39 tuần với 24,84%. PTLT chủ động cao nhất ở thời điểm ≥ 39 tuần với 75,16% và thấp nhất ở thời điểm 38 Biểu 2. Tỷ lệ PTLT theo tuổi thai 5 Trong nghiên cứu của chúng tôi Có 1037 thai phụ có biện pháp hỗ trợ sinh sản, trong đó PTLT chủ động 278 ca chiếm tỷ lệ 26,81%; có 759 ca PTLT có chuyển dạ chiếm tỷ lệ 73,19%. Có 1101 ca song thai được PTLT trong đó PTLT chủ động có 691 ca chiếm tỷ lệ 62,67%; có 410 ca PTLT khi chuyển dạ chiếm tỷ lệ 37,24%. Tỷ lệ PTLT khi đã chuyển dạ ở nhóm hỗ trợ sinh sản chiếm cao nhất với 73,19%, thấp nhất là nhóm có tiền sử PTLT với 32,23%. Ngược lại PTLT do chủ động có tỷ lệ cao nhất ở nhóm có tiền sử PTLT với 66,67% và thấp nhất nhóm hỗ trợ sinh sản với 26,81%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). 51,3% 34,2% 14,5% 37 tuần 38 tuần >= 39 tuần Biểu 2. Tỷ lệ PTLT theo tuổi thai Kết quả cho thấy tỷ lệ PTLT ở tuần ≥39 chiếm hơn 1 nửa số bệnh nhân, tiếp đó là tuần thứ 38 với hơn 1/3 bệnh nhân, tuần ≤ 37 ít nhất với 14,5%. Bảng 2. Tổng số PTLT theo hình thức thụ thai và theo tuổi thai Tuần thai Thai tự nhiên Thai hỗ trợ sinh sản Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % ≤ 37 Tuần 1123 69,36 496 30,64 1619 38 Tuần 2963 77,59 856 22,41 3819 ≥ 39 Tuần 5391 94,12 337 5,88 5728 Tuần thai Thai tự nhiên Thai hỗ trợ sinh sản Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% ≤ 37 Tuần 1123 69,36 496 30,64 1619 38 Tuần 2963 77,59 856 22,41 3819 ≥ 39 Tuần 5391 94,12 337 5,88 5728 Tổng 9477 84,87 1689 15,13 11166 X2= 842,53, p<0,001 Bảng 2. Tổng số PTLT theo hình thức thụ thai và theo tuổi thai Tuần thai Chuyển dạ Chủ động Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% ≤ 37 Tuần 203 39,96 305 60,04 508 38 Tuần 610 49,88 613 50,12 1223 ≥ 39 Tuần 704 24,84 2130 75,16 2834 Tổng 1517 35,44 3048 64.56 4565 X2= 253,01, p<0,001 Bảng 3. Tỉ lệ PTLT ở sản phụ có tiền sử PTLT theo tuổi thai tuần với 50,12%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Nhóm bệnh nhân lần đầu PTLT, PTLT do chuyển dạ cao nhất thời điểm ≤ 37 tuần với 65,09% và thấp nhất ở thời điểm ≥ 39 tuần với 48,04%. PTLT do chủ động ngược lại cao nhất thời điểm ≥ 39 tuần với 51,96% và thấp nhất thời điểm ≤ 37 tuần với 34,91%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Nhóm bệnh nhân có điều trị sinh sản, PTLT do chuyển dạ cao nhất ở thời điểm ≥ 39 tuần với 92,13% và thấp nhất ở thời điểm ≤ 37 tuần 45,31%. Ngược lại nhóm PTLT do chủ động cao nhất thời điểm ≤37 tuần với 54,69% và thấp nhất thời điểm ≥ 39 tuần với 7,87%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Nhóm thai phụ song thai, PTLT do chuyển dạ cao nhất ở thời điểm 38 tuần với 42,11% và thấp nhất thời điểm ≥ 39 tuần với 37,24%. Ngược lại nhóm PTLT chủ động cao nhất thời điểm ≥ 39 tuần với 85% và thấp nhất thời điểm 38 tuần với 57,89%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Tuần thai Chuyển dạ Chủ động Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% ≤ 37 Tuần 317 65,09 170 34,91 487 38 Tuần 770 52,17 706 47,83 1476 ≥39 Tuần 1201 48,04 1299 51,96 2500 Tổng 2288 53,69 2175 46,31 4463 X2= 48,16, p<0,001 Bảng 4. Tỉ lệ PTLT ở sản phụ PTLT lần đầu với tuổi thai Tuần thai Chuyển dạ Chủ động Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% ≤ 37 Tuần 140 45,31 169 54,69 309 38 Tuần 385 81,22 89 18,78 474 ≥39 Tuần 234 92,13 20 7,87 254 Tổng 759 73,19 278 26,81 1037 X2= 184,44, p<0,001 Bảng 5. Tỉ lệ PTLT ở sản phụ có điểu trị hỗ trợ sịnh sản với tuổi thai Tuần thai Chuyển dạ Chủ động Tổng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% ≤ 37 Tuần 117 37,14 198 62,86 315 38 Tuần 272 42,11 374 57,89 646 ≥39 Tuần 21 15,00 119 85,00 140 Tổng 410 37,24 691 62,76 1101 X2= 36,17, p<0,0001 Bảng 6. Tỉ lệ PTLT ở sản phụ song thai với tuổi thai SẢ N K H O A – S Ơ S IN H TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 92 - 96, 2018 95 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 4. Bàn luận 4.1. Tỷ lệ phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017 Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ PTLT tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017 là 54,4%. So sánh với các nghiên cứu trước đây chúng tôi thấy tỷ lệ đã tăng lên một cách đáng kể: so với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khanh năm 1997 là 25,2% [5], nghiên cứu của Vương Tiến Hòa năm 2004 là 36,9% [1], nghiên cứu của Ninh Văn Minh năm 2012 là 23,1% trong đó con so chiếm 51,9% [2]. So sánh với các nghiên cứu nước ngoài vào thời điểm hiện nay thì tỷ lệ của chúng ta đang ở mức rất cao: tỷ lệ phẫu thuật lấy thai tại Mỹ hiện nay là 31,9% [3], tại Anh là 26,2 [4]. Chúng tôi cho rằng tỷ lệ lấy thai tăng có nhiều nguyên nhân: thứ nhất Bệnh viên Phụ sản Trung ương là bệnh viện đầu ngành về sản khoa nên những bà mẹ mang thai có chỉ định phẫu thuật lấy thai rõ ràng thường chuẩn bị trước để khám và phẫu thuật; mong muốn của họ là được chăm sóc với kỹ thuật tốt nhất. Thứ hai là có thể do giá thành mỗi ca phẫu thuật hiện nay giữa các bệnh viện là không nhiều, ở cùng một mức viện phí thì người bệnh có xu hướng đến những nơi có trình độ khoa học cao hơn. Hơn nữa, bệnh viên Phụ sản Trung ương còn là nơi cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh sản lớn của cả nước, những người thừa hưởng dịch vụ này thường là con quý, con hiếm và họ thường chủ động đề nghị phẫu thuật lấy thai làm cho tỷ lệ phẫu thuật lấy thai tăng lên. So sánh với các thống kê của nước ngoài hiện nay thì tỷ lệ phẫu thuật lấy thai trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Sự khác biệt này chủ yếu là do phương pháp thống kê. Kết quả trong nghiên cứu của Mỹ, Anh... thấp hơn là vì đó là kết quả của cả quốc gia, ở tất cả các vùng trong khi đó kết quả của chúng tôi được thống kê chỉ đơn thuần ở một bệnh viện. Tuy nhiên kết quả đó cũng cảnh báo chúng ta cần chặt chẽ hơn trong các chỉ định mổ để đem lại lợi ích nhiều hơn cho người bệnh. 4.2. Các yếu tố liên quan đến chỉ định phẫu thuật lấy thai Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thai phụ được PTLT chủ động chiếm 55,45%. Thống kê từng nhóm với các yếu tố liên quan thì nhóm thai phụ có tiền sử PTLT có sự chủ động PTLT lần này 66,67%; con so chủ động PTLT có tỷ lệ 46,31%; nhóm hỗ trợ sinh sản chủ động PTLT chiếm 26,81%, nhóm song thai chủ động PTLT chiếm tỷ lệ 62,76%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ thì việc phẫu thuật chủ động tại bệnh viện Nhật Tân chỉ đạt 11,1% [6]. Sự khác biệt này theo chúng tôi là do sự khác biệt về tính chất, quy mô và đặc điểm của từng bệnh viện và hiện nay, hệ thống giao thông công cộng tốt hơn trước đây nên người bệnh sẽ đến những nơi rẻ, ưu việt hơn. Về tuần thai khi thực hiện PTLT: trong nghiên cứu của chúng tôi PTLT ở thời điểm tuổi thai thai ≥ 39 tuần chiếm 51,3%; ở tuần 38 chiếm tỷ lệ 34,2% và tỷ lệ PTLT ở thời điểm tuổi thai ≤ 37 tuần chiếm 14,50%. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ PTLT ở tuổi thai 22-36 tuần chiếm 5,2%, từ 37-41 tuần chiếm 90,5%, > 41 tuần chiếm 4,3% thì thấy rằng hoàn toàn có sự khác biệt [7]. Xu hướng phẫu thuật lấy thai trong nghiên cứu của chúng tôi là sớm hơn. Để lý giải điều này chúng tôi cho rằng: thứ nhất các trường hợp bắt buộc phải PTLT đối với thai non tháng thì thai phụ lựa chọn bệnh viện chúng tôi với mong muốn được chăm sóc sơ sinh non tháng tốt hơn. Thứ hai là do bệnh viện đã và đang điều trị rất nhiều các trường hợp thai phụ dọa dẻ non, rau tiền đạọ, tiền sản giật mà trong nhiều trường hợp bắt buộc phải PTLT do bệnh lý mẹ và bệnh lý thai. Ngoài ra trong một số ít trường hợp được ghi nhận bệnh nhân muốn PTLT sớm do quan niệm mê tín, muốn chọn ngày giờ đẹp và gây nên áp lực rất nhiều cho thầy thuốc. PTLT theo hình thức thụ thai cho thấy ở hình thức thụ thai tự nhiên ≤ 37 tuần chiếm 69,36%; ở tuần 38 chiếm 77,59%; ở tuần 39 chiếm 84,47%. PTLT ở các thai phụ có hỗ trợ sinh sản ≤ 37 tuần chiếm 30,64%, tuần 38 chiếm 22,41% và ≥ 39 tuần chiếm 15,13%. Có thể thấy nhóm hỗ trợ sinh sản, việc PTLT chiếm tỷ lệ cao ≤ 37 tuần và giảm dần đến tuần 39. Việc phẫu thuật sớm có nhiều nguyên nhân, tuy vậy ở đây đều là những sản phụ rất khó khăn về phương diện sinh sản, họ đều mang tâm lý rất căng thẳng và sợ hãi có những bất trắc xảy ra trong quá trình chuyển dạ, không những sức ép với sản phụ và gia đình họ mà ngày cả những người làm chuyên môn cũng bị điều này chi phối tới quyết định PTLT hay không. Ở sản phụ có tiền sử PTLT, phẫu thuật lấy thai chủ động là 64.56%, trong đó ở ≤ 37 tuần là 60,04%, ở LÊ HOÀI CHƯƠNG, MAI TRỌNG DŨNG, NGUYỄN ĐỨC THẮNG, ĐOÀN THỊ THU TRANG 96 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N 38 tuần là 50,12% và ≥39 tuần là 75,16%. PTLT ở sản phụ lần đầu, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ phẫu thuật chủ động là 46,31%, trong đó ở thời điểm thai ≤ 37 tuần là 34,91%; 38 tuần là 47,83%; ≥ 39 tuần là 51,96%. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ và cộng sự có 17 thai phụ có vết PTLT cũ, 15 ca được PTLT, tỷ lệ 88,2% [6]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm năm 2007, tỷ lệ này là 96-98% [8]. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở nhóm điều trị hỗ trợ sinh sản, tỷ lệ phẫu thuật lấy thai chủ động chiếm 26,81%, trong đó phẫu thuật chủ động tại thời điểm thai ≤ 37 tuần chiếm 54,69%, thời điểm thai 38 tuần 18,78%, thời điểm thai ≥ 39 tuần là 7,87%. Nghiên cứu Bệnh viện Sản nhi Thái Bình ở các trường hợp phẫu thuật lấy thai con so cho thấy có 29 trường hợp vô sinh, con quý hiếm (trong đó có 12 trường hợp có thai bằng phương pháp IVF, có 10 trường hợp vô sinh từ 5 đến 20 năm và có 07 trường hợp tiền sử sản khoa nặng nề) [9]. Đây đều là những sản phụ rất khó khăn về phương diện sinh sản, họ đều mang tâm lý rất căng thẳng và sợ hãi có những bất trắc xảy ra trong quá trình chuyển dạ, không những sức ép với sản phụ và gia đình họ mà ngày cả những người làm chuyên môn cũng bị điều này chi phối tới quyết định PTLT hay không. Tuy vậy đây không phải lý do để PTLT, vì chỉ cần khám thai, quản lý thai, theo dõi chuyển dạ chặt chẽ phát hiện sớm những nguy cơ để xử trí kịp thời và tư vấn tốt sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ PTLT ở những sản phụ này. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở nhóm sản phụ song thai tỷ lệ phẫu thuật chủ động chiếm 62,76%, trong đó ở thời điểm thai ≤ 37 tuần chiếm 62,86%; thời điểm thai 38 tuần chiếm 57,89%; thời điểm thai ≥39 tuần chiếm 85%. Nghiên cứu tại Thái Bình ở các trường hợp phẫu thuật lấy thai con so cho thấy sản phụ PTLT do song thai chiếm tỷ lệ 1,8% [9]. Song thai là một trường hợp đẻ khó nguy cơ chuyển dạ kéo dài nhưng quan trọng nhất là tai biến khi đẻ thai thứ hai vì vậy nhiều thầy thuốc cũng như sản phụ lựa chọn PTLT cho an toàn do đó cũng làm tăng tỷ lệ PTLT. 5. Kết luận - Nghiên cứu hồi cứu trên 21722 các trường hợp đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017, kết quả có 11166 trường hợp PTLT chiếm tỉ lệ (54,4%). Trong số các ca PTLT, 55,45 phẫu thuật chủ động; thời gian PTLT: 510,3% tại thời điểm thai ≥39 tuần; 34,2% tại thời điểm thai 38 tuần và 14,5% tại thời điểm thai ≤ 37 tuần. Nhóm có tiền sử PTLT phẫu thuật chủ động 64.56%, nhóm PTLT lần đầu phẫu thuật chủ động 46,31%, nhóm hỗ trợ sinh sản phẫu thuật chủ động 26,81%, nhóm song thai phẫu thuật chủ động 62,76%. - Kết quả phân tích cho thấy PTLT chủ động có mối liên quan đến đặc điểm của các trường hợp (bao gồm tiền sử PTLT, phẫu thuật lần đầu, điều trị hô trợ sinh sản, song thai) (p<0,001). Thời điểm PTLT có mối liên quan đến hình thức thụ thai, phẫu thuật lấy thai chủ động, điều trị hỗ trợ sinh sản và song thai (p<0,001). Tài liệu tham khảo 1. Vương Tiến Hoà. Nghiên cứu chỉ định phẫu thuật lấy thai ở người đẻ con so tại bệnh viện Phụ sản trung ương năm 2002. Nghiên cứu Y học. (Số 5). 2004; 79–84. 2. Ninh Văn Minh. Tình hình mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình năm 2012. Tạp chí Y học thực hành. số 874. 2013. 3. Brady E Hamilton, Joyce A Martin, Michelle JK Osterman et all. Births: Provisional Data for 2016. National Vital Statistics Reports. No 2, June 2017. 4. Maternity statistics - England. http:// www.hscic.gov.uk/ catalogue/ PUB16725. 2014. 5. Nguyễn Thị Ngọc Khanh. Thái độ xử trí đối với sản phụ có sẹo mổ lấy thai cũ tại Viện BVBMTSS năm 1993 – 1994. Công trình nghiên cứu khoa học. Hà Nội 1997. tr 45 - 50. 6. Nguyễn Thị Huệ, Phạm Phước Vinh, Trương Thanh Thanh, Châu Hữu Hầu. Khảo sát tình hình phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Nhật Tân năm 2013. Kỷ yếu hội nghị khoa học. Bệnh viện Đa khoa An Giang. 2014. 7. Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Đức Hinh, Nguyễn Việt Hùng. Nhận xét tình hình phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên 6 tháng đầu năm 2012. Tạp chí Y học thực hành. 2013; (893). 8. Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Đức Hinh. Thực trạng phẫu thuật lấy thai và một số yếu tố liên quan ở Hoàn Kiếm và Gia Lâm. Y học Việt Nam. (Số 1), 30–35. 9. Vũ Mạnh Cường. Nghiên cứu về chỉ định và biến chứng phẫu thuật lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình. Luận văn thạc sỹ y học. Đại học Y Hà Nội. 2016. SẢ N K H O A – S Ơ S IN H
File đính kèm:
nhan_xet_thuc_trang_mo_lay_thai_tai_benh_vien_phu_san_trung.pdf

