Nhận xét sự thay đổi đường máu và phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh

Đặt vấn đề: Sự thay đổi đường máu và phương thức điều trị kiểm

soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ có chỉ định điều trị

corticoid trước sinh để dự phòng hội chứng suy hô hấp sơ sinh chưa được

nghiên cứu nhiều trên thế giới và tại Việt Nam.

Mục tiêu:1- Tìm hiểu sự thay đổi giá trị đường máu ở bệnh nhân đái

tháo đường thai kỳ sau tiêm corticoid trước sinh; 2-Tìm hiểu sự thay đổi

phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở các bệnh nhân này.

Đối tượng và phương pháp: 1-Đối tượng: 50 bệnh nhân đái tháo đường

thai kỳ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh. 2-Phương pháp: mô tả tiến

cứu theo dõi dọc.

Kết quả: 1-Sự thay đổi đường máu sau tiêm corticoid trước sinh trong

vòng 7 ngày theo dõi: tỷ lệ bệnh nhân có các giá trị glucose máu không

đạt mục tiêu: glucose máu trước ăn > 5,3 mmol/l tăng cao ở trên 80% thai

phụ ở ngày 2 và ngày 3 và tiếp tục tăng ở trên 45% số thai phụ đến ngày

thứ 7, glucose máu sau ăn 2 giờ > 6,7 mmol/l ở 77,4% đến 82,2% số thai

phụ ở ngày 1 đến ngày 3 và tiếp tục tăng ở mức trên 51% thai phụ ở ngày

thứ 4 đến ngày thứ 7 ; mức dao động glucose máu là 0.75 – 1.79 mmol/l;

tỷ lệ hạ glucose máu 0.74%; 2- Sau tiêm corticoid số BN phải tiêm insulin

tăng cao, 52% BN phải tăng ít nhất gấp 2 lần liều insulin so với trước tiêm

corticoid, liều insulin tăng cao nhất vào ngày thứ 3; có mối tương quan

tuyến tính giữa tổng liều insulin và giá trị HbA1c khi nhập viện.

Kết luận: 1-Các bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ sau tiêm corticoid

trước sinh sẽ có sự gia tăng glucose máu cả trước và sau ăn, đặc biệt

ngày thứ 2, 3 và giảm dần cho đến ngày thứ 7 sau dùng corticoid với mức

dao động đường máu từ 0.75 – 1.79mmol/l; 2- Hầu hết các bệnh nhân bị

đái tháo đường thai kỳ sau tiêm corticoid trước sinh đều cần điều trị insulin

hoặc tăng ít nhất gấp đôi liều insulin đã cho để kiểm soát glucose máu,

các bệnh nhân có HbA1c khi nhập viện càng cao sẽ có tổng liều tiêm

insulin trong 1 ngày càng cao.

pdf 7 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét sự thay đổi đường máu và phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét sự thay đổi đường máu và phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh

Nhận xét sự thay đổi đường máu và phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 63 - 69, 2017
63
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Nguyễn Khoa Diệu Vân(1), Trịnh Ngọc Anh(1), Lê Thị Hồng Lê(2) 
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Bạch Mai 
NHẬN XÉT SỰ THAY ĐỔI ĐƯỜNG MÁU
VÀ PHƯƠNG THỨC ĐIỀU TRỊ KIỂM SOÁT
ĐƯỜNG MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
THAI KỲ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ CORTICOID
TRƯỚC SINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trịnh Ngọc Anh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: đái tháo đường thai 
kỳ, corticoid trước sinh.
Keywords: gestational diabetes 
mellitus, antenatal corticoid.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Sự thay đổi đường máu và phương thức điều trị kiểm 
soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ có chỉ định điều trị 
corticoid trước sinh để dự phòng hội chứng suy hô hấp sơ sinh chưa được 
nghiên cứu nhiều trên thế giới và tại Việt Nam. 
Mục tiêu:1- Tìm hiểu sự thay đổi giá trị đường máu ở bệnh nhân đái 
tháo đường thai kỳ sau tiêm corticoid trước sinh; 2-Tìm hiểu sự thay đổi 
phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở các bệnh nhân này. 
Đối tượng và phương pháp: 1-Đối tượng: 50 bệnh nhân đái tháo đường 
thai kỳ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh. 2-Phương pháp: mô tả tiến 
cứu theo dõi dọc. 
Kết quả: 1-Sự thay đổi đường máu sau tiêm corticoid trước sinh trong 
vòng 7 ngày theo dõi: tỷ lệ bệnh nhân có các giá trị glucose máu không 
đạt mục tiêu: glucose máu trước ăn > 5,3 mmol/l tăng cao ở trên 80% thai 
phụ ở ngày 2 và ngày 3 và tiếp tục tăng ở trên 45% số thai phụ đến ngày 
thứ 7, glucose máu sau ăn 2 giờ > 6,7 mmol/l ở 77,4% đến 82,2% số thai 
phụ ở ngày 1 đến ngày 3 và tiếp tục tăng ở mức trên 51% thai phụ ở ngày 
thứ 4 đến ngày thứ 7 ; mức dao động glucose máu là 0.75 – 1.79 mmol/l; 
tỷ lệ hạ glucose máu 0.74%; 2- Sau tiêm corticoid số BN phải tiêm insulin 
tăng cao, 52% BN phải tăng ít nhất gấp 2 lần liều insulin so với trước tiêm 
corticoid, liều insulin tăng cao nhất vào ngày thứ 3; có mối tương quan 
tuyến tính giữa tổng liều insulin và giá trị HbA1c khi nhập viện. 
Kết luận: 1-Các bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ sau tiêm corticoid 
trước sinh sẽ có sự gia tăng glucose máu cả trước và sau ăn, đặc biệt 
ngày thứ 2, 3 và giảm dần cho đến ngày thứ 7 sau dùng corticoid với mức 
dao động đường máu từ 0.75 – 1.79mmol/l; 2- Hầu hết các bệnh nhân bị 
đái tháo đường thai kỳ sau tiêm corticoid trước sinh đều cần điều trị insulin 
hoặc tăng ít nhất gấp đôi liều insulin đã cho để kiểm soát glucose máu, 
các bệnh nhân có HbA1c khi nhập viện càng cao sẽ có tổng liều tiêm 
insulin trong 1 ngày càng cao.
Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ, corticoid trước sinh.
NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN, TRỊNH NGỌC ANH, LÊ THỊ HỒNG LÊ
64
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) 
đang ngày càng gia tăng, tỷ lệ từ 1% đến 14% 
[1]. ĐTĐTK gây nhiều biến cố cho cả bà mẹ, 
thai nhi và trẻ sơ sinh, đặc biệt làm tăng nguy 
cơ đẻ non. Nguyên nhân tử vong hay gặp nhất 
ở trẻ đẻ non là hội chứng suy hô hấp sơ sinh do 
phổi chưa trưởng thành và bất thường trong sản 
xuất surfactant. Biện pháp dự phòng hội chứng 
suy hô hấp sơ sinh hay sử dụng nhất hiện nay là 
tiêm corticoid trước sinh cho mẹ có nguy cơ đẻ 
non. Tuy nhiên corticoid có thể làm tăng glucose 
máu và có thể ảnh hưởng tới cơ thể mẹ và thai. 
Trên thế giới hiện đã có một số nghiên cứu xoay 
quanh vấn đề thay đổi đường máu ở thai phụ 
ĐTĐ có chỉ định điều trị corticoid trước sinh tuy 
nhiên ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn 
đề này. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
đề tài này với các mục tiêu sau: 1- Tìm hiểu sự 
thay đổi giá trị đường máu ở bệnh nhân ĐTĐTK 
sau tiêm corticoid trước sinh; 2- Tìm hiểu sự thay 
đổi phương thức điều trị kiểm soát đường máu ở 
các bệnh nhân này. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 50 bệnh nhân (BN) ĐTĐTK điều trị tại 
Abstract 
INVESTIGATING ON THE CHANGES OF BLOOD GLUCOSE LEVELS AND 
METHODS OF TREATMENT IN PREGNANT WOMEN WITH GESTATIONAL 
DIABETES MELLITUS AFTER USING ANTENATAL CORTICOSTEROID THERAPY 
Background: Studies on the changes of blood glucose levels in pregnant women having gestational 
diabetes mellitus treated with antenatal corticoid to prevent neonatal respiratory distress syndrome have 
been carried out around the world. 
Study objectives: 1-To investigate clinical features and changes of glucose levels in gestational diabetes 
mellitus patients treated with antenatal corticoid, 2-To investigate on methods of treatment for this patients. 
Materials and methods: 1-Objects: 50 gestational diabetic mellitus patients admitted and treated with 
antenatal corticoid. 2-Methods: longitudinal study. 
Results: Blood glucose changes in follow up on 7 days after using antenatal corticoid: prepandial 
capillary blood glucose was greater than 5,3mmol/l in over 80% of patients on days 2 and 3 and remained 
elevated in over 45% on day 7, two hour post-prandial capillary blood glucose was greater than 6.7mmol/l 
in 77.4% - 82,2% on days 1 - 3 and in over 51% patients on day 4-7; the mean glucose variability levels 
were 0.75-1.79 mmol/l; the incidence of hypoglycemic episode was 0.74%. 2- After corticoid injectión, the 
number of patients treated with insulin increased, in whom treated with insulin before corticoid therapy, 
52% of them was doubled in the insulin dose, the highest demand for insulin increasing in the third day 
after injection; there was a positive correlation between total insulin dose and HbA1c level on admission. 
Conclusions: 1-Women with gestational diabetes mellitus after using antenatal corticoid would increase 
their blood glucose levels, especially on day 2, 3 and decrease gradually until day 7 with the mean glucose 
variability was 0.75 – 1.79 mmol/l; 2- Almost patients with gestational diabetes after antenatal corticoid 
therapy needed insulin or doubled the dose to control blood glucose level, there was a positive correlation 
between the total insulin dose and HbA1c level on admission.
Keywords: gestational diabetes mellitus, antenatal corticoid.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 63 - 69, 2017
65
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
khoa Nội tiết - Đái tháo đường Bệnh viện Bạch Mai 
từ tháng 11/2013 đến tháng 11/2014 có đủ các 
tiêu chuẩn sau:
- Được chẩn đoán ĐTĐTK theo tiêu chuẩn của 
ADA 2013 [1].
- Có chỉ định tiêm corticoid trước sinh bởi bác 
sỹ Sản khoa 
- BN không bị đái tháo đường từ trước khi có thai
- BN không bị nhiễm trùng hệ thống nặng
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu can 
thiệp không nhóm chứng 
Cỡ mẫu: lấy mẫu thuận tiện
Phương pháp tiến hành
Số liệu được thu thập theo sơ đồ nghiên cứu với 
mẫu bệnh án thống nhất
Các BN tham gia nghiên cứu được khám, điều 
trị theo một sơ đồ chung bao gồm:
* Bước 1: BN nhập viện được khám lâm sàng, 
làm xét nghiệm, thử glucose máu mao mạch 
(GMMM) bằng máy, can thiệp bằng chế độ ăn 
và/hoặc insulin để kiểm soát GMMM.
* Bước 2: Khi đường máu ổn định các BN được 
tiêm corticoid trước sinh theo chỉ định sản khoa. BN 
được theo dõi sau khi tiêm corticoid về lâm sàng, 
GMMM 6 lần/ngày tại các thời điểm trước ăn và 
sau ăn 2 giờ.
* Bước 3: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận 
lâm sàng và sự thay đổi GMMM sau tiêm corticoid 
trong vòng 7 ngày.
- Tỷ lệ BN có các giá trị glucose máu trước ăn 
và sau ăn 2 giờ không đạt mục tiêu
- Giá trị glucose máu TB trước ăn và sau ăn 2 
giờ giữa các ngày.
- Tính mức dao động glucose máu trước ăn và 
sau ăn 2 giờ.
- Tỷ lệ hạ glucose máu là số lần GMMM < 
3.9mmol/l trên tổng số lần thử.
* Bước 4: Nhận xét sự thay đổi phương thức 
điều trị để kiểm soát đường máu trên các BN sau 
tiêm corticoid trước sinh trong vòng 7 ngày
- Số BN điều trị insulin trước tiêm và sau khi 
tiêm corticoid 
- So sánh tổng lượng insulin trung bình giữa 
các ngày 
- Tính liều insulin trên một kg cân nặng trong 
một ngày 
- Tính mức tăng liều insulin đối với những BN 
điều trị insulin
- Tìm mối liên quan của các yếu tố BMI, HbA1c, 
tuổi bệnh nhân, tuần thai lúc nhập viện, số lần 
mang thai, tiền sử gia đình ĐTĐ thế hệ 1 với tổng 
liều insulin trung bình. 
Phương pháp xử lý số liệu: theo chương trình 
toán thống kê SPSS 22.0
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 
3.1.1. Tuổi
Các thai phụ có tuổi trung bình là 34,2 ± 5,3 
(tuổi). Tuổi thấp nhất là 25 tuổi, tuổi cao nhất là 47 
tuổi. Độ tuổi hay gặp nhất là trên 35 tuổi (50%).
3.1.2. Chỉ số khối (Body Mass Index-BMI) 
trước khi mang thai của nhóm nghiên cứu
BMI trung bình trước khi mang thai của nghiên 
cứu là 22,02 ± 2,37 (kg/m²). BMI thấp nhất là 
18,66 kg/m², BMI cao nhất là 28,04 kg/m². Tỷ 
lệ thừa cân và béo phì (BMI ≥ 23 kg/m²) là 30%. 
Không có thai phụ nào nhẹ cân (BMI < 18,5 kg/
m²) trong nghiên cứu.
3.1.3. HbA1c quý 3 thai kỳ
HbA1c trung bình của nhóm nghiên cứu là 5,84 
± 0,98%. Giá trị HbA1c thấp nhất là 4,5%, giá 
trị HbA1c cao nhất là 10,4%. Tỷ lệ HbA1c ≥ 6% 
chiếm 36%.
3.2. Nhận xét sự thay đổi giá trị 
đường máu của bệnh nhân ĐTĐTK sau 
tiêm corticoid
Chúng tôi thu được 2038 giá trị GMMM trong 
đó có 1028 giá trị glucose lúc đói và trước ăn, 
1010 giá trị glucose sau ăn trên 50 thai phụ bị 
ĐTĐTK sau tiêm corticoid.
3.2.1. Tỷ lệ thai phụ có các giá trị glucose máu 
không đạt mục tiêu điều trị trong quá trình theo 
dõi sau tiêm corticoid 7 ngày
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau tiêm 
corticoid thì tỷ lệ GMMM trước ăn > 5,3 mmol/l 
tăng cao ở trên 80% thai phụ ở ngày thứ 2 và 
ngày thứ 3 và tiếp tục tăng ở mức trên 45% số thai 
phụ đến ngày thứ 7. Tỷ lệ GM sau ăn 2 giờ > 6,7 
mmol/l ở 77,4% đến 82,2% số thai phụ ở ngày 
thứ 1 đến ngày thứ 3 và tiếp tục tăng ở mức trên 
51% thai phụ ở ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 sau 
tiêm corticoid.
3.2.2. Glucose máu trung bình và mức dao động:
Glucose máu trung bình thời điểm đói và trước 
ăn cao nhất ở ngày 2 sau tiêm corticoid (6,9± 1,26 
mmol/l), giảm dần ở những ngày sau, ở ngày 7 là 5,5 
± 0,88 mmol/l. Glucose máu trung bình thời điểm sau 
ăn 2 giờ cao nhất ở ngày 2 sau tiêm corticoid là 8,7 
± 1,79 mmol/l, giảm dần ở những ngày sau, ngày 
7 giá trị glucose máu trung bình là 7,2 ± 0,9 mmol/l
Mức dao động glucose máu trung bình tại thời 
điểm lúc đói và trước ăn dao động trong khoảng 
0,75- 1,74 mmol/l. Mức dao động glucose máu 
trung bình ở thời điểm sau ăn 2 giờ dao động từ 
0,9 – 1,79 mmol/l.
3.2.3. Tỷ lệ hạ glucose máu
Trong 2038 giá trị GMMM thu được có 15 giá 
trị glucose máu dưới 3,9 mmol/l, chiếm tỷ lệ 0,74% 
số lần thử GMMM. Giá trị glucose máu thấp nhất 
là 2,7 mmol/l. Không có thai phụ nào bị hôn mê 
hay co giật do hạ glucose máu. 
3.3. Nhận xét sự thay đổi phương thức 
điều trị để kiểm soát glucose máu ở bệnh 
nhân ĐTĐTK sau tiêm corticoid trước sinh 
và đánh giá một số yếu tố liên quan:
3.3.1. Sự thay đổi phương thức điều trị sau khi 
tiêm corticoid
NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN, TRỊNH NGỌC ANH, LÊ THỊ HỒNG LÊ
66
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Biểu đồ 1. Tỷ lệ thai phụ có giá trị glucose máu trước ăn trên 5,3 mmol/l và giá trị glucose máu 
sau ăn 2 giờ trên 6,7 mmol/l theo dõi trong vòng 7 ngày sau khi tiêm corticoid
61,2
87,7
80,5
62,1
49,6 45,9 49,3
77,4
86,2
82,2
58,5
51,4
61,6
65,7
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
ngày 1 ngày 2 ngày 3 ngày 4 ngày 5 ngày 6 ngày 7
%
GM trước ăn>5.3mmol/l GM sau ăn 2 giờ>6.7mmol/l
Biểu đồ 2. Giá trị glucose máu trung bình các thời điểm trước ăn và sau ăn 2 giờ trong vòng 7 
ngày sau tiêm corticoid
6.1
6.9
6.4
5.8 5.5 5.3 5.5
8.3
8.7
8
7.2 6.9 7.1 7.2
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
ngày 1 ngày 2 ngày 3 ngày 4 ngày 5 ngày 6 ngày 7
gl
uc
os
e m
áu
 (m
m
ol
/l)
GM trước ăn GM sau ăn 2 giờ
Trong nhóm nghiên cứu có 29 thai phụ không 
phải điều trị insulin trước khi tiêm corticoid thì sau tiêm 
corticoid ngày 1, có 22 thai phụ trong số đó phải tiêm 
insulin, đến ngày thứ 2 thì có 28 thai phụ trong nhóm 
này phải tiêm insulin để kiểm soát glucose máu. Chỉ 
có 1 thai phụ không phải tiêm insulin cả trước và sau 
khi tiêm corticoid trong vòng 7 ngày.
* Mức tăng liều insulin: Nhóm thai phụ phải 
tiêm insulin trước khi dùng corticoid: ở ngày thứ 3 
và ngày 4 sau tiêm corticoid có đến 52% số thai 
phụ yêu cầu phải tăng liều insulin ít nhất là gấp 
đôi liều insulin trước dùng corticoid để kiểm soát 
được GMMM.
3.3.2. Liều insulin trung bình/ngày trong vòng 
7 ngày sau tiêm corticoid
Tổng lượng insulin trung bình ở ngày thứ nhất là 
11,5 ± 15,8 UI, lượng insulin tăng dần và tăng cao 
nhất vào ngày thứ 3 (22,4± 19,1UI), giảm dần vào 
những ngày sau đó, đến ngày thứ 7 lượng insulin 
trung bình là 21,5 ± 20,4 U
Liều tiêm insulin cũng khác biệt theo tuần thai:
-Ở 3 tháng giữa trong thai kỳ có 10 thai phụ, 
liều insulin trung bình là 0,27 ± 0,23 UI/kg/ngày.
-Ở 3 tháng cuối trong thai kỳ có 39 thai phụ, 
liều insulin trung bình là 0,32 ± 0,27 UI/kg/ngày.
3.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi 
phương thức điều trị của nhóm bệnh nhân
Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố BMI, 
Biểu đồ 3. Sự thay đổi phương thức điều trị sau khi tiêm corticoid
21
43
49 48 46 45 45 43
29
7
1 2 4
5 5 7
0
10
20
30
40
50
60
trước tiêm 
corticoid
ngày 1 ngày 2 ngày 3 ngày 4 ngày 5 ngày 6 ngày 7
số
 b
ện
h 
nh
ân
BN tiêm insulin BN không tiêm insulin
Biểu đồ 4. Tổng số đơn vị insulin trung bình/ ngày trong vòng 7 ngày sau tiêm corticoid
11,5
18,8
22,4 22,3 22,1 21,5 21,5
0
5
10
15
20
25
ngày 1 ngày 2 ngày 3 ngày 4 ngày 5 ngày 6 ngày 7
T
ổn
g 
lư
ợ
n
g 
in
su
lin
 tr
u
n
g 
b
ìn
h
 (U
I)
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 63 - 69, 2017
67
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
tuổi thai phụ, tuần thai lúc nhập viện với tổng liều 
insulin trung bình
Có mối tương quan tuyến tính có ý nghĩa giữa 
HbA1c và tổng lượng insulin trung bình (R=0,47). 
Mối tương quan này là tương quan đồng biến có 
nghĩa là HbA1c trong quý 3 thai kỳ của thai phụ 
tăng thì tổng lượng insulin điều trị để kiểm soát 
glucose máu cho thai phụ tăng lên.
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
của nhóm nghiên cứu
4.1.1. Tuổi 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình 
của các thai phụ tham gia nghiên cứu là 34,2 ± 
5,3, thấp nhất là 25 tuổi, cao nhất là 47 tuổi, thai 
phụ trong độ tuổi trên 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 
là 50%. So sánh với kết quả nghiên cứu của một số 
tác giả khác:
Như vậy tuổi trung bình và độ tuổi trên 35 tuổi 
trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ cao hơn 
so với kết quả của một số tác giả trong và ngoài 
nước. Có sự khác biệt này là do đối tượng nghiên 
cứu của chúng tôi là những thai phụ ĐTĐTK có chỉ 
định tiêm corticoid trước sinh, trong đó mẹ lớn tuổi 
vừa là một yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK, đồng thời 
cũng là một chỉ định tiêm corticoid trước sinh do 
tăng nguy cơ đẻ non [6]. Mặt khác, trong nghiên 
cứu của chúng tôi có một số lượng lớn (42%) thai 
phụ vô sinh, hiếm muộn lâu năm phải sử dụng các 
biện pháp hỗ trợ sinh sản và đây cũng là một chỉ 
định tiêm corticoid trước sinh.
4.1.2. Chỉ số khối cơ thể (BMI) trước khi mang 
thai của các thai phụ
Yếu tố liên quan
Tổng lượng insulin trung bình ( UI)
Hệ số tương quan r Giá trị p
BMI 0,06 0,66
HbA1c 0,47 0,001
Tuổi thai phụ - 0,04 0,75
Tuần thai lúc nhập viện 0,15 0,29
Bảng 1. Mối liên quan của BMI, HbA1c, tuổi thai phụ và tuần thai lúc nhập viện so với giá 
trị insulin trung bình
Tác giả Địa điểm, năm NC Tuổi trung bình Độ tuổi trên 35
Trần Thùy Linh [2] Việt Nam, 2008 30,78 ± 4,79 24%
Vũ Bích Nga [3] Việt Nam, 2009 32,4± 4,9 34,9%
Magenheim [4] Hungary, 1993 31,0 ± 4,2
Mark B. Landon [5] Hoa Kỳ, 2007 29,2 ± 5,7
Chúng tôi Việt Nam, 2014 34,2 ± 5,3 50%
Béo phì trước khi mang thai là một trong những 
yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐTK. Kết quả của chúng 
tôi tỷ lệ thừa cân và béo phì (BMI ≥ 23 kg/m²) chiếm 
tỷ lệ 30%. BMI trung bình của nhóm nghiên cứu là 
22,02 ± 2,37 kg/m². So sánh với các nghiên cứu 
của các tác giả nước ngoài: BMI trung bình trong 
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với BMI 
trung bình trong các nghiên cứu tại châu Âu như 
nghiên cứu tại Hoa Kỳ của tác giả Mark B. Landon 
[5] là 30,1 ± 5 kg/m², và tác giả Magenheim R tại 
Hungary là 24,5 ± 4,9 kg/m². Có sự khác nhau 
này có thể là do tại các nước phát triển tỷ lệ béo 
phì chung trong dân cư cao hơn tại Việt Nam.
4.1.3. Giá trị HbA1c trong quý 3 của thai kỳ
HbA1c tăng cao trong quý 3 của thai kỳ tức 
nồng độ glucose ở máu mẹ trong 3 tháng cuối cao 
do đó sẽ có nguy cơ gây thai to và làm tăng nguy 
cơ béo phì cũng như nguy cơ trở thành đái tháo 
đường sau sinh của mẹ.Theo khuyến cáo của Hiệp 
Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ [2], những thai phụ 
ĐTĐTK có HbA1c lớn hơn 6% được coi là không 
đạt mục tiêu điều trị, trong nghiên cứu của chúng 
tôi có đến 36% thai phụ ĐTĐTK lớn hơn 6%. Đặc 
biệt trong nghiên cứu có 1 thai phụ có HbA1c là 
10,4%, đây là thai phụ ĐTĐTK thai 25 tuần, được 
chẩn đoán ĐTĐ rất muộn mặc dù thai phụ này có 
bố mẹ đều bị ĐTĐ và đã phát hiện đường niệu lúc 
thai 12 tuần, nhưng không đi khám chuyên khoa 
Nội tiết để được chẩn đoán ĐTĐTK. Tại thời điểm 
khi có biểu hiện thiểu ối và ra máu âm đạo thì thai 
phụ mới được phát hiện ĐTĐTK, sau đó thai phụ đã 
nhập viện được chỉ định tiêm corticoid trước sinh 
và phải sử dụng insulin với liều trung bình là 1UI/
kg cân nặng/ ngày thì mới kiểm soát được glucose 
máu. Sau khi kiểm soát được glucose máu chỉ số ối 
cũng tăng lên và không còn ra máu âm đạo. Điều 
này càng cho thấy vai trò của việc chẩn đoán sớm 
bệnh và kiểm soát tốt glucose máu đạt mục tiêu 
điều trị sẽ giúp ngăn ngừa các biến cố của ĐTĐTK 
xảy ra cho cả mẹ và con.
4.2. Nhận xét sự thay đổi giá trị 
đường máu của bệnh nhân ĐTĐTK sau 
tiêm corticoid 
4.2.1. Tỷ lệ thai phụ có các giá trị glucose máu 
không đạt mục tiêu điều trị trong quá trình theo 
dõi sau tiêm corticoid 7 ngày
Theo khuyến cáo của Hiệp Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 
NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN, TRỊNH NGỌC ANH, LÊ THỊ HỒNG LÊ
68
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
[1], điều trị ĐTĐTK đạt mục tiêu khi GMMM trước 
ăn ≤ 5,3 mmol/l và GMMM sau ăn 2 giờ ≤ 6,7 
mmol/l. Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau tiêm 
corticoid thì tỷ lệ thai phụ có giá trị GM trước ăn > 
5,3 mmol/l tăng cao ở mức trên 80 % ở ngày thứ 
2 và ngày thứ 3 và tiếp tục ở mức trên 45% số thai 
phụ ở ngày thứ 4 đến ngày thứ 7; giá trị GMMM 
sau ăn 2 giờ > 6,7 mmol/l ở trên 82% số thai phụ 
ở ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 và tiếp tục tăng ở mức 
trên 51% thai phụ ở ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 
sau tiêm corticoid. Kết quả này của chúng tôi cũng 
tương tự so với kết quả của tác giả A. Kreiner tại 
Hoa Kỳ trên 55 thai phụ bị đái tháo đường có chỉ 
định điều trị corticoid trước sinh [7]. 
4.2.2. Glucose máu trung bình và mức dao động
Nghiên cứu của chúng tôi thu được các giá trị 
glucose máu trung bình tại các thời điểm. Glucose 
máu TB thời điểm trước ăn cao nhất ở ngày thứ 2 
và ngày thứ 3 sau tiêm corticoid, dao động trong 
khoảng là 5,3 ± 0,75 đến 6,9± 1,26 mmol/l, giảm 
dần ở những ngày sau đó. Glucose máu TB thời 
điểm sau ăn 2 giờ cũng tăng cao nhất ở ngày thứ 
2 và ngày thứ 3 sau tiêm corticoid và dao động từ 
6,9 ± 1,13 đến 8,7 ± 1,79 mmol/l và giảm dần 
ở những ngày sau đó. Rõ ràng betamethasone là 
thuốc có tác dụng kéo dài và có ảnh hưởng trên 
chuyển hóa glucid mạnh nhất ở ngày thứ 2 và ngày 
thứ 3 sau khi tiêm liều đầu tiên, và sau đó tác dụng 
của thuốc sẽ giảm dần do thuốc được chuyển hóa 
và đào thải hết ra khỏi cơ thể. Điều này cũng lý 
giải các tỷ lệ thai phụ có các giá trị GM không đạt 
mục tiêu và các giá trị GM trung bình đều tăng cao 
nhất ở ngày thứ 2 và ngày thứ 3 sau tiêm corticoid, 
và giảm dần ở những ngày sau đó. Qua kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức dao động 
glucose máu tại các thời điểm là không nhiều. Mức 
dao động GM ở đây chính là trung bình chênh của 
các giá trị GMMM thu được so với giá trị GMMM 
trung bình, hay chính là các độ lệch chuẩn (SD) của 
các giá trị GMMM trung bình giữa các ngày mà 
chúng tôi tính toán được. Sự dao động GM tăng có 
thể do tăng GM quá cao hoặc hạ GM quá thấp, đều 
sẽ ảnh hưởng không tốt đến thai phụ. Mức dao động 
glucose máu trung bình tại thời điểm dao động trong 
khoảng 0,75 đến 1,79 mmol/l.
4.2.3. Tỷ lệ hạ glucose máu
Tỷ lệ hạ glucose máu là một thông số quan 
trọng đánh giá tính an toàn khi sử dụng một phác 
đồ điều trị. Ở nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ hạ 
glucose máu là 0,74% số lần thử GMMM, giá trị 
glucose máu thấp nhất là 2,7 mmol/l. Trong các 
thai phụ bị hạ glucose máu từ nghiên cứu của 
chúng tôi, không có thai phụ nào bị hôn mê hay 
co giật do hạ glucose máu. Những kết quả trên 
cho thấy việc sử dụng các phác đồ điều trị cho các 
thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi là an toàn 
với tỷ lệ hạ glucose máu ở mức thấp < 1%, và hạ 
glucose máu nếu xảy ra cũng không gây ra hậu 
quả nặng nề cho các thai phụ.
4.3. sự thay đổi phương thức điều trị 
để kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân 
ĐTĐTK sau tiêm corticoid trước sinh và 
đánh giá một số yếu tố liên quan
4.3.1. Sự thay đổi phương thức điều trị sau khi 
tiêm corticoid trước sinh
Sau khi tiêm corticoid glucose máu của thai 
phụ tăng lên, tỷ lệ thai phụ có giá trị glucose máu 
không đạt mục tiêu chiếm tỷ lệ cao, nhất là trong 
ngày thứ 2 và ngày thứ 3 sau tiêm corticoid. Như 
vậy khi đường máu tăng lên thì chúng ta cũng phải 
thay đổi phương thức và phác đồ điều trị kèm theo 
để làm giảm glucose máu về mục tiêu điều trị nhằm 
hạn chế các biến cố cho thai phụ.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
có 29 thai phụ không phải điều trị insulin trước 
khi tiêm corticoid chiếm tỷ lệ 58%, sau khi tiêm 
corticoid thì có đến 28/29 thai phụ phải điều trị 
insulin để kiểm soát glucose máu. Chỉ có 1 thai phụ 
không phải tiêm insulin cả trước và sau khi tiêm 
corticoid trong vòng 7 ngày.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 21 thai phụ 
phải điều trị insulin trước khi tiêm corticoid chiếm 
tỷ lệ 42%. Chúng tôi tính toán mức tăng liều insulin 
của từng thai phụ trong nhóm này so với liều insulin 
của thai phụ trước khi tiêm corticoid thu được kết 
quả là ở ngày thứ 3 và ngày 4 sau tiêm corticoid có 
đến 52% số thai phụ yêu cầu phải tăng liều insulin 
ít nhất là gấp đôi so với liều insulin trước khi dùng 
corticoid; một số thậm chí còn phải tăng liều insulin 
lên gấp 17-22 lần để kiểm soát GMMM. Sự thay 
đổi phương thức điều trị sau khi tiêm corticoid trước 
sinh cũng được thể hiện rất rõ qua nghiên cứu của 
tác giả A. Kreiner tại Hoa Kỳ [7]: trong nhóm 33 
thai phụ điều trị insulin trước tiêm corticoid thì sau 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 63 - 69, 2017
69
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
tiêm có 2 thai phụ phải tăng liều insulin gấp 14 và 
22 lần liều cũ, 5 thai phụ phải tăng gấp đôi liều 
trước đó và 26 thai phụ còn lại đều phải tăng liều 
insulin so với liều trước đó với mức thấp hơn 2 lần; 
trong nhóm 19 thai phụ điều chỉnh bằng chế độ ăn 
trước tiêm thì sau tiêm có 8 thai phụ phải điều trị 
glyburide và 3 thai phụ điều trị với insulin để kiểm 
soát GM. 
4.3.2. Liều insulin trung bình/ngày trong vòng 
7 ngày sau tiêm corticoid
Điều trị insulin để nhằm kiểm soát được glucose 
máu trước ăn và sau ăn theo mục tiêu đề ra. Bởi 
vậy khi các giá trị glucose máu tăng lên thì yêu cầu 
liều lượng insulin cũng phải tăng lên theo để mong 
muốn đưa được các giá trị glucose máu về mục 
tiêu điều trị. Nghiên cứu của chúng tôi thu được 
kết quả: tổng lượng insulin trung bình tăng dần 
và tăng cao nhất vào ngày thứ 3, dao động trong 
khoảng 11,5 ± 15,8 UI/ ngày đến 22,4 ±19,1UI/ 
ngày, giảm dần đến ngày thứ 7. 
4.3.3. Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu 
tố liên quan đến sự thay đổi liều insulin giữa các 
ngày điều trị
Kết quả của chúng tôi cho thấy, có mối tương 
quan tuyến tính giữa HbA1c trong quý 3 của thai 
kỳ và tổng lượng insulin trung bình. Mối tương 
quan này là đồng biến có nghĩa là HbA1c của thai 
phụ tăng thì tổng lượng insulin điều trị để kiểm soát 
glucose máu tăng lên. HbA1c là thông số quan 
trọng giúp theo dõi và hướng dẫn điều trị thai phụ 
ĐTĐ. Giá trị HbA1c cao cũng thể hiện glucose máu 
đã tăng cao trong một thời gian dài và khó kiểm 
soát. Như vậy với những thai phụ có HbA1c cao thì 
liều insulin cũng phải tăng lên theo để mong muốn 
đạt được mục tiêu kiểm soát đường máu. Mối tương 
quan này đã được thể hiện rõ trong kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi, là mối tương quan chặt chẽ và 
có ý nghĩa với r = 0,47, p = 0,001.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu trên 50 thai phụ ĐTĐTK có 
chỉ định điều trị corticoid trước sinh theo dõi sau 7 
ngày chúng tôi nhận thấy:
- Tỷ lệ thai phụ có các giá trị glucose máu 
không đạt mục tiêu: trên 80% số thai phụ ở ngày 
thứ 2 và ngày thứ 3, giảm dần đến ngày thứ 7 sau 
tiêm corticoid.
- Giá trị glucose máu TB: GMMM trung bình 
trước ăn: 5,5 ± 0,88 đến 6,9 ± 1,26 mmol/l, 
GMMM trung bình sau ăn 2 giờ: 7,2 ± 0,9 đến 
8,7 ± 1,79 mmol/l, giảm dần đến ngày thứ 7 sau 
tiêm corticoid.
- Mức dao động glucose máu trung bình từ 0,75 
mmol/l đến 1,79 mmol/l.
- Tỷ lệ hạ glucose máu ở mức thấp là 0,74%
- Sau tiêm corticoid, số BN phải tiêm insulin 
tăng cao: 21/50 à 49/50
- Nhóm phải tiêm insulin trước tiêm corticoid: 
52% BN phải tăng ít nhất gấp 2 lần liều insulin so 
với trước tiêm corticoid, 3 BN phải tăng gấp 17, 
19, 22 lần. 
- Tổng liều insulin TB cao nhất ngày thứ 3 ( từ 
11,5 ± 15,8 UI/ngày đến 22,4 ± 19,1 UI/ngày), 
giảm dần đến ngày thứ 7 sau tiêm.
- Có mối tương quan tuyến tính giữa HbA1c và 
tổng liều insulin TB (r = 0,47, p = 0,001).
Tài liệu tham khảo
1. American Diabetes Association. Standards of medical care in diabetes. 
Diabetes Care. 2014; Vol.36, Suppl 1, January: S11-S64.
2. Trần Thùy Linh, Đặng Thị Minh Nguyệt. Thái độ xử trí sản khoa đối 
với sản phụ đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 
Tạp chí nghiên cứu y học. 2009; 74(3), 72- 78.
3. Vũ Bích Nga. Xác định ngưỡng glucose máu lúc đói để sàng lọc 
đái tháo đường thai kỳ và bước đầu đánh giá kết quả điều trị. Trường 
Đại học Y Hà Nội. Hà Nội. 2009.
4. Magenhiem R, Tabak A, Lengyel Z, Toth KS. Is previous macrosomia 
a risk factor for gestational diabetes tin the era of general screening?. 
British journal of obstetrics and gynaecology. 2007; 512 – 513.
5. Mark B. Landon MD, Catherine Y.spong MD, Elizabeth Thom Ph.D, 
et al. A multicenter, randomized trial of treatment for mild gestational 
diabetes. New England Journal of Medicine. 2009; 361, 1339-1348.
6. Dương Thị Cương. Bài giảng sản phụ khoa. tập 1. Nhà xuất bản y 
học. Hà Nội. 2007.
7. Allison Kreiner, Karen Gil, et al. The effect of antenatal corticosteroids 
on maternal serum glucose in women with diabetes. Open Journal of 
Obstetrics and Gynecology. 2012; 2, 112 – 115.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_su_thay_doi_duong_mau_va_phuong_thuc_dieu_tri_kiem.pdf