Nhận xét một số kết quả bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Mục tiêu: Mô tả một số kết quả khi bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện
Phụ Sản Trung Ương trong 2 năm 2013 - 2014.
Đối tượng nghiên cứu: Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 bệnh nhân
được phẫu thuật bóc u cơ trơn tử cung có hồ sơ bệnh án đủ tiêu chuẩn
nghiên cứu không có tiêu chuẩn loại trừ nghiên cứu lấy tất cả 691 hồ sơ
bệnh án đủ để đảm bảo độ tin cậy.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu.
Kết quả: Bệnh nhân chuyển mổ mở chiếm 6,5%, do u nằm sâu trong cơ
chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, do kích thước lớn chiếm 17,8%, do u nằm
trong dây chằng rộng chiếm 11,0% trong số bệnh nhân chuyển mổ mở.
Bệnh nhân phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, có 3 bệnh nhân chưa có con,
1 bệnh nhân có 1 con, về số lượng u có 7 bệnh nhân có ≥ 3 u, về vị trí u có 8
bệnh nhân u ở vị trí phối hợp, về kích thước u có 2 bệnh nhân có kích thước
≥ 8,0 cm. Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%, trong đó có 15
bệnh nhân chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7%, 14 bệnh nhân có 1 con chiếm tỷ
lệ 38,9%, do u nằm dưới niêm mạc chiếm 80,6%, u nằm sâu trong cơ chiếm
19,4%, kích thước u ≥ 8,0 cm chiếm tỷ lệ 33,2%. Số bệnh nhân tai biến, biến
chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%, phẫu thuật nội soi có 1 bệnh nhân tai biến
chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%, phẫu thuật mổ mở có 7 bệnh nhận tai biến chảy
máu chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 bệnh nhân tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 bệnh
nhân tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ chiếm 0,2%.
Kết luận: Bệnh nhân mổ nội soi chuyển mổ mở chiếm 6,5%, bệnh nhân
phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm
tỷ lệ 5,2%, Số bệnh nhân tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét một số kết quả bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 119 - 124, 2017 119 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 Đặng Thị Minh Nguyệt(1), Trần Thị Mai Anh(2) (1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện 105 Sơn Tây NHẬN XÉT MỘT SỐ KẾT QUẢ BÓC U CƠ TRƠN TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Đặng Thị Minh Nguyệt, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 01/03/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/03/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 28/04/2017 Từ khóa: bóc u cơ trơn tử cung. Keywords: uterine leiomyomas, myomectomy. Tóm tắt Mục tiêu: Mô tả một số kết quả khi bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương trong 2 năm 2013 - 2014. Đối tượng nghiên cứu: Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 bệnh nhân được phẫu thuật bóc u cơ trơn tử cung có hồ sơ bệnh án đủ tiêu chuẩn nghiên cứu không có tiêu chuẩn loại trừ nghiên cứu lấy tất cả 691 hồ sơ bệnh án đủ để đảm bảo độ tin cậy. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu. Kết quả: Bệnh nhân chuyển mổ mở chiếm 6,5%, do u nằm sâu trong cơ chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, do kích thước lớn chiếm 17,8%, do u nằm trong dây chằng rộng chiếm 11,0% trong số bệnh nhân chuyển mổ mở. Bệnh nhân phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, có 3 bệnh nhân chưa có con, 1 bệnh nhân có 1 con, về số lượng u có 7 bệnh nhân có ≥ 3 u, về vị trí u có 8 bệnh nhân u ở vị trí phối hợp, về kích thước u có 2 bệnh nhân có kích thước ≥ 8,0 cm. Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%, trong đó có 15 bệnh nhân chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7%, 14 bệnh nhân có 1 con chiếm tỷ lệ 38,9%, do u nằm dưới niêm mạc chiếm 80,6%, u nằm sâu trong cơ chiếm 19,4%, kích thước u ≥ 8,0 cm chiếm tỷ lệ 33,2%. Số bệnh nhân tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%, phẫu thuật nội soi có 1 bệnh nhân tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%, phẫu thuật mổ mở có 7 bệnh nhận tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 bệnh nhân tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 bệnh nhân tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ chiếm 0,2%. Kết luận: Bệnh nhân mổ nội soi chuyển mổ mở chiếm 6,5%, bệnh nhân phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%, Số bệnh nhân tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%. Từ khóa: bóc u cơ trơn tử cung. Abstract DESCRIBE THE RESULT OF MYOMECTOMY AT THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY IN 2013 - 2014 ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, TRẦN THỊ MAI ANH 120 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Objectives: Describe the result of myomectomy at the National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2013 - 2014. Study design: We performed a describe retrospective study included 691 patients who had underwent myomectomy with qualified and reliable patient records. Results: 6.5% of patients had to change from laparoscopy to laparotomic approachdue to deep location in the uterus muscle (37.8%), tumors with large size or tumors located in broad ligament accounted for 17.8% and 11.0%, respectively. Hysterectomy was performed in 1.4% of patients, 3 patients had no children, 1 patient had one child. There were 7 patients which had 3 or more tumors, 8 patients with tumors in coordinated position, 2 patients had tumors that bigger than 8 cm. Damaged endometrium occurred in 5.2% of patients which including 15 patients without children (41.7%) and 14 patients had 1 child (38.9%). Endometrium was impaired by cause of submucous leiomyomas, intramural leiomyomas, and tumor larger than 8 cm, whichaccounted for 80.6%, 19.4%, 33.2% respectively. Complications was at low rate, only about 1.4%. Bleeding happened in 1 case of laparoscopicgroup (0.4%) and 7 cases of laparotomic group (1.6%), damaged organ occurred in 1 patient, vascular lesions and incision infections happened in one another. Conclusion: laparoscopic surgery converting to laparotomic surgery occurred in 6.5% of patients, hysterectomy had proportion of 1.4%, damaged endometrium accounted for 5.2%, and surgical complication was only 1.4%. Keywords: uterine leiomyomas, myomectomy. 1. Đặt vấn đề Có nhiều phương pháp điều trị UCTTC (u cơ trơn tử cung): điều trị nội khoa như dùng progestatif, chất đồng vận GnRH, nút mạch, điều trị phẫu thuật như bóc UCTTC, phẫu thuật cắt TC (Tử cung). Nhiều tác giả đã kết luận phương pháp PT (Phẫu thuật) bóc UCTTC là phương pháp an toàn, đáng tin cậy[1],[2],[3],[4], làm giảm đáng kể các triệu chứng do UCTTC gây nên, cho phép bảo tồn TC duy trì khả năng sinh sản [5],[6], tuy nhiên BN luôn phải đối phó với nguy cơ tái phát UCTTC sau PT [3].Đối với phụ nữ bị UCTTC mong muốn duy trì khả năng sinh sản thì chỉ định bóc UCTTC là hợp lý vì vừa loại bỏ được tổn thương bệnh lý, đồng thời bảo tồn được TC để sau khi phẫu thuật người phụ nữ có thể có thai và nuôi dưỡng được thai. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng cao đó là vấn đề tâm sinh lý nên nhiều phụ nữ bị UCTTC phải PT mong muốn được PT bảo tồn và đảm bảo thẩm mỹ. Do đó chỉ định PT bóc UCTTC được mở rộng không chỉ giới hạn trong phạm vi bảo tồn chức năng sinh sản mà còn cả vấn đề tâm sinh lý để nâng cao chất lượng cuộc sống của người phụ nữ. Trước đây phẫu thuật bóc UCTTC được thực hiện qua mở bụng, nhưng từ những thập kỷ gần đây với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, PTNS (phẫu thuật nội soi) đã phát triển rất mạnh nhanh chóng được ứng dụng và áp dụng ở nhiều tuyến bệnh viện nên PT bóc UCTTC còn được thực hiện qua PTNS. PTNS đã mang lại lợi ích cho người bệnh như phục hồi sau mổ nhanh, TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 119 - 124, 2017 121 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 thời gian nằm viện ngắn hơn, giảm biến chứng nhiễm khuẩn, đảm bảo tính thẩm mỹ [4],[7],[8]. Nhưng tùy thuộc vào tính chất UCTTC, tuổi và tình trạng người bệnh mà PT bóc UCTTC được thực hiện bằng một trong hai phương pháp mở bụng hay PTNS. Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả một số kết quả bóc UCTTC tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong 2 năm 2013 - 2014 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn - Những BN (bệnh nhân) có hồ sơ bệnh án đã được chẩn đoán xác định là UCTTC được phẫu thuật bóc UCTTC và giải phẫu bệnh là UCTTC lành tính, tại BVPSTƯ từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014. - Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin nghiên cứu. 2.2. Tiêu chuẩn loại trừ - Những BN có hồ sơ bệnh án được bóc UCTTC từ nơi khác chuyển đến. - Những BN có hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin. 2.3. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả, hồi cứu. 2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu - Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:[43] Theo kết quả nghiên cứu trước đó, trong phẫu thuật UCTTC tỷ lệ phẫu thuật bóc UCTTC là 24,8% p = 0,248 1 – p = 0,752 ε: mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu với tham số quần thể ε = 0,15 Với độ tin cậy 95% tra bảng chuẩn có Z(1-α/2) = 1,96 Vậy cỡ mẫu cần nghiên cứu tối thiểu là 517 BN. Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 BN được phẫu thuật bóc UCTTC đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đủ để đảm bảo độ tin cậy. 3. Kết quả 3.1. Lý do nội soi chuyển mổ mở Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 BN được phẫu thuật bóc UCTTC có 45 BN chuyển mổ mở chiếm 6,5%. Có 17 BN do u nằm sâu trong cơ chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, 8 BN do kích thước lớn chiếm 17,8%, 5 BN do u nằm trong dây chằng rộng chiếm 11,0% trong số BN chuyển mổ mở. 3.2. Tỷ lệ bảo tồn tử cung không thành công Có 10 BN phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%. Lý do Số lượng Tỷ lệ % Dính 3 6,7 Chảy máu 2 4,4 Nhiều nhân 3 6,7 Kích thước lớn 8 17,8 Vị trí u U mặt sau 4 8,9 U ở eo tử cung 3 6,7 U nằm sâu trong cơ 17 37,8 U trong dây chằng rộng 5 11,0 Tổng 45 100 Bảng 1. Lý do nội soi chuyển mổ mở Biểu đồ 1. Tỷ lệ bảo tồn tử cung không thành công Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ % Tuổi 34 3 30 35 – 39 5 50 40 – 44 1 10 ≥ 45 1 10 Số con Chưa có con 3 30 Có 1 con 1 10 Có 2 con 5 50 ≥ 3 con 1 10 Phương pháp PT Mổ mở 10 100 Số lượng u 1 u 2 20 2 u 1 10 ≥ 3 u 7 70 Vi trí u Mặt trước, đáy 1 10 Mặt sau 1 10 Phối hợp 8 80 Kích thước u (cm) 4,0 – 6,0 4 40 6,0 – 8,0 4 40 ≥ 8,0 2 20 Tổng 10 100 Bảng 2. Đặc điểm của bệnh nhân cắt tử cung ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, TRẦN THỊ MAI ANH 122 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H 3.3. Một số đặc điểm của bệnh nhân cắt tử cung - Có 3 BN 34 tuổi. - Có 3 BN chưa có con, 1 BN có 1 con. - Về số lượng u có 7 BN có ≥ 3 u. Về vị trí u có 8 BN u ở vị trí phối hợp. Về kích thước u có 2 BN có kích thước ≥ 8,0 cm. 3.4. Tổn thương niêm mạc tử cung Trong 691 BN được phẫu thuật bóc UCTTC có 36 BN bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%. - Có 15 BN chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7%, 14 BN có 1 con chiếm tỷ lệ 38,9%. - Có 35 BN phẫu thuật mổ mở chiếm 97,2%. Có 28 BN có 1 u chiếm tỷ lệ 77,8%. - Có 29 BN do u nằm dưới niêm mạc chiếm 80,6%, 7 BN do u nằm sâu trong cơ chiếm 19,4%. Có 12 BN có kích thước u ≥ 8,0 cm chiếm tỷ lệ 33,2%. 3.5. Tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật - Số BN tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%. - Phẫu thuật nội soi có 1 BN tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%. Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ % Số con Chưa có con 15 41,7 Có 1 con 14 38,9 Có 2 con 7 19,4 Phương pháp PT Nội soi 1 2,8 Mổ mở 35 97,2 Số lượng u 1 u 28 77,8 2 u 3 8,3 ≥ 3 u 5 13,9 Vi trí u Nằm sâu trong cơ 7 19,4 Dưới niêm mạc 29 80,6 Kích thước (cm) < 4,0 2 5,6 4,0 – 6,0 11 30,6 6,0 – 8,0 11 30,6 ≥ 8,0 12 33,2 p > 0,05 Tổng 36 100 Bảng 3. Đặc điểm tổn thương niêm mạc tử cung Tai biến, biến chứng Phương pháp phẫu thuật Tổng Nội soi Mổ mở Không tai biến, biến chứng 252 (99,6%) 429 (97,9%) 681 (98,6%) Chảy máu 1 (0,4%) 7 (1,6%) 8 (1,2%) Tổn thương tạng 1 (0,2%) 1 (0,1%) Tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ thành bụng 1 (0,2%) 1 (0,1%) Tổng 253 (100%) 438 (100%) 691 (100%) Bảng 4. Tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật - Phẫu thuật mổ mở có 7 BN tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 BN tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 BN tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ chiếm 0,2%. 4. Bàn luận 4.1. Lý do nội soi chuyển mổ mở Theo Bảng 1 trong số 45 BN phẫu thuật nội soi chuyển mổ mở. Một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến quyết định lựa chọn phương pháp phẫu thuật là siêu âm nhưng siêu âm lại phụ thuộc nhiều vào trình độ và kinh nghiệm của người siêu âm. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Mai khi so sánh kích thước u trên siêu âm và kích thước u lúc phẫu thuật có sự phù hợp thấp (hệ số kappa 0,35)[8] nên phẫu thuật viên có thể chuyển từ phẫu thuật nội soi sang mổ mở nếu thấy u khó bóc để bảo đảm an toàn cho BN. Rất nhiều BN và gia đình mong muốn được mổ nội soi vì tính thẩm mỹ, vì hậu phẫu nhẹ nhàng, thời gian nằm viện ngắn hơn, thêm vào đó là khi đánh giá trước mổ có thể chưa hoàn toàn chính xác nên khi mổ đánh giá thực chất phẫu trường có nhiều khó khăn vì vậy cũng đừng quá ngần ngại chuyển sang mổ mở và điều quan trọng nhất là an toàn cho BN và nhưng điều đó cũng chứng tỏ các phẫu thuật viên đã rất cố gắng thử thách phẫu thuật nội soi để BN được hưởng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhưng không thể thực hiện được. 4.2. Tỷ lệ bảo tồn tử cung không thành công và một số đặc điểm của bệnh nhân cắt tử cung Theo Biểu đồ 1 số BN bảo tồn tử cung thành công chiếm tỷ lệ cao 98,6% ngoài ra có 10 BN phải cắt tử cung chiếm 1,4%. Tuy tỷ lệ phải cắt tử cung rất ít nhưng đây cũng là điều đáng tiếc mà các phẫu thuật viên không mong muốn. Phân tích đặc điểm của 10 BN phải cắt tử cung theo Bảng 2 cho kết quả là: cả 10 BN đều phẫu thật mổ mở không có BN nào phẫu thuật nội soi điều đó chứng tỏ 10 BN này đã được tiên lượng khó bóc u từ trước nên không có BN nào chỉ định phẫu thuật nội soi.Về số lượng u có 2 BN có 1 u, 1 BN có 2 u và 7 BN có từ 3 u trở lên. Trong nghiên cứu này có 3 BN 34 tuổi trong đó:1 BN có 2 con, có 3 u, tử cung to bằng tử cung có thai 3 tháng khi bóc u có chảy máu nhưng không phải truyền máu; 1BN có 2 con TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 119 - 124, 2017 123 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 vào viện vì rong kinh, có thiếu máu vừa, tử cung to bằng tử cung có thai 4 tháng có nhiều u; 1 BN có 1 con vào viện vì cường kinh, băng kinh, có thiếu máu nặng, tử cung to bằng tử cung có thai 3 tháng có nhiều u. Có 3 BN chưa có con Qua kết quả trên chúng ta thấy rằng những trường hợp cắt tử cung này là quyết định phù hợp, như vậy những BN này không còn khả năng bảo tồn tử cung. Nếu chúng ta cố tình bảo tồn tử cung thì nguy cơ tai biến trong cuộc mổ, nguy cơ rối loạn kinh nguyệt, tái phát u sau phẫu thuật, dính buồng tử cungnguy cơ BN phải phẫu thuật sau này thì thật là đáng tiếc. Những BN có từ 3 u trở lên, u có kích thước lớn hay u ở vị trí khó bóc như eo tử cung, mặt sau đặc biệt là những BN chưa có con thì nên chủ động phẫu thuật mổ mở và cần giải thích rõ ràng nguy cơ phải cắt tử cung cho BN và người nhà để tránh những thắc mắc sau khi phẫu thuật. 4.4. Đặc điểm tổn thương niêm mạc tử cung Theo Bảng 3 có 36 BN bị tổn thương niêm mạc tử cung chúng tôi không xét những trường hợp này vào tai biếnqua nghiên cứu thấy có 29 BN có vị trí u nằm dưới niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 80,6% và 7 BN có vị trí u nằm sâu trong cơ tử cung. Về phương pháp phẫu thuật có 35 BN phẫu thuật mổ mở chiếm tỷ lệ 97,2% chỉ có 1 BN là phẫu thuật nội soi chứng tỏ các Bác sỹ tiên lượng được khó khăn nên đã không chỉ định phẫu thuật nội soi vì phẫu thuật nội soi thường được cho là khó kiểm soát khi bóc tách hơn phẫu thuật mổ mở. Như vậy những trường hợp bị tổn thương niêm mạc tử cung phụ thuộc chủ yếu vào vị trí UCTTC so với bề dày lớp cơ tử cung. Đặc biệt trong số 36 BN bị tổn thương niêm mạc tử cung có 15 BN chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7% và 14 BN có 1 con chiếm tỷ lệ 38,9%,những trường hợp này có thể có nguy cơ biến chứng dính buồng tử cung sau nàyvà nguy cơ vỡ tử cung trong thai kỳ. Theo Buttram phẫu thuật bóc UCTTC có can thiệp vào lớp cơ tử cung do đó có thể gây ra vỡ tử cung trong thai kỳ với tỷ lệ khoảng 3,0%, nguy cơ này giảm đi khi sẹo mổ không mở vào buồng tử cung [9]. Qua đó chúng ta thấy các bác sỹ đã rất cố gắng bóc u để bảo tồn tử cung cho BN, điều quan trọng là khi phẫu thuật mà có tổn thương niêm mạc tử cung thì phải khâu phục hồi buồng tử cung thật tốt theo các lớp giải phẫu, trong và sau mổ phải dùng thuốc co hồi tử cung để cầm máu đồng thời dùng thuốc làm tăng sinh niêm mạc tử cung vừa có tác dụng chống dính buồng tử cung vừa có tác dụng hạn chế chảy máu sau mổ, cần tư vấn kỹ BN khi có thai lần sau hoặc đủ con thì nên triệt sản. 4.5. Tỷ lệ tai biến trong và sau phẫu thuật Cũng như những phẫu thuật khác phẫu thuật bóc UCTTC cũng có những tai biến như chảy máu, nhiễm trùng vết mổ, tổn thương cơ quan lân cận... Qua nghiên cứu 691 BN bóc UCTTC (Bảng 4) có 8 BN tai biến chảy máu thì 7 BN phẫu thuật mổ mở và 1 BNphẫu thuật nội soi, 1BN tổn thương tạng đây là trường hợp BN 35 tuổi, có 2 con được phẫu thuật mổ mở bị rách bàng quang do có tiền sử 2 lần mổ lấy thai bàng quang treo cao tổn thương bàng quang ngay từ thì vào ổ bụng, thời gian phẫu thuật 45 phút, BN ra viện sau phẫu thuật 7 ngày. Đặc biệt có 1 BN 17 tuổi chưa lấy chồng, được phẫu thuật mổ mở,vừa tổn thương mạch máu vừa nhiễm trùng vết mổ sau mổ trường hợp này BN có u có kích thước 20 cm, nằm trong dây chằng rộng và dính vào thành chậu nên khi phẫu thuật bóc u đã gây tổn thương tĩnh mạch chậu phải tiến hành nối ghép tĩnh mạch chậu và truyền 17 đơn vị máu, thời gian phẫu thuật 240 phút, sau mổ 7 ngày sốt nhẹ, vết mổ sưng nề ứ mủ, BN đã được điều trị kháng sinh liều cao phối hợp, chống viêm, nâng cao thể trạng, thay băng vết mổ toàn trạng ổn định ra viện sau phẫu thuật 21 ngày. Trong số 8 BN tai biến chảy máu có 6 BN do bóc nhiều u thì 5 BN chưa có con và 1 BN có 1 con, 1 BN có 1 con do u nằm sát niêm mạc, 1 BN chảy máu thành bụng phải mổ lại cầm máu thành bụng. Đặc biệt có 1BN 28 tuổi có 1 con,tiền sử 1 lần mổ lấy thai và 1 lần mổ mở bóc UCTTC, không thiếu máu trước PT, tử cung to bằng tử cung có thai 3 tháng nhiều u, mổ mở, có 1 u dưới thanh mạc kích thước 30 cm, thời gian PT 135 phút, truyền 8 đơn vị máu, sốt 4 ngày sau mổ, nằm viện sau PT 11 ngày; 1 BN 30 tuổi chưa có con, vào viện vì cường kinh, băng kinh, có thiếu máu nặng, tiền sử mổ mở bóc UCTTC, tử cung to bằng tử cung có thai 3 tháng nhiều u, mổ mở (bóc 17 u), thời gian PT 90 phút, truyền 10 đơn vị máu, thời gian nằm viện sau PT 5 ngày. Qua kết quả trên chúng ta thấy tai biến do phẫu thuật nội soi là ít hơn phẫu thuật mổ mở điều đó chứng tỏ các bác sỹ đã tiên lượng được trước những ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, TRẦN THỊ MAI ANH 124 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H trường hợp khó khăn để chỉ định phẫu thuật mổ mở. Như vậy số BN tai biến chiếm tỷ lệ rất thấp nên không có sự khác biệt nhiều giữa kết quả của nghiên cứu này với các tác giả. 5. Kết luận BN chuyển mổ mở chiếm 6,5%, BN phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, có 3 BN chưa có con, Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%. Số BN tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%, phẫu thuật nội soi có 1 BN tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%, phẫu thuật mổ mở có 7 BN tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 BN tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 BN tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ chiếm 0,2%. Tài liệu tham khảo 1. Rossetti A., Sizzi O., Soranna L., et al. Fertility outcome: long-term results after laparoscopic myomectomy, Gynecol Endocrinol. 2001;15(2), 34 - 129. 2. Rossetti A., Sizzi O., Chiarotti F., et al. Developments in techniques for laparoscopic myomectomy, Jsls. 2007;11(1), 34-40. 3. Ploszynski A., Gniadek R., Adamcio-Deptulska M., et al. Surgical treatment of uterine myoma: need for surgery and long-term results, Ginekol Pol. 1997; 68(9), 423 - 6. 4. Nguyễn Bá Mỹ Nhi. Đánh giá bước đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bóc nhân xơ tử cung. Nội san sản phụ khoa. 2005, 115 - 121. 5. Nguyễn Đức Hinh. Tổng kết chặng đường 10 năm nội soi ổ bụng của Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Nội san sản phụ khoa,Số đặc biệt hội nghị đại biểu Hội sản phụ khoa và sinh đẻ có kế hoạch Việt Nam, khóa XV kỳ họp thứ 3. 2005; 107 - 114. 6. Vũ Thị Thanh Vân. Nghiên cứu kết quả phẫu thuật tách bóc u xơ tửcung tại Viện Bảo vệ Bà Mẹ Trẻ Sơ Sinh trong 5 năm 1996 – 2000. Luận văn thạc sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2002. 7. Đinh Ngọc Thơm. Nhận xét tình hình phẫu thuật bóc u xơ tử cung tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1/2004 - tháng 6/2006, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II. Trường Đại học Y Hà Nội. 2006. 8. Nguyễn Thị Phương Mai. Tình hình bóc u xơ tử cung qua nội soi tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1 năm 2005 - tháng 6 năm 2009. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú. Trường Đại học Y Hà Nội. 2009. 9. Buttram V. C., Reiter R. C. Uterine leiomyomata: etiology, symptomatology, and management. Fertil Steril. 1981; 36(4), 433 - 45.
File đính kèm:
nhan_xet_mot_so_ket_qua_boc_u_co_tron_tu_cung_tai_benh_vien.pdf

