Nhận xét một số kết quả bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Mô tả một số kết quả khi bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện

Phụ Sản Trung Ương trong 2 năm 2013 - 2014.

Đối tượng nghiên cứu: Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 bệnh nhân

được phẫu thuật bóc u cơ trơn tử cung có hồ sơ bệnh án đủ tiêu chuẩn

nghiên cứu không có tiêu chuẩn loại trừ nghiên cứu lấy tất cả 691 hồ sơ

bệnh án đủ để đảm bảo độ tin cậy.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu.

Kết quả: Bệnh nhân chuyển mổ mở chiếm 6,5%, do u nằm sâu trong cơ

chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, do kích thước lớn chiếm 17,8%, do u nằm

trong dây chằng rộng chiếm 11,0% trong số bệnh nhân chuyển mổ mở.

Bệnh nhân phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, có 3 bệnh nhân chưa có con,

1 bệnh nhân có 1 con, về số lượng u có 7 bệnh nhân có ≥ 3 u, về vị trí u có 8

bệnh nhân u ở vị trí phối hợp, về kích thước u có 2 bệnh nhân có kích thước

≥ 8,0 cm. Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%, trong đó có 15

bệnh nhân chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7%, 14 bệnh nhân có 1 con chiếm tỷ

lệ 38,9%, do u nằm dưới niêm mạc chiếm 80,6%, u nằm sâu trong cơ chiếm

19,4%, kích thước u ≥ 8,0 cm chiếm tỷ lệ 33,2%. Số bệnh nhân tai biến, biến

chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%, phẫu thuật nội soi có 1 bệnh nhân tai biến

chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%, phẫu thuật mổ mở có 7 bệnh nhận tai biến chảy

máu chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 bệnh nhân tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 bệnh

nhân tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ chiếm 0,2%.

Kết luận: Bệnh nhân mổ nội soi chuyển mổ mở chiếm 6,5%, bệnh nhân

phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm

tỷ lệ 5,2%, Số bệnh nhân tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%.

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét một số kết quả bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét một số kết quả bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nhận xét một số kết quả bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 119 - 124, 2017
119
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Đặng Thị Minh Nguyệt(1), Trần Thị Mai Anh(2) 
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện 105 Sơn Tây
NHẬN XÉT MỘT SỐ
KẾT QUẢ BÓC U CƠ TRƠN TỬ CUNG
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đặng Thị Minh Nguyệt, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: bóc u cơ trơn tử cung.
Keywords: uterine leiomyomas, 
myomectomy.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả một số kết quả khi bóc u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện 
Phụ Sản Trung Ương trong 2 năm 2013 - 2014. 
Đối tượng nghiên cứu: Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 bệnh nhân 
được phẫu thuật bóc u cơ trơn tử cung có hồ sơ bệnh án đủ tiêu chuẩn 
nghiên cứu không có tiêu chuẩn loại trừ nghiên cứu lấy tất cả 691 hồ sơ 
bệnh án đủ để đảm bảo độ tin cậy. 
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu. 
Kết quả: Bệnh nhân chuyển mổ mở chiếm 6,5%, do u nằm sâu trong cơ 
chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, do kích thước lớn chiếm 17,8%, do u nằm 
trong dây chằng rộng chiếm 11,0% trong số bệnh nhân chuyển mổ mở. 
Bệnh nhân phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, có 3 bệnh nhân chưa có con, 
1 bệnh nhân có 1 con, về số lượng u có 7 bệnh nhân có ≥ 3 u, về vị trí u có 8 
bệnh nhân u ở vị trí phối hợp, về kích thước u có 2 bệnh nhân có kích thước 
≥ 8,0 cm. Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%, trong đó có 15 
bệnh nhân chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7%, 14 bệnh nhân có 1 con chiếm tỷ 
lệ 38,9%, do u nằm dưới niêm mạc chiếm 80,6%, u nằm sâu trong cơ chiếm 
19,4%, kích thước u ≥ 8,0 cm chiếm tỷ lệ 33,2%. Số bệnh nhân tai biến, biến 
chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%, phẫu thuật nội soi có 1 bệnh nhân tai biến 
chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%, phẫu thuật mổ mở có 7 bệnh nhận tai biến chảy 
máu chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 bệnh nhân tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 bệnh 
nhân tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ chiếm 0,2%. 
Kết luận: Bệnh nhân mổ nội soi chuyển mổ mở chiếm 6,5%, bệnh nhân 
phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%, Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm 
tỷ lệ 5,2%, Số bệnh nhân tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp là 1,4%.
Từ khóa: bóc u cơ trơn tử cung.
Abstract 
DESCRIBE THE RESULT OF MYOMECTOMY AT 
THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND 
GYNECOLOGY IN 2013 - 2014 
ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, TRẦN THỊ MAI ANH
120
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Objectives: Describe the result of myomectomy at the National Hospital of Obstetrics and 
Gynecology in 2013 - 2014. 
Study design: We performed a describe retrospective study included 691 patients who had 
underwent myomectomy with qualified and reliable patient records. 
Results: 6.5% of patients had to change from laparoscopy to laparotomic approachdue to deep 
location in the uterus muscle (37.8%), tumors with large size or tumors located in broad ligament 
accounted for 17.8% and 11.0%, respectively. Hysterectomy was performed in 1.4% of patients, 
3 patients had no children, 1 patient had one child. There were 7 patients which had 3 or more 
tumors, 8 patients with tumors in coordinated position, 2 patients had tumors that bigger than 8 cm. 
Damaged endometrium occurred in 5.2% of patients which including 15 patients without children 
(41.7%) and 14 patients had 1 child (38.9%). Endometrium was impaired by cause of submucous 
leiomyomas, intramural leiomyomas, and tumor larger than 8 cm, whichaccounted for 80.6%, 19.4%, 
33.2% respectively. Complications was at low rate, only about 1.4%. Bleeding happened in 1 case 
of laparoscopicgroup (0.4%) and 7 cases of laparotomic group (1.6%), damaged organ occurred in 
1 patient, vascular lesions and incision infections happened in one another. 
Conclusion: laparoscopic surgery converting to laparotomic surgery occurred in 6.5% of patients, 
hysterectomy had proportion of 1.4%, damaged endometrium accounted for 5.2%, and surgical 
complication was only 1.4%.
Keywords: uterine leiomyomas, myomectomy.
1. Đặt vấn đề
Có nhiều phương pháp điều trị UCTTC (u cơ trơn 
tử cung): điều trị nội khoa như dùng progestatif, 
chất đồng vận GnRH, nút mạch, điều trị phẫu 
thuật như bóc UCTTC, phẫu thuật cắt TC (Tử cung). 
Nhiều tác giả đã kết luận phương pháp PT (Phẫu 
thuật) bóc UCTTC là phương pháp an toàn, đáng 
tin cậy[1],[2],[3],[4], làm giảm đáng kể các triệu 
chứng do UCTTC gây nên, cho phép bảo tồn TC 
duy trì khả năng sinh sản [5],[6], tuy nhiên BN luôn 
phải đối phó với nguy cơ tái phát UCTTC sau PT 
[3].Đối với phụ nữ bị UCTTC mong muốn duy trì 
khả năng sinh sản thì chỉ định bóc UCTTC là hợp lý 
vì vừa loại bỏ được tổn thương bệnh lý, đồng thời 
bảo tồn được TC để sau khi phẫu thuật người phụ 
nữ có thể có thai và nuôi dưỡng được thai.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu 
nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng cao đó 
là vấn đề tâm sinh lý nên nhiều phụ nữ bị UCTTC 
phải PT mong muốn được PT bảo tồn và đảm bảo 
thẩm mỹ. Do đó chỉ định PT bóc UCTTC được mở 
rộng không chỉ giới hạn trong phạm vi bảo tồn 
chức năng sinh sản mà còn cả vấn đề tâm sinh 
lý để nâng cao chất lượng cuộc sống của người 
phụ nữ. Trước đây phẫu thuật bóc UCTTC được 
thực hiện qua mở bụng, nhưng từ những thập 
kỷ gần đây với sự phát triển của khoa học kỹ 
thuật, PTNS (phẫu thuật nội soi) đã phát triển rất 
mạnh nhanh chóng được ứng dụng và áp dụng 
ở nhiều tuyến bệnh viện nên PT bóc UCTTC còn 
được thực hiện qua PTNS. PTNS đã mang lại lợi 
ích cho người bệnh như phục hồi sau mổ nhanh, 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 119 - 124, 2017
121
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
thời gian nằm viện ngắn hơn, giảm biến chứng 
nhiễm khuẩn, đảm bảo tính thẩm mỹ [4],[7],[8]. 
Nhưng tùy thuộc vào tính chất UCTTC, tuổi và tình 
trạng người bệnh mà PT bóc UCTTC được thực 
hiện bằng một trong hai phương pháp mở bụng 
hay PTNS.
Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi tiến hành 
thực hiện đề tài nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả một 
số kết quả bóc UCTTC tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương trong 2 năm 2013 - 2014
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Những BN (bệnh nhân) có hồ sơ bệnh án đã 
được chẩn đoán xác định là UCTTC được phẫu 
thuật bóc UCTTC và giải phẫu bệnh là UCTTC lành 
tính, tại BVPSTƯ từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 
12 năm 2014.
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin nghiên cứu.
2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những BN có hồ sơ bệnh án được bóc UCTTC 
từ nơi khác chuyển đến.
- Những BN có hồ sơ bệnh án không đầy đủ 
thông tin.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, hồi cứu.
2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:[43]
Theo kết quả nghiên cứu trước đó, trong 
phẫu thuật UCTTC tỷ lệ phẫu thuật bóc UCTTC 
là 24,8% 
p = 0,248
1 – p = 0,752
ε: mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu với 
tham số quần thể
ε = 0,15
Với độ tin cậy 95% tra bảng chuẩn có Z(1-α/2) 
= 1,96
Vậy cỡ mẫu cần nghiên cứu tối thiểu là 517 BN.
Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 BN được 
phẫu thuật bóc UCTTC đủ tiêu chuẩn nghiên cứu 
đủ để đảm bảo độ tin cậy.
3. Kết quả
3.1. Lý do nội soi chuyển mổ mở
Trong 2 năm 2013 – 2014 có 691 BN được 
phẫu thuật bóc UCTTC có 45 BN chuyển mổ mở 
chiếm 6,5%. Có 17 BN do u nằm sâu trong cơ 
chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,8%, 8 BN do kích thước 
lớn chiếm 17,8%, 5 BN do u nằm trong dây chằng 
rộng chiếm 11,0% trong số BN chuyển mổ mở.
3.2. Tỷ lệ bảo tồn tử cung không 
thành công
Có 10 BN phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 1,4%.
Lý do Số lượng Tỷ lệ %
Dính 3 6,7
Chảy máu 2 4,4
Nhiều nhân 3 6,7
Kích thước lớn 8 17,8
Vị trí u
U mặt sau 4 8,9
U ở eo tử cung 3 6,7
U nằm sâu trong cơ 17 37,8
U trong dây chằng rộng 5 11,0
Tổng 45 100
Bảng 1. Lý do nội soi chuyển mổ mở
Biểu đồ 1. Tỷ lệ bảo tồn tử cung không thành công
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Tuổi
34 3 30
35 – 39 5 50
40 – 44 1 10
≥ 45 1 10
Số con
Chưa có con 3 30
Có 1 con 1 10
Có 2 con 5 50
≥ 3 con 1 10
Phương pháp PT Mổ mở 10 100
Số lượng u
1 u 2 20
2 u 1 10
≥ 3 u 7 70
Vi trí u
Mặt trước, đáy 1 10
Mặt sau 1 10
Phối hợp 8 80
Kích thước u (cm)
4,0 – 6,0 4 40
6,0 – 8,0 4 40
≥ 8,0 2 20
Tổng 10 100
Bảng 2. Đặc điểm của bệnh nhân cắt tử cung
ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, TRẦN THỊ MAI ANH
122
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
3.3. Một số đặc điểm của bệnh nhân 
cắt tử cung
- Có 3 BN 34 tuổi.
- Có 3 BN chưa có con, 1 BN có 1 con.
- Về số lượng u có 7 BN có ≥ 3 u. Về vị trí u có 
8 BN u ở vị trí phối hợp. Về kích thước u có 2 BN 
có kích thước ≥ 8,0 cm.
3.4. Tổn thương niêm mạc tử cung
Trong 691 BN được phẫu thuật bóc UCTTC có 36 
BN bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 5,2%.
- Có 15 BN chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7%, 14 
BN có 1 con chiếm tỷ lệ 38,9%.
- Có 35 BN phẫu thuật mổ mở chiếm 97,2%. 
Có 28 BN có 1 u chiếm tỷ lệ 77,8%.
- Có 29 BN do u nằm dưới niêm mạc chiếm 
80,6%, 7 BN do u nằm sâu trong cơ chiếm 19,4%. 
Có 12 BN có kích thước u ≥ 8,0 cm chiếm tỷ lệ 33,2%.
3.5. Tai biến, biến chứng trong và sau 
phẫu thuật
- Số BN tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ thấp 
là 1,4%.
- Phẫu thuật nội soi có 1 BN tai biến chảy máu 
chiếm tỷ lệ 0,4%.
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Số con
Chưa có con 15 41,7
Có 1 con 14 38,9
Có 2 con 7 19,4
Phương pháp PT
Nội soi 1 2,8
Mổ mở 35 97,2
Số lượng u
1 u 28 77,8
2 u 3 8,3
≥ 3 u 5 13,9
Vi trí u
Nằm sâu trong cơ 7 19,4
Dưới niêm mạc 29 80,6
Kích thước (cm)
< 4,0 2 5,6
4,0 – 6,0 11 30,6
6,0 – 8,0 11 30,6
≥ 8,0 12 33,2
p > 0,05
Tổng 36 100
Bảng 3. Đặc điểm tổn thương niêm mạc tử cung
Tai biến, biến chứng
Phương pháp phẫu thuật
Tổng
Nội soi Mổ mở
Không tai biến, biến chứng 252 (99,6%) 429 (97,9%) 681 (98,6%)
Chảy máu 1 (0,4%) 7 (1,6%) 8 (1,2%)
Tổn thương tạng 1 (0,2%) 1 (0,1%)
Tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ thành bụng 1 (0,2%) 1 (0,1%)
Tổng 253 (100%) 438 (100%) 691 (100%)
Bảng 4. Tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật
- Phẫu thuật mổ mở có 7 BN tai biến chảy máu 
chiếm tỷ lệ 1,6%, 1 BN tổn thương tạng chiếm 
0,2%, 1 BN tổn thương mạch máu và nhiễm trùng 
vết mổ chiếm 0,2%. 
4. Bàn luận
4.1. Lý do nội soi chuyển mổ mở
Theo Bảng 1 trong số 45 BN phẫu thuật nội soi 
chuyển mổ mở. Một trong những yếu tố ảnh hưởng 
nhiều đến quyết định lựa chọn phương pháp phẫu 
thuật là siêu âm nhưng siêu âm lại phụ thuộc nhiều 
vào trình độ và kinh nghiệm của người siêu âm. 
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Mai khi 
so sánh kích thước u trên siêu âm và kích thước u 
lúc phẫu thuật có sự phù hợp thấp (hệ số kappa 
0,35)[8] nên phẫu thuật viên có thể chuyển từ phẫu 
thuật nội soi sang mổ mở nếu thấy u khó bóc để 
bảo đảm an toàn cho BN. Rất nhiều BN và gia 
đình mong muốn được mổ nội soi vì tính thẩm mỹ, 
vì hậu phẫu nhẹ nhàng, thời gian nằm viện ngắn 
hơn, thêm vào đó là khi đánh giá trước mổ có thể 
chưa hoàn toàn chính xác nên khi mổ đánh giá 
thực chất phẫu trường có nhiều khó khăn vì vậy 
cũng đừng quá ngần ngại chuyển sang mổ mở và 
điều quan trọng nhất là an toàn cho BN và nhưng 
điều đó cũng chứng tỏ các phẫu thuật viên đã rất 
cố gắng thử thách phẫu thuật nội soi để BN được 
hưởng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhưng 
không thể thực hiện được.
4.2. Tỷ lệ bảo tồn tử cung không thành 
công và một số đặc điểm của bệnh nhân 
cắt tử cung
Theo Biểu đồ 1 số BN bảo tồn tử cung thành 
công chiếm tỷ lệ cao 98,6% ngoài ra có 10 BN 
phải cắt tử cung chiếm 1,4%. Tuy tỷ lệ phải cắt tử 
cung rất ít nhưng đây cũng là điều đáng tiếc mà 
các phẫu thuật viên không mong muốn.
Phân tích đặc điểm của 10 BN phải cắt tử cung 
theo Bảng 2 cho kết quả là: cả 10 BN đều phẫu thật 
mổ mở không có BN nào phẫu thuật nội soi điều đó 
chứng tỏ 10 BN này đã được tiên lượng khó bóc u 
từ trước nên không có BN nào chỉ định phẫu thuật 
nội soi.Về số lượng u có 2 BN có 1 u, 1 BN có 2 u 
và 7 BN có từ 3 u trở lên. Trong nghiên cứu này có 3 
BN 34 tuổi trong đó:1 BN có 2 con, có 3 u, tử cung 
to bằng tử cung có thai 3 tháng khi bóc u có chảy 
máu nhưng không phải truyền máu; 1BN có 2 con 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 119 - 124, 2017
123
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
vào viện vì rong kinh, có thiếu máu vừa, tử cung to 
bằng tử cung có thai 4 tháng có nhiều u; 1 BN có 1 
con vào viện vì cường kinh, băng kinh, có thiếu máu 
nặng, tử cung to bằng tử cung có thai 3 tháng có 
nhiều u. Có 3 BN chưa có con 
Qua kết quả trên chúng ta thấy rằng những 
trường hợp cắt tử cung này là quyết định phù hợp, 
như vậy những BN này không còn khả năng bảo 
tồn tử cung. Nếu chúng ta cố tình bảo tồn tử cung 
thì nguy cơ tai biến trong cuộc mổ, nguy cơ rối 
loạn kinh nguyệt, tái phát u sau phẫu thuật, dính 
buồng tử cungnguy cơ BN phải phẫu thuật sau này 
thì thật là đáng tiếc.
Những BN có từ 3 u trở lên, u có kích thước lớn 
hay u ở vị trí khó bóc như eo tử cung, mặt sau đặc 
biệt là những BN chưa có con thì nên chủ động 
phẫu thuật mổ mở và cần giải thích rõ ràng nguy 
cơ phải cắt tử cung cho BN và người nhà để tránh 
những thắc mắc sau khi phẫu thuật.
4.4. Đặc điểm tổn thương niêm mạc 
tử cung
Theo Bảng 3 có 36 BN bị tổn thương niêm mạc 
tử cung chúng tôi không xét những trường hợp này 
vào tai biếnqua nghiên cứu thấy có 29 BN có vị trí u 
nằm dưới niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 80,6% và 7 
BN có vị trí u nằm sâu trong cơ tử cung. Về phương 
pháp phẫu thuật có 35 BN phẫu thuật mổ mở chiếm 
tỷ lệ 97,2% chỉ có 1 BN là phẫu thuật nội soi chứng 
tỏ các Bác sỹ tiên lượng được khó khăn nên đã 
không chỉ định phẫu thuật nội soi vì phẫu thuật nội 
soi thường được cho là khó kiểm soát khi bóc tách 
hơn phẫu thuật mổ mở. Như vậy những trường hợp 
bị tổn thương niêm mạc tử cung phụ thuộc chủ yếu 
vào vị trí UCTTC so với bề dày lớp cơ tử cung. 
Đặc biệt trong số 36 BN bị tổn thương niêm mạc 
tử cung có 15 BN chưa có con chiếm tỷ lệ 41,7% và 
14 BN có 1 con chiếm tỷ lệ 38,9%,những trường 
hợp này có thể có nguy cơ biến chứng dính buồng 
tử cung sau nàyvà nguy cơ vỡ tử cung trong thai kỳ. 
Theo Buttram phẫu thuật bóc UCTTC có can thiệp 
vào lớp cơ tử cung do đó có thể gây ra vỡ tử cung 
trong thai kỳ với tỷ lệ khoảng 3,0%, nguy cơ này 
giảm đi khi sẹo mổ không mở vào buồng tử cung 
[9]. Qua đó chúng ta thấy các bác sỹ đã rất cố 
gắng bóc u để bảo tồn tử cung cho BN, điều quan 
trọng là khi phẫu thuật mà có tổn thương niêm mạc 
tử cung thì phải khâu phục hồi buồng tử cung thật 
tốt theo các lớp giải phẫu, trong và sau mổ phải 
dùng thuốc co hồi tử cung để cầm máu đồng thời 
dùng thuốc làm tăng sinh niêm mạc tử cung vừa 
có tác dụng chống dính buồng tử cung vừa có tác 
dụng hạn chế chảy máu sau mổ, cần tư vấn kỹ BN 
khi có thai lần sau hoặc đủ con thì nên triệt sản.
4.5. Tỷ lệ tai biến trong và sau phẫu thuật
Cũng như những phẫu thuật khác phẫu thuật 
bóc UCTTC cũng có những tai biến như chảy máu, 
nhiễm trùng vết mổ, tổn thương cơ quan lân cận...
Qua nghiên cứu 691 BN bóc UCTTC (Bảng 4) 
có 8 BN tai biến chảy máu thì 7 BN phẫu thuật mổ 
mở và 1 BNphẫu thuật nội soi, 1BN tổn thương tạng 
đây là trường hợp BN 35 tuổi, có 2 con được phẫu 
thuật mổ mở bị rách bàng quang do có tiền sử 2 lần 
mổ lấy thai bàng quang treo cao tổn thương bàng 
quang ngay từ thì vào ổ bụng, thời gian phẫu thuật 
45 phút, BN ra viện sau phẫu thuật 7 ngày. Đặc biệt 
có 1 BN 17 tuổi chưa lấy chồng, được phẫu thuật mổ 
mở,vừa tổn thương mạch máu vừa nhiễm trùng vết 
mổ sau mổ trường hợp này BN có u có kích thước 20 
cm, nằm trong dây chằng rộng và dính vào thành 
chậu nên khi phẫu thuật bóc u đã gây tổn thương tĩnh 
mạch chậu phải tiến hành nối ghép tĩnh mạch chậu 
và truyền 17 đơn vị máu, thời gian phẫu thuật 240 
phút, sau mổ 7 ngày sốt nhẹ, vết mổ sưng nề ứ mủ, 
BN đã được điều trị kháng sinh liều cao phối hợp, 
chống viêm, nâng cao thể trạng, thay băng vết mổ 
toàn trạng ổn định ra viện sau phẫu thuật 21 ngày. 
Trong số 8 BN tai biến chảy máu có 6 BN do bóc 
nhiều u thì 5 BN chưa có con và 1 BN có 1 con, 1 
BN có 1 con do u nằm sát niêm mạc, 1 BN chảy máu 
thành bụng phải mổ lại cầm máu thành bụng. Đặc 
biệt có 1BN 28 tuổi có 1 con,tiền sử 1 lần mổ lấy thai 
và 1 lần mổ mở bóc UCTTC, không thiếu máu trước 
PT, tử cung to bằng tử cung có thai 3 tháng nhiều u, 
mổ mở, có 1 u dưới thanh mạc kích thước 30 cm, 
thời gian PT 135 phút, truyền 8 đơn vị máu, sốt 4 
ngày sau mổ, nằm viện sau PT 11 ngày; 1 BN 30 tuổi 
chưa có con, vào viện vì cường kinh, băng kinh, có 
thiếu máu nặng, tiền sử mổ mở bóc UCTTC, tử cung 
to bằng tử cung có thai 3 tháng nhiều u, mổ mở (bóc 
17 u), thời gian PT 90 phút, truyền 10 đơn vị máu, 
thời gian nằm viện sau PT 5 ngày.
Qua kết quả trên chúng ta thấy tai biến do phẫu 
thuật nội soi là ít hơn phẫu thuật mổ mở điều đó 
chứng tỏ các bác sỹ đã tiên lượng được trước những 
ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, TRẦN THỊ MAI ANH
124
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
trường hợp khó khăn để chỉ định phẫu thuật mổ mở.
Như vậy số BN tai biến chiếm tỷ lệ rất thấp 
nên không có sự khác biệt nhiều giữa kết quả của 
nghiên cứu này với các tác giả. 
5. Kết luận
BN chuyển mổ mở chiếm 6,5%, BN phải cắt tử 
cung chiếm tỷ lệ 1,4%, có 3 BN chưa có con, 
Bị tổn thương niêm mạc tử cung chiếm tỷ lệ 
5,2%. Số BN tai biến, biến chứng chiếm tỷ lệ 
thấp là 1,4%, phẫu thuật nội soi có 1 BN tai 
biến chảy máu chiếm tỷ lệ 0,4%, phẫu thuật 
mổ mở có 7 BN tai biến chảy máu chiếm tỷ lệ 
1,6%, 1 BN tổn thương tạng chiếm 0,2%, 1 BN 
tổn thương mạch máu và nhiễm trùng vết mổ 
chiếm 0,2%. 
Tài liệu tham khảo
1. Rossetti A., Sizzi O., Soranna L., et al. Fertility outcome: long-term 
results after laparoscopic myomectomy, Gynecol Endocrinol. 2001;15(2), 
34 - 129.
2. Rossetti A., Sizzi O., Chiarotti F., et al. Developments in techniques for 
laparoscopic myomectomy, Jsls. 2007;11(1), 34-40.
3. Ploszynski A., Gniadek R., Adamcio-Deptulska M., et al. Surgical 
treatment of uterine myoma: need for surgery and long-term results, 
Ginekol Pol. 1997; 68(9), 423 - 6.
4. Nguyễn Bá Mỹ Nhi. Đánh giá bước đầu ứng dụng phẫu thuật nội 
soi trong điều trị bóc nhân xơ tử cung. Nội san sản phụ khoa. 2005, 
115 - 121.
5. Nguyễn Đức Hinh. Tổng kết chặng đường 10 năm nội soi ổ bụng 
của Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Nội san sản phụ khoa,Số đặc 
biệt hội nghị đại biểu Hội sản phụ khoa và sinh đẻ có kế hoạch Việt 
Nam, khóa XV kỳ họp thứ 3. 2005; 107 - 114.
6. Vũ Thị Thanh Vân. Nghiên cứu kết quả phẫu thuật tách bóc u xơ 
tửcung tại Viện Bảo vệ Bà Mẹ Trẻ Sơ Sinh trong 5 năm 1996 – 2000. 
Luận văn thạc sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2002.
7. Đinh Ngọc Thơm. Nhận xét tình hình phẫu thuật bóc u xơ tử cung tại 
Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1/2004 - tháng 6/2006, Luận văn 
tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II. Trường Đại học Y Hà Nội. 2006.
8. Nguyễn Thị Phương Mai. Tình hình bóc u xơ tử cung qua nội soi 
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1 năm 2005 - tháng 6 
năm 2009. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú. Trường Đại học Y Hà 
Nội. 2009.
9. Buttram V. C., Reiter R. C. Uterine leiomyomata: etiology, 
symptomatology, and management. Fertil Steril. 1981; 36(4), 433 - 45.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_mot_so_ket_qua_boc_u_co_tron_tu_cung_tai_benh_vien.pdf