Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát tại Bệnh viện Quân Y 103

Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát tại Bệnh viện Quân Y 103.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu 33 bệnh nhân chẩn đoán tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật nội soi tại khoa Phẫu thuật Lồng ngực – Tim mạch, Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 01/2013 đến tháng 6/2015.

Kết quả: Nam 31 trường hợp (93,9%), 2 trường hợp nữ (6,1%). Tuổi trung bình 30,15 ± 2,065 tuổi (thấp nhất 15, cao nhất 58 tuổi). Tràn khí màng phổi mức độ nhẹ chiếm 9,1%, chủ yếu là tràn khí mức độ vừa (39,4%) và mức độ nặng (51,5%). Phương pháp xử trí bóng khí kẹp bằng clip có khóa (54,6%), 9,1% khâu bóng khí. Phương pháp gây dính màng phổi chủ yếu là làm xước màng phổi thành vùng đỉnh kết hợp với povidone 10% (57,6%), 12 bệnh nhân (36,4%) gây dính bằng povidone, 2 bệnh nhân (6%) không gây dính màng phổi. Thời gian phẫu thuật trung bình 60,12 ± 3,17 phút. Biến chứng sau mổ: rò khí kéo dài 4 bệnh nhân (12,1 %), không có biến chứng chảy máu hay nhiễm trùng.

Kết luận: Nội soi lồng ngực là phương pháp an toàn, hiệu quả trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát lần đầu. Phẫu thuật có tỉ lệ tái phát thấp, khả năng hồi phục nhanh, thời gian điều trị ngắn

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát tại Bệnh viện Quân Y 103", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát tại Bệnh viện Quân Y 103

Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát tại Bệnh viện Quân Y 103
NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI  
 25 
NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ 
TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT NGUYÊN PHÁT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 
Nguyễn Ngọc Trung*, Nguyễn Trường Giang*, Nguyễn Văn Nam* 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm kỹ thuật trong 
phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát 
nguyên phát tại Bệnh viện Quân Y 103. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên 
cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu 33 
bệnh nhân chẩn đoán tràn khí màng phổi tự phát 
nguyên phát được điều trị bằng phương pháp phẫu 
thuật nội soi tại khoa Phẫu thuật Lồng ngực – Tim 
mạch, Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 01/2013 đến 
tháng 6/2015. 
Kết quả: Nam 31 trường hợp (93,9%), 2 trường 
hợp nữ (6,1%). Tuổi trung bình 30,15 ± 2,065 tuổi 
(thấp nhất 15, cao nhất 58 tuổi). Tràn khí màng phổi 
mức độ nhẹ chiếm 9,1%, chủ yếu là tràn khí mức độ 
vừa (39,4%) và mức độ nặng (51,5%). Phương pháp 
xử trí bóng khí kẹp bằng clip có khóa (54,6%), 9,1% 
khâu bóng khí. Phương pháp gây dính màng phổi chủ 
yếu là làm xước màng phổi thành vùng đỉnh kết hợp 
với povidone 10% (57,6%), 12 bệnh nhân (36,4%) 
gây dính bằng povidone, 2 bệnh nhân (6%) không gây 
dính màng phổi. Thời gian phẫu thuật trung bình 
60,12 ± 3,17 phút. Biến chứng sau mổ: rò khí kéo dài 
4 bệnh nhân (12,1 %), không có biến chứng chảy máu 
hay nhiễm trùng. 
Kết luận: Nội soi lồng ngực là phương pháp 
an toàn, hiệu quả trong điều trị tràn khí màng phổi 
tự phát nguyên phát lần đầu. Phẫu thuật có tỉ lệ tái 
phát thấp, khả năng hồi phục nhanh, thời gian điều 
trị ngắn. 
*Từ khóa: tràn khí màng phổi tự phát nguyên 
phát, phẫu thuật nội soi lồng ngực. 
REVIEWS SOME SPECIFICATION IN 
THORACOSCOPY OF TREATMENT OF 
PRIMARY SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX 
AT 103 MILITARY HOSPITAL 
SUMMARY 
Objective: Reviews some specification of 
thoracoscopy treatment of spontaneous pneumothorax 
primary at 103 Military Hospital. 
Objects and method: retrospective and 
prospective study of 33 patients diagnosed primary 
spontaneous pneumothorax were treated by 
thoracoscopy at cardiothoracic department of 103 
Military Hospital from 1/2013 to 6/2015. 
Results: Men 31 cases (93.9%), 2 women (6.1%). 
The average age 30.15 ± 2.065 years (15 - 58). 
Method of bullaes with locking clip (54.6%), 9.1% 
suture. Methods to create a pleural symphysis were 
brushing the pleura combined pleurodesis by 
iodopovidone (57.6%), 12 patients (36.4%) were 
pleurodesis by iodopovidone, 2 patients (6%) without 
pleurodesis. The average surgical time 60.12 ± 3.17 
minutes. Postoperative complications: 4 patients were 
air leak (12.1%), no bleeding and infections 
complications.* 
Conclusions: Thoracoscopy is safe and effective 
in the treatment of primary spontaneous 
pneumothorax with a low recurrence rates, faster 
recovery, shorter treatment time. 
*Key words: primary spontaneous pneumothorax, 
thoracoscopy. 
* Bệnh viện Quân Y 103 
Người chịu trách nhiệm khoa học: 
PGS.TS. Nguyễn Trường Giang 
- Ngày nhận bài: 10/01/2016 
- Ngày Cho Phép Đăng: 24/02/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 26 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tràn khí màng phổi là tình trạng khí tích tụ trong 
khoang màng phổi. Tràn khí màng phổi tự phát 
nguyên phát (Primary spontaneous pneumothorax) 
(TKMPTPNP) được định nghĩa là tràn khí màng phổi tự 
phát mà không có bệnh lý phổi trước đó. Tràn khí màng 
phổi tự phát nguyên phát thường nguyên nhân do vỡ các 
bóng khí ở màng phổi tạng hay các kén khí. Tỷ lệ tràn 
khí màng phổi tự phát nguyên phát là 7,4 - 18 / 100. 000 
dân/năm ở nam giới và 1,2 - 6/100. 000 dân/năm ở phụ 
nữ. Bệnh thường gặp ở nam giới có thể trạng cao, gày, 
tuổi hay gặp từ 10 - 30 tuổi.[1], [2], [3]. 
Điều trị phẫu thuật đối với tràn khí màng phổi tự 
phát nguyên phát mục tiêu là cắt bỏ các bóng khí hoặc 
khâu các lỗ rò khí ở vùng đỉnh phổi để điều trị các 
nguy cơ tiềm ẩn, mục tiêu thứ hai là tạo ra một màng 
dính ở màng phổi để ngăn ngừa tái phát. Ngày nay với 
sự phát triển của phẫu thuật nội soi lồng ngực cùng 
với những ưu điểm như xâm lấn ít, khả năng kiểm 
soát tổn thương tốt hơn, phục hồi sau mổ nhanh hơn, 
phẫu thuật nội soi ngày càng được ứng dụng rộng rãi 
hơn trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên 
phát.[2], [3]. 
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều tranh cãi trong 
việc lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật tối ưu để phát hiện và 
xử lý các bóng khí, kỹ thuật gây dính màng phổi với 
hiệu quả tốt và ít tác dụng phụ nhằm cải thiện tốt hơn kết 
quả điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát. 
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nói trên 
chúng tôi thực hiện đề tài nhằm mục tiêu: Nhận xét 
một số đặc điểm kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi 
điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát tại 
Bệnh viện Quân Y 103. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Gồm 33 bệnh nhân chẩn đoán tràn khí màng phổi 
tự phát nguyên phát được điều trị bằng phương pháp 
phẫu thuật nội soi tại khoa Phẫu thuật Lồng ngực – 
Tim mạch, Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 01/2013 
đến tháng 6/2015. 
- Tiêu chuẩn lựa chọn. 
Những bệnh nhân được chẩn đoán tràn khí màng 
phổi tự phát nguyên phát và được phẫu thuật nội soi. 
- Tiêu chuẩn loại trừ 
+ Bệnh nhân có tràn khí màng phổi do vết thương 
hoặc chấn thương ngực. 
+ Tràn khí khoang màng phổi do tai biến thở máy 
với áp lực cao, thủ thuật chọc tĩnh mạch dưới đòn, mở 
khí quản 
+ Những bệnh nhân không đồng ý tham gia 
nghiên cứu. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
- Thiết kế nghiên cứu: 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và 
tiến cứu. 
- Các chỉ tiêu nghiên cứu 
+ Lâm sàng: tuổi, giới tính, tiền sử, triệu chứng 
cơ năng 
+ Cận lâm sàng: Chụp X quang lồng ngực 
chuẩn. 
+ Chỉ tiêu phẫu thuật: 
- Qui trình phẫu thuật 
+ Chuẩn bị bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán 
xác định tràn khí màng phổi và làm đầy đủ các xét 
nghiệm về chức năng gan, thận, xét nghiệm đông máu. 
+ Vô cảm: bằng ống nội khí quản 2 nòng 
+ Tư thế bệnh nhân: tư thế nghiêng 900 về phía 
bên đối diện. 
+ Các bước phẫu thuật 
§ Bước 1: Xác định vị trí và số lượng đặt trocar. 
§ Bước 2: Quan sát, đánh giá tổn thương. 
§ Bước 3: Xử trí bóng khí. 
§ Bước 4: Làm dính màng phổi chống tái phát. 
§ Bước 5: Kết thúc phẫu thuật. Cho phổi nở, kiểm 
tra rò khí. Đặt ống dẫn lưu kích cỡ 28F qua chỗ đặt 
trocar ở đường nách giữa, đầu ống được đưa lên sát trên 
đỉnh. Ống hút được nối ngay với hệ thống dẫn lưu kín. 
2.3. Xử lý số liệu: 
Các bệnh nhân nghiên cứu được nhập và quản lý 
số liệu theo mẫu bệnh án thống nhất. Xử lý kết quả 
bằng phần mềm EPI – INFO và Epicalc. 
NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI  
 27 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Bảng 1: Đặc điểm chung 
Thông số nghiên cứu 
Số bệnh 
nhân 
Giá trị trung 
bình và tỉ lệ % 
Tuổi trung bình (năm) 33 30,15 ± 2,065 
Nam 31 93,9 Giới tính 
Nữ 2 6,1 
Đa số bệnh nhân là nam 31 trường hợp chiếm 
93,9% và 2 trường hợp nữ chiếm 6,1%. Tuổi thấp nhất 
là 15, cao nhất là 58 tuổi. Trung bình 30,15 ± 2,065 
tuổi, bệnh lý xảy ra chủ yếu ở lứa tuổi lao động. 
Bảng 2: Mức độ tràn khí trên phim chụp X 
quang lồng ngực 
Mức độ tràn khí Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Nhẹ 3/33 9,1 
Vừa 13/33 39,4 
Nặng 17/33 51,5 
Tổng 33/33 100 
Tràn khí màng phổi mức độ nhẹ chiếm 9,1%, chủ 
yếu là tràn khí mức độ vừa (39,4%) và mức độ nặng 
(51,5%). 
Bảng 3: Vị trí bên màng phổi bị tràn khí 
Vị trí bên màng phổi bị 
tràn khí 
Số bệnh 
nhân 
Tỉ lệ % 
Phổi phải 12/33 36,4 
Phổi trái 21/33 63,6 
Cả hai phổi 0/33 0 
Tổng 33/33 100 
Vị trí tràn khí màng phổi bên phải chiếm 36,4%, 
bên trái là 63,4%. 
Bảng 4: Số lượng lỗ trocar đặt trong mổ 
Số lượng lỗ trocar 
Số bệnh 
nhân 
Tỉ lệ 
Đặt 3 trocar 21 63,6% 
Đặt 2 trocar 12 36,4% 
Tổng số 33 100% 
21 bệnh nhân trong mổ được đặt 3 trocar (63,6%), 
có 12 trường hợp (36,4%) đặt 2 trocar. 
Bảng 5: Tổn thương trong mổ và cách xử trí 
Phân 
loại 
Tổn 
thương 
Số 
ca 
Tỉ lệ 
% Xử trí 
Nhóm 1 Phổi bình 
thường 
12 36,4 Làm dính 
Nhóm 2 Bóng khí 
vỡ dính 
màng phổi 
3 9,1 Gỡ dình, kẹp tổn 
thương bằng clip có 
khóa +làm dính 
Nhóm 3 Bóng khí 
<2cm 
15 45,5 Kẹp bóng khí bằng 
clip có khóa + làm 
dính 
Nhóm 4 Bóng khí 
>2cm 
3 9,1 Khâu bóng khí + 
làm dính 
Tổng 33 100 
Có 12/33 bệnh nhân (36,4%) không phát hiện tổn 
thương trong mổ, 63,5% phát hiện bóng khí ở phổi 
(9,1% bóng khí đã vỡ dính vào màng phổi). Hầu hết 
phương pháp xử trí với bóng khí là kẹp bằng clip có 
khóa (54,6%), có 9,1% khâu bóng khí. 
Bảng 6. Phương pháp gây dính màng phổi 
Phương pháp gây dính 
màng phổi 
Số bệnh 
nhân 
Tỉ lệ % 
Gây dính bằng povidone 10%. 12 36,4% 
Làm xước lá thành màng phổi 
+ povidone 10% 19 57,6% 
Không gây dính 2 6% 
Tổng số 33 100% 
Phương pháp gây dính màng phổi chủ yếu là làm 
xước màng phổi thành vùng đỉnh kết hợp với 
povidone 10% (57,6%), có 12 bệnh nhân (36,4%) chỉ 
gây dính bằng povidone, có 2 bệnh nhân (6%) không 
gây dính màng phổi. 
Bảng 7. Thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện 
Thông số nghiên 
cứu 
Ngắn 
nhất 
Dài 
nhất 
Trung 
bình 
Thời gian phẫu thuật 
(phút) 
30 90 
60,12 
±3,177 
Thời gian nằm viện 
sau mổ (ngày) 
3 19 6,76±0,605 
Thời gian nằm viện 
(ngày) 
5 22 11±0,76 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 28 
Thời gian phẫu thuật 60,12 ±3,177 phút, thời 
gian sau mổ 6,76±0,605 ngày, Thời gian nằm viện 
11±0,76 ngày. 
Bảng 8. Biến chứng sớm sau mổ 
Biến chứng sau mổ Số bệnh nhân 
Tỉ lệ 
(%) 
Rò khí kéo dài 4/33 12,1 
Tràn máu màng phổi 0/33 0 
Máu đông màng phổi 0/33 0 
Viêm mủ màng phổi 0/33 0 
Viêm phổi 0/33 0 
Biến chứng: rò khí kéo dài 4 trường hợp chiếm 
12,1 %, không có biến chứng tràn máu màng phổi, 
máu đông màng phổi, nhiễm trùng hay viêm phổi. 
4. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm chung: 
- Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy đa số 
bệnh nhân là nam có 31 trường hợp chiếm 93,9% và 2 
trường hợp nữ chiếm 6,1%. Tuổi trung bình là 30,15 
± 2,065 tuổi (thấp nhất 15, cao nhất 58 tuổi). 
Kết quả nghiên cứu cũng tương tự như một số 
nghiên cứu như của Chiu C.Y nghiên cứu trên 171 
bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát 
thấy tỉ lệ nam/nữ là 9/1. Tuy nhiên nghiên cứu của tác 
giả tuổi trung bình lại khá thấp là 17,6 ± 1,5 tuổi.[5] 
- Hình ảnh X quang lồng ngực: 
Mức độ tràn khí cũng là gợi ý cho chỉ định can 
thiệp và tiên lượng kết quả sau phẫu thuật. Nghiên 
cứu của Young Choi S nhận thấy với các bệnh nhân 
tràn khí màng phổi nặng hay các thương tổn như bóng 
khí phát hiện thấy trên phim chụp X quang ngực có 
liên rõ rệt đến tỉ lệ tái phát hay rò khí kéo dài.[8]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy tràn 
khí màng phổi mức độ nhẹ chiếm 9,1%, chủ yếu là 
tràn khí mức độ vừa (39,4%) và mức độ nặng 
(51,5%). Vị trí tràn khí màng phổi bên phải chiếm 
36,4%, bên trái là 63,4%. Như vậy hầu hết các bệnh 
nhân đều tràn khí mức độ vừa và nặng, tuy vị trí tràn 
khí bên trái nhiều hơn nhưng số bệnh nhân bị tràn khí 
bên trái cũng không có biểu hiện về thay đổi huyết 
động so với tràn khí bên phải. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi cũng nhận thấy tất cả các bệnh nhân đều 
không có tràn máu màng phổi từ vừa đến nặng kèm 
theo, một số bệnh nhân trong khi nội soi kiểm tra chỉ 
có ít dịch tiết màu hồng nhạt trong khoang màng phổi. 
4.2. Đặc điểm kỹ thuật phẫu thuật: 
- Vị trí đặt trocar: 
Về vị trí các đường để đặt trocar các tác giả đều 
thống nhất theo nguyên tắc hình “kim cương”, để đảm 
bảo thuận lợi trong quá trình thao tác các dụng cụ 
phẫu thuật. Theo nghiên cứu của Ambrogi M.C và cs 
sử dụng 3 trocar: 1 trocar 10mm ở khoang liên sườn 
VIII đường nách giữa, 1 trocar 12mm ở khoang liên 
sườn V đường nách trước dùng để đưa stapler và 1 
trocar 12mm ở liên sườn V đường nách sau lệch ra vị 
trí của mỏm xương bả vai cũng để thao tác dụng cụ 
stapler nếu cần thiết.[4] 
Tác giả Parrish S và cs cũng đặt 3 trocar, vị trí 
của mỗi trocar lại thay đổi, 1 trocar ở khoang liên 
sườn V đường nách giữa để đưa camera và 2 trocar 
khác ở vị trí liên sườn VI đường nách trước và liên 
sườn IV đường nách sau để đưa dụng cụ.[5] 
Nghiên cứu của chúng tôi có 21 bệnh nhân trong 
mổ được đặt 3 trocar (63,6%), có 12 trường hợp 
(36,4%) đặt 2 trocar. Về vị trí đặt trocar chúng tôi 
cũng đặt 1 trocar 10mm qua liên sườn VII đường nách 
giữa, vị rí này dùng để đưa camera đánh giá tổn 
thương, một trocar qua liên sườn V đường nách trước. 
Qua 2 trocar này vén phổi để kiểm tra tổn thương. 
Nếu tổn thương chỉ là các bóng khí nhỏ có thể kẹp 
ngay được thì chỉ cần sử dụng 2 lỗ trocar, và sau đó 
gây xước lá thành màng phổi vùng đỉnh để gây dính. 
Nếu tổn thương phức tạp hơn chúng tôi sẽ sử dụng 
thêm một lỗ trocar nữa qua liên sườn V đường nách 
sau để đưa thêm dụng cụ vào xử trí tổn thương cụ thể, 
trocar thứ 3 này chúng tôi thường sử dụng trocar 5mm 
để giảm thiểu sang chấn. 
- Tổn thương trong phẫu thuật và xử trí: 
Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy có 12/33 bệnh 
nhân (36,4%) không phát hiện tổn thương trong mổ, Có 
63,5% số bệnh nhân phát hiện bóng khí ở phổi trong đó 
9,1% bóng khí đã vỡ dính vào khoang màng phổi. 
Hầu hết phương pháp xử trí với bóng khí là kẹp 
bằng clip có khóa (54,6%), có 9,1% khâu bóng khí. 
Tất cả các bệnh nhân đều được gây dính màng phổi 
NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI  
 29 
bằng đốt lá thành và bơm povidone 10% vào khoang 
màng phổi. 
Tổn thương kiểm tra thấy trong mổ rất quan 
trọng, quyết định phương pháp can thiệp vào khoang 
màng phổi và vào phổi tiếp theo, tiên lượng được khả 
năng tái phát hay rò khí kép dài sau mổ. Trường hợp 
không nhìn thấy tổn thương thì chỉ cần làm xước 
màng phổi thành và bơm dung dịch povidone 10% 
kích thích tạo dính để tránh tái phát. Nếu thấy dày 
dính khoang màng phổi thì nên gỡ dính để phổi nở tốt, 
đồng thời làm xước màng phổi với mục đính như trên. 
Một số tác giả đề nghị nếu không thấy bóng khí hay 
chỉ có dính màng phổi vẫn cắt hình chêm vùng phổi nơi 
có tổn thương để ngăn ngừa tái phát, kèm theo chà xước 
màng phổi tạo dính để giảm tỉ lệ tái phát. 
Nếu có những bóng khí nhỏ (< 2cm) có thể cắt 
bóng khí bằng thòng lọng kết hợp khâu tăng cường 
hay stapler cắt bóng khí. Chúng tôi thực hiện kẹp 
bóng khí bằng clip có khóa qua phẫu thuật nội soi, 
phương pháp hiệu quả và qua theo dõi hầu như không 
có tái phát hay rò khí kéo dài với các bệnh nhân này. 
Đối với bóng khí lớn hơn 2cm hay nhiều bóng khí 
chúng tôi tiến hành khâu bóng khí qua nội soi thay 
cho kẹp bằng stapler, theo chúng tôi biện pháp này 
cũng đem lại hiệu quả, giảm chi phí phẫu thuật. 
- Phương pháp gây dính màng phổi: 
Mục đích gây dính màng phổi trong phẫu thuật 
tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát là để ngăn 
ngừa tái phát. Có nhiều nghiên cứu của các tác giả 
trên thế giới và trong nước về các phương pháp gây 
dính và kết quả của từng phương pháp. 
Theo nghiên cứu của How C.H nhận thấy trên 
1083 bệnh nhân phẫu thuật nội soi lồng ngực được 
gây dính màng phổi bằng hóa chất cả trong mổ hay 
trên các trường hợp còn rò khí sau mổ đều cho tỉ lệ tái 
phát và rò khí kéo dài sau mổ thấp.[6] 
Theo khuyến cáo của hội phẫu thuật lồng ngực 
Mỹ và hội Lồng ngực của Anh, hiện nay không nên sử 
dụng gây dính màng phổi bằng hóa chất mà chỉ nên sử 
dụng phương pháp gây dính màng phổi bằng biện 
pháp cơ học để điều trị chống tái phát đối với tràn khí 
màng phổi tự phát nguyên phát. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sử dụng phương 
pháp gây dính màng phổi chủ yếu là làm xước màng 
phổi thành vùng đỉnh kết hợp với povidone 10% có 19 
bệnh nhân (57,6%), có 12 bệnh nhân (36,4%) chỉ gây 
dính bằng povidone, có 2 bệnh nhân (6%) không gây 
dính màng phổi. Chủ yếu chúng tôi chọn làm dính 
bằng làm xước cơ học màng phổi thành kết hợp với 
povidone 10%. Theo chúng tôi nhận thấy kỹ thuật này 
dễ thực hiện, chi phí thấp đạt hiệu quả cao và ít biến 
chứng. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy một số bệnh 
nhân gây dính bằng povidone sau mổ thường có phản 
ứng sốt từ vừa đến cao khoảng 1 – 2 ngày. Điều này 
cần nghiên cứu và theo dõi đánh giá thêm. Có 2 bệnh 
nhân sau khi kiểm tra thấy không có tổn thương rõ 
ràng ở phổi chúng tôi chỉ kẹp bằng clip có khóa ở vị 
trí nghi ngờ ở vùng đỉnh phổi sau đó quyết định không 
gây dính màng phổi. 
4.3. Kết quả phẫu thuật: 
- Thời gian phẫu thuật: 
Nghiên cứu của chúng tôi thấy: thời gian phẫu thuật 
60,12 ± 3,177 phút, thời gian sau mổ 6,76 ± 0,605 ngày, 
Thời gian nằm viện 11 ± 0,76 ngày. Về biến chứng phẫu 
thuật có 4 trường hợp rò khí kéo dài chiếm 12,1 %, 
không có biến chứng tràn máu màng phổi, máu đông 
màng phổi, nhiễm trùng hay viêm phổi. 
Về số ngày nằm điều trị sau mổ trong nghiên cứu 
của chúng tôi dài hơn so với các nghiên cứu khác, một 
phần do điều kiện hậu phẫu tại cơ sở điều trị, một 
phần do có thể thời gian để dẫn lưu màng phổi dài 
hơn, tuy nhiên theo chúng tôi thời gian này so với các 
nghiên cứu khác là không quá dài và chấp nhận được. 
- Biến chứng sớm sau mổ: 
Biến chứng sớm sau phẫu thuật nội soi điều trị 
tràn khí màng phổi tự phát bao gồm: rò khí kéo dài, 
chảy máu, nhiễm trùng (phổi, màng phổi, thành ngực). 
Chủ yếu nguy cơ các biến chứng xảy ra có liên quan 
đến phương pháp xử trí trên phổi và phương pháp gây 
dính khoang màng phổi. 
Biến chứng hay gặp và cũng là điều các nghiên 
cứu quan tâm nhiều nhất là rò khí kéo dài. Cũng có 
nhiều nghiên cứu khác đề cập đến tỉ lệ rò khí nhiều 
hơn ở nhóm bệnh nhân chỉ gây dính bằng phương 
pháp làm xước lá thành. Tuy vậy một số tác giả lại 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 30 
cho rằng nguy cơ rò khí sau mổ liên quan chủ yếu đến 
việc kiểm tra và xử trí tổn thương các bóng khí ở phổi 
trong khi phẫu thuật. theo các tác giả này chủ yếu rò 
khí là do bỏ sót tổn thương các bóng khí trong mổ, ở 
đây phần lớn là do các bóng khí nằm ở các vị trí khó 
kiểm tra như nằm ở dưới lá tạng màng phổi nên không 
quan sát thấy được trong khi phẫu thuật. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 4 trường hợp 
rò khí kéo dài, các bệnh nhân này thường có nhiều 
bóng khí nhỏ rãi rác, quá trình phẫu thuật không cắt 
được toàn bộ, sau mổ các bóng khí nhỏ còn sót có thể 
vỡ ra gây rò khí. Trong 4 trường hợp rò khí sau mổ, 
có 1 trường hợp phải mở ngực nhỏ để xử lý tổn 
thương khâu lại chỗ rò, 1 trường hợp phải đặt dẫn lưu 
khoang màng phổi còn lại 2 trường hợp theo dõi hút 
dẫn lưu thêm, bệnh ổn định, hết rò khí. Ngoài ra 
không có biến chứng khác. 
5. KẾT LUẬN 
5.1. Đặc điểm lâm sàng và X quang tràn khí 
màng phổi tự phát, nguyên phát: 
- Đa số bệnh nhân là nam 31 trường hợp (93,9%) 
và 2 trường hợp nữ (6,1%). 
- Tuổi trung bình 30,15 ± 2,065 tuổi (thấp nhất 
15, cao nhất 58 tuổi). Bệnh gặp chủ yếu ở lứa tuổi lao 
động (nhóm tuổi 20 – 40 tuổi chiếm 57,6%). 
 - Trên phim X quang: tràn khí màng phổi mức 
độ nhẹ chiếm 9,1%, chủ yếu là tràn khí mức độ vừa 
(39,4%) và mức độ nặng (51,5%). 
5.2. Một số đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu 
thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi tự phát 
nguyên phát: 
- Phương pháp xử trí bóng khí: hầu hết phương 
pháp xử trí với bóng khí là kẹp bằng clip có khóa 
(54,6%), có 9,1% khâu bóng khí. 
- Phương pháp gây dính màng phổi chủ yếu là 
làm xước màng phổi thành vùng đỉnh kết hợp với 
povidone 10% (57,6%), 12 bệnh nhân (36,4%) chỉ gây 
dính bằng povidone, 2 bệnh nhân (6%) không gây 
dính màng phổi. 
- Thời gian phẫu thuật 60,12 ± 3,177 phút, thời 
gian nằm viện sau mổ 6,76 ± 0,605 ngày, Thời gian 
nằm viện 11 ± 0,76 ngày. Biến chứng: rò khí kéo dài 4 
trường hợp chiếm 12,1 %, không có biến chứng chảy 
máu hay nhiễm trùng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Đặng Ngọc Hùng (1992), "Tràn khí màng phổi tự 
phát", Bệnh học ngoại khoa, (1), Học viện quân y, 
tr. 412- 417. 
2. Hoàng Thị Quế, và cộng sự (2003), "Biến chứng 
của điều trị phòng ngừa tái phát tràn khí màng 
phổi tự phát bằng bơm talc nhũ tương qua ống dẫn 
lưu màng phổi", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 
Tập VII, Tr 96 - 101. 
3. Nguyễn Thế Vũ (2003), "Nghiên cứu đặc điểm 
lâm sàng, Xquang và chỉ định điều trị tràn khí 
màng phổi tự phát", luận văn thạc sỹ Y khoa, Đại 
học Y Hà Nội. 
4. Ambrogi MC, Zirafa CC, Davini F, Giarratana S, 
Lucchi M, Fanucchi O, Melfi F, Mussi A. (2015), 
Transcollation® technique in the thoracoscopic 
treatment of primary spontaneous pneumothorax. 
Interact Cardiovasc Thorac Surg. Apr;20(4):445-
8. 
5. Chiu CY, Chen TP, Wang CJ, Tsai MH, Wong 
KS. (2014), Factors associated with proceeding to 
surgical intervention and recurrence of primary 
spontaneous pneumothorax in adolescent patients. 
Eur J Pediatr. Nov;173(11):1483-90. 
6. How CH, Tsai TM, Kuo SW, Huang PM, Hsu 
HH, Lee JM, Chen JS, Lai HS. (2014), Chemical 
pleurodesis for prolonged postoperative air leak in 
primary spontaneous pneumothorax. J Formos 
Med Assoc. May;113(5):284-90. 
7. Parrish S, Browning RF, Turner JF Jr, 
Zarogoulidis K, Kougioumtzi I, Dryllis G, 
Kioumis I, Pitsiou G, Machairiotis N, 
Katsikogiannis N, Tsiouda T, Madesis A, 
Karaiskos T, Zarogoulidis P. (2014), The role for 
medical thoracoscopy in pneumothorax. J Thorac 
Dis. Oct; 6(Suppl 4):S383-91. 
8. Young Choi S1, Beom Park C, Wha Song S, Hwan 
Kim Y, Cheol Jeong S, Soo Kim K, Hyon Jo K. 
(2014), What factors predict recurrence after an 
initial episode of primary spontaneous 
pneumothorax in children? Ann Thorac 
Cardiovasc Surg. 2014;20(6):961-7 

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_mot_so_dac_diem_ky_thuat_trong_phau_thuat_noi_soi_d.pdf